Dịch bệnh COVID-19 có phải là sự kiện bất khả kháng hay không?

Đại dịch Covid-19 xuất hiện từ cuối năm 2019 tại thành phố Vũ Hán, tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc cho đến nay đã lây lan ra hầu hết các quốc gia trên thế giới, bao gồm cả Việt Nam đã gây ra những hậu quả vô cùng to lớn kể cả người và kinh tế. Cho đến nay, dịch Covid-19 vẫn còn đang hoành hành tại Việt Nam khiến cho nhiều chủ doanh nghiệp phải phá sản, ảnh hưởng đến việc thực hiện hợp đồng. Bài viết dưới đây phân tích liệu dịch bệnh Covid-19 có phải là sự kiện bất khả kháng để loại trừ trách nhiệm dân sự hay không.

1. Sự kiện bất khả kháng

Theo quy định tại khoản 1 Điều 156 Bộ luật dân sự 2015 (BLDS), “Sự kiện bất khả kháng là sự kiện xảy ra một cách khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép”. Do đó, sự kiện bất khả kháng dẫn đến hậu quả pháp lý là việc các bên không thực hiện được đúng nghĩa vụ của hợp đồng và trường hợp này sẽ không phải chịu trách nhiệm dân sự, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác (Điều 351 BLDS).

Như vậy, được xem là sự kiện bất khả kháng khi có đủ 03 yếu tố sau đây:

  • Sự kiện xảy ra một cách khách quan;
  • Xảy ra sự kiện không thể lường trước được; 
  • Không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép.

2. Dịch Covid-19 có phải là sự kiện bất khả kháng?

Dịch covid-19 bắt nguồn từ thành phố Vũ Hán, tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc và cho đến thời điểm hiện tại đã lan nhanh ra hầu hết các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam đã phải chịu những hậu quả nặng nề về người và thiệt hại về kinh tế là vô cùng to lớn.

Đối với dịch Covid-19, khi xem xét kỹ hơn các yếu tố pháp lý dưới đây:
  • Ngày 29/01/2020, tại Quyết định 219/QĐ-BYT, Bộ Y tế Việt Nam đã bổ sung bệnh viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của vi rút Corona gây ra (có tên gọi là Covid-19) vào danh mục các bệnh truyền nhiễm nhóm A. Theo Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm năm 2007 các bệnh truyền nhiễm nhóm A gồm những bệnh truyền nhiễm đặc biệt nguy hiểm, có khả năng lây truyền rất nhanh, phát tán rộng và tỷ lệ tử vong cao hoặc chưa rõ tác nhân gây bệnh. 
  • Ngày 01/02/2020, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 173/QĐ-TTg về việc công bố dịch viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của virut Corona gây ra là dịch truyền nhiễm tại Việt Nam, thời điểm xảy ra dịch là từ ngày 23/01/2020.
  • Ngày 11/3, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã tuyên bố dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp Covid-19 do chủng mới của virus corona (SARS-CoV-2) là một đại dịch toàn cầu.
  • Ngày 27/3/2020, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 15/CT-TTg về quyết liệt thực hiện đợt cao điểm phòng chống dịch Covid-19.
  • Ngày 31/3/2020, Thủ tướng chính phủ ban hành Chỉ thị số 16/CT-TTg về việc thực hiện các biện pháp cấp bách phòng, chống dịch Covid-19, trong đó yêu cầu thực hiện cách ly xã hội trên phạm vi toàn quốc trong thời hạn 15 ngày từ 0 giờ ngày 01/4 đến hết ngày 15/4/2020.
  • Ngày 01/4/2020, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định số 447/QĐ-TTg về việc công bố dịch Covid-19 trên toàn quốc, thời gian xảy ra dịch là từ ngày 23/01/2020.

Có thể nhận thấy, với các sự kiện này thì dịch Covid-19 chính là sự kiện bất khả kháng đối với các bên trong quan hệ hợp đồng.

Mặc dù vậy, để một sự kiện bất khả kháng là căn cứ xem xét miễn trừ trách nhiệm hợp đồng khi thỏa mãn các điều kiện:

Thứ nhất, sự kiện đó gây ảnh hưởng hoặc cản trở trực tiếp đến việc thực hiện hợp đồng của các bên, khiến cho một hoặc các bên vi phạm hợp đồng hoặc không thể thực hiện được hợp đồng. Các doanh nghiệp cần chứng minh dịch covid-19 đã gây ảnh hưởng hoặc cản trở trực tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh của mình, khiến doanh nghiệp vi phạm hoặc không thể thực hiện hợp đồng đã ký với đối tác. Những ảnh hưởng này có thể là trực tiếp (doanh nghiệp phải dừng hoạt động theo Chỉ thị số 16/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ) hoặc gián tiếp (do các doanh nghiệp cung cấp đầu vào phải dừng hoạt động nên doanh nghiệp không có nguyên liệu để sản xuất, hoặc do các đơn vị vận tải không hoạt động được nên doanh nghiệp không thể thực hiện việc giao hàng đúng hạn…). 

Thứ hai, các bên đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép nhưng không thể khắc phục được tác động của sự kiện bất khả kháng đó. Doanh nghiệp có thể viện dẫn lý do buộc phải tạm dừng các hoạt động và thực hiện cách ly xã hội theo Chỉ thị số 15/CT-TTg ngày 27/3/2020 và số 16/CT-TTg ngày 31/3/2020 của Thủ tướng Chính phủ. Ngoài ra, đối với các hợp đồng xuất nhập khẩu, doanh nghiệp xuất nhập khẩu còn có thể viện dẫn lý do phải thực hiện các lệnh cấm hoặc các biện pháp phòng chống dịch được ban bố bởi các nước liên quan. 

3. Miễn thực hiện nghĩa vụ theo Hợp đồng do ảnh hưởng của dịch Covid-19

Theo quy định tại khoản 2 Điều 351 BLDS, “trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện đúng nghĩa vụ do sự kiện bất khả kháng thì không phải chịu trách nhiệm dân sự, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác”. Theo quy định tại khoản 1 Điều 351 BLDS, trách nhiệm dân sự được hiểu là trách nhiệm phát sinh do bên có nghĩa vụ vi phạm nghĩa vụ đối với bên có quyền. 

Như vậy, đối với trường hợp doanh nghiệp vi phạm hợp đồng do bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 thì không phải chịu trách nhiệm do vi phạm hợp đồng với bên bị vi phạm (trừ trường hợp pháp luật có quy định khác hoặc các bên có thỏa thuận khác), nhưng doanh nghiệp sẽ không được miễn thực hiện nghĩa vụ hợp đồng với bên còn lại, trừ trường hợp bên có quyền chủ động miễn, giảm một phần hoặc toàn bộ các nghĩa vụ đó.