Tái phạm
Tái phạm theo quy định tại Điều 53 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017 (BLHS) là trường hợp đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý hoặc thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do vô ý.
Tái phạm có các đặc điểm sau:
– Đã bị kết án: được xem là đã bị kết án khi người phạm tội đã bị tuyên một bản án có hiệu lực pháp luật của tòa án. Điều đó có nghĩa là người bị Tòa án xử phạt với bất cứ hình phạt chính nào (cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ…).
– Chưa được xóa án tích: việc xóa án tích được xác định theo quy định tại Điều 69, Điều 70, Điều 71 BLHS theo đó, tình tiết “chưa được xóa án tích” được xác định như sau: người bị kết án đương nhiên được xóa án tích, nếu từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc hết thời gian thử thách án treo, người đó đã chấp hành xong hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án, thực hiện hành vi phạm tội trong thời hạn sau:
- 01 năm trong trường hợp bị phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, phạt từ nhưng được hưởng án treo;
- 02 năm trong trường bị phạt tù đến 05 năm;
- 03 năm trong trường hợp bị phạt từ từ 05 đến 15 năm.
Trong trường hợp người bị kết án đang chấp hành hình phạt bổ sung là cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, tước một số quyền công dân mà thời hạn phải chấp hành dài hơn thời hạn quy định trên thì thời hạn đương nhiên được xóa án tích sẽ hết vào thời điểm người đó chấp hành xong hình phạt bổ sung.
– Thực hiện hành vi phạm tội do cố ý hoặc thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do vô ý. Trường hợp người phạm tội thực hiện tội mới là tội ít nghiêm trọng, tội nghiêm trong thì được xác định là hành vi tái phạm khi tội mới này thực hiện với lỗi cố ý, nếu thực hiện với lỗi vô ý thì không coi là tái phạm. Trường hợp người phạm tội thực hiện tội mới là tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng thì không phân biệt người phạm tội do lỗi cố ý hay vô ý, người thực hiện hành vi này đều được xác định là tái phạm.
Như vậy, khi có đủ các căn cứ trên thì người phạm tội mới có thể bị xác định là hành vi tái phạm. Ngoài ra, khi xác định hành vi tái phạm, cần chú ý những đặc điểm sau:
– Việc tái phạm chỉ được đặt ra khi hành vi phạm tội mới của họ đáp ứng dấu hiệu cấu thành tội phạm độc lập, nếu không đáp ứng đủ cấu thành tội phạm của tội mới thì hành vi của người này không bị coi là phạm tội nên không đặt ra là hành vi tái phạm.
– Tình tiết tái phạm được quy định trong Bộ luật hình sự vừa là tình tiết định tội vừa là tình tiết tăng nặng hình phạt. Khi đó, nếu tình tiết tái phạm đã là yếu tố trong cấu thành tội phạm thì không bị coi tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nữa.