Quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng

Đối với các trường hợp phạm tội thông thường, Tòa án khi quyết định hình phạt phải căn cứ theo quy định tại điều 50 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 (BLHS). Tuy nhiên, trong một số trường hợp đặc biệt Tòa án có thể quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng. Bài viết dưới đây sẽ làm rõ vấn đề này.

Điều 54 BLHS quy định vấn đề quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt áp dụng như sau:

“Điều 54. Quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng

1. Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật khi người phạm tội có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật này.

2. Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng không bắt buộc phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật đối với người phạm tội lần đầu là người giúp sức trong vụ án đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể.

3. Trong trường hợp có đủ các điều kiện quy định tại khoản 1 hoặc khoản 2 Điều này nhưng điều luật chỉ có một khung hình phạt hoặc khung hình phạt đó là khung hình phạt nhẹ nhất, thì Tòa án có thể quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn. Lý do của việc giảm nhẹ phải được ghi rõ trong bản án.”

1. Các trường hợp được áp dụng mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt

Quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng gồm 02 trường hợp:

Thứ nhất, theo khoản 1 Điều 54, Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật khi người phạm tội có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật này.

Đầu tiên là số lượng tình tiết giảm nhẹ ít nhất phải từ 2 trở lên và tình tiết đó phải là những tình tiết đã được nhà làm luật chỉ định rõ tại khoản 1 Điều 51. Vì vậy, những tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51, có ghi trong bản án cũng không được áp dụng  để quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt. Tiếp theo, hải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật. Như vậy, không thể áp dụng khung liền kề nặng hơn của Điều luật, cũng không thể nhảy cóc,không thể áp dụng khung hình phạt liền kề của khung kế tiếp.

Thứ hai, theo khoản 2 Điều 54, đối với người phạm tội lần đầu là người giúp sức trong vụ án đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể. Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng không bắt buộc phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật.

Đối tượng người giúp sức phạm tội lần đầu trong vụ án đồng phạm có mức độ gây thiệt hại cho xã hội đã ít hơn nhiều so với vai trò chủ mưu, cầm đầu, tổ chức, thực hành, thêm vào đó sự giúp sức này đóng góp không đáng kể, tức mức độ gây nguy hiểm cho xã hội đã ít lại càng ít.

Việc quy định “có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng không bắt buộc phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật” cho thấy sự nhân đạo trong chính sách của Nhà nước về xử lý người phạm tội.

Đặc biệt, khoản 3 Điều 54, các nhà làm luật đã dự tính đến trường hợp điều luật chỉ có một khung hình phạt hoặc khung hình phạt đó là khung hình phạt nhẹ nhất,  và người phạm tội có đủ các điều kiện quy định tại khoản 1 hoặc khoản 2 Điều này. Trong trường hợp đó, Tòa án có thể quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn. Lý do của việc giảm nhẹ phải được ghi rõ trong bản án.