Tội mua bán người

Trong những năm gần đây, ở nước ta, hoạt động mua bán người đang diễn ra ngày càng phức tạp. Phương thức và cách thức phạm tội ngày càng tinh vi nhằm trốn tránh các cơ quan chức năng. 

1. Quy định của pháp luật về tội mua bán người

Tội mua bán người được quy định tại Điều 150 BLHS như sau:

Điều 150. Tội mua bán người

1Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, lừa gạt hoặc thủ đoạn khác thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

a) Chuyển giao hoặc tiếp nhận người để giao, nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác;

b) Chuyển giao hoặc tiếp nhận người để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác;

c) Tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp người khác để thực hiện hành vi quy định tại điểm a hoặc điểm b khoản này.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 08 năm đến 15 năm:

a) Có tổ chức;

b) Vì động cơ đê hèn;

c) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%, nếu không thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 3 Điều này;

d) Đưa nạn nhân ra khỏi biên giới của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

đ) Đối với từ 02 người đến 05 người;

e) Phạm tội 02 lần trở lên.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm:

a) Có tính chất chuyên nghiệp;

b) Đã lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân;

c) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

d) Làm nạn nhân chết hoặc tự sát;

đ) Đối với 06 người trở lên;

e) Tái phạm nguy hiểm.

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đng, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.

2. Các yếu tố cấu thành tội phạm

2.1. Khách thể của tội phạm

Tội phạm mua bán người xâm phạm nhân phẩm và danh dự, xâm phạm quyền con người được pháp luật bảo vệ. Con người bị xem như một hàng hóa được mua, bán hoặc giao dịch vì lợi nhuận hoặc các mục đích khác.

2.2. Mặt khách quan của tội phạm

Mặt khách quan của tội phạm mua bán người có các dấu hiệu như: Hành vi nguy hiểm cho xã hội, hậu quả nguy hiểm cho xã hội do hành vi đó gây ra, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả, thời gian và địa điểm, phương tiện và công cụ phạm tội.

Tội phạm mua bán người sử dụng các phương pháp và thủ đoạn tinh vi, đa dạng và ngày càng phức tạp như nhóm, các đường dây liên kết chặt chẽ, không chỉ trong khu vực mà thậm chí trên cả nước. Hành vi tuyển dụng, vận chuyển, chứa chấp và chuyển tiếp người trong các vụ buôn bán người có thể được thực hiện bởi một người nhưng cũng có thể được thực hiện bởi nhiều người. Những người thực hiện trong vai trò xúi giục, tổ chức, xúi giục hoặc giúp đỡ những người thực hiện hành vi buôn người đều là những kẻ đồng lõa với nạn buôn người.

2.3. Chủ thể của tội phạm

Chủ thể của tội phạm buôn bán người là một người cụ thể thực hiện các hành vi nguy hiểm cho xã hội một cách cố ý hoặc vô ý, một người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi hợp pháp.

2.4. Mặt chủ quan của tội phạm

Mặt chủ quan của tội phạm là lỗi, động cơ và mục đích của nó, trong đó lỗi là dấu hiệu bắt buộc của mọi tội phạm, dù là cố ý hay vô ý. Lỗi là thái độ tâm lý của người phạm tội đối với các hành vi nguy hiểm cho xã hội và hậu quả của nó. Khía cạnh chủ quan của buôn bán là lỗi cố ý. Đây là một hình thức tội phạm, vì vậy hậu quả của một tội phạm, người phạm tội có thể nhìn thấy trước hoặc không thấy trước.

  • Lỗi cố ý trực tiếp là khi người phạm tội thực hiện một hành vi giao dịch, trao đổi người khác và nhận thức được hành vi của mình và mong muốn rằng hành động đó xảy ra.
  • Lỗi cố ý gián tiếp là khi người phạm tội thực hiện hành vi giao dịch, trao đổi người khác và có ý thức để hành động đó diễn ra.

Động cơ và mục đích không phải là dấu hiệu bắt buộc của tội phạm mua bán người trái phép này.