CHẾ TÀI THƯƠNG MẠI TRONG HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI

Chế tài thương mại là gì? Những loại chế tài thương mại? Chế tài thương mại là chế tài do vi phạm hợp đồng trong thương mại, xác định những hậu quả pháp lý bất lợi của bên có hành vi vi phạm hợp đồng. Hãy cùng Luật STC tìm hiểu về các chế tài trong hoạt động thương mại trong bài viết dưới đây.

  1. Chế tài thương mại.

Chế tài trong thương mại theo pháp luật thực định của Việt Nam là chế tài do vi phạm hợp đồng trong thương mại, xác định những hậu quả pháp lý bất lợi của bên có hành vi vi phạm hợp đồng. Hành vi vi phạm hợp đồng có thể là việc không thực hiện hợp đồng, thực hiện không đầy đủ hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ theo thỏa thuận giữa các bên hoặc theo quy định của pháp luật (khoản 12 Điều 3 LTM năm 2005). Bài viết sử dụng thuật ngữ chế tài trong thương mại theo nghĩa mà LTM năm 2005 quy định là chế tài do vi phạm hợp đồng trong thương mại.

Liên hệ Luật STC để được tư vấn miễn phí
Liên hệ Luật STC để được tư vấn miễn phí
  1. Những loại chế tài thương mại:

– Những loại chế tài thương mại bao gồm:

* Thứ nhất, buộc thực hiện đúng hợp đồng: Khi một bên trong hợp đồng không thực hiện, thực hiện không đúng, không đầy đủ các nghĩa vụ hợp đồng thì bên này buộc phải thực hiện đúng hoặc dùng các biện pháp khác để hợp đồng được thực hiện. Nếu không họ sẽ phải trả tiền đền bù, bồi thường thiệt hại hay các chế tài khác. Chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng đảm bảo thực hiện trên thực tế hợp đồng để các bên đạt được lợi ích mà họ mong muốn từ việc kí kết và thực hiện hợp đồng.

– Theo quy định của LTM năm 2005, buộc thực hiện đúng hợp đồng được thực hiện theo các bước sau đây:

– Bước 1:  Khắc phục vi phạm để hợp đồng được thực hiện đúng theo thỏa thuận: Nếu bên vi phạm giao thiếu hàng hoặc cung ứng dịch vụ không đúng hợp đồng thì phải giao đủ hàng hoặc cung ứng dịch vụ theo đúng thỏa thuận trong hợp đồng.

+  Nếu bên vi phạm giao hàng hóa, cung ứng dịch vụ kém chất lượng thì phải loại trừ khuyết tật của hàng hoá, thiếu sót của dịch vụ hoặc giao hàng khác thay thế, cung ứng dịch vụ theo đúng hợp đồng. Hàng khác trong trường hợp này phải là mặt hàng đúng chủng loại với hàng đã giao và đảm bảo đúng chất lượng theo thỏa thuận.

– Bước 2 : được tiến hành trong trường hợp bước 1 không thể thực hiện được: đó là thay thế hàng hóa, dịch vụ đã thỏa thuận bằng hàng hoá, dịch vụ khác chủng loại, hay trả bằng tiền. Tuy nhiên, để thực hiện việc thay thế này nhất thiết phải được sự đồng ý của bên bị vi phạm. Bởi lẽ có thể bên bị vi phạm chỉ quan tâm đến đúng loại hàng hoá, dịch vụ đã thỏa thuận chứ không phải là các mặt hàng, dịch vụ thay thế khác hoặc tiền.

(Căn cứ điều 297 Luật thương mại 2005)

* Thứ hai, phạt vi phạm hợp đồng:

– Phạt vi phạm là việc bên có quyền lợi bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm trả một khoản tiền phạt nhất định do vi phạm hợp đồng. Ở Việt Nam, đây là chế tài tiền tệ được xây dựng nhằm hai mục đích: (i) răn đe, phòng ngừa vi phạm và giáo dục ý thức tuân thủ các cam kết đã ghi nhận trong hợp đồng; (ii) trừng phạt bên có hành vi vi phạm hợp đồng.

– Theo pháp luật Việt Nam, phạt vi phạm là việc bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm trả một khoản tiền phạt do vi phạm hợp đồng nếu trong hợp đồng có thỏa thuận (khoản 1 Điều 418 BLDS năm 2015, Điều 300 LTM năm 2005). Chế tài phạt vi phạm chỉ có thể được áp dụng nếu trong hợp đồng có thỏa thuận; nếu hợp đồng không thỏa thuận, pháp luật điều chỉnh quan hệ hợp đồng đó cũng không quy định cụ thể về phạt vi phạm thì không được áp dụng chế tài này.

+ Căn cứ để áp dụng chế tài phạt vi phạm là có hành vi vi phạm hợp đồngcó thỏa thuận của các bên.

* Thứ ba, bồi thường thiệt hại theo hợp đồng:

+  Bồi thường thiệt hại là hình thức trách nhiệm tài sản, theo đó bên vi phạm hợp đồng dẫn tới gây thiệt hại phải trả một khoản tiền bồi thường cho bên bị vi phạm nhằm khôi phục lợi ích vật chất cho bên bị vi phạm.

+ Mục đích của việc trả tiền bồi thường là để bù đắp cho bên bị vi phạm và bị thiệt hại, chứ không phải để trừng phạt bên vi phạm trong quan hệ hợp đồng.

+ Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại được coi là nghĩa vụ mới của bên vi phạm thay thế cho nghĩa vụ không được thực hiện hoặc bổ sung cho nghĩa vụ không được thực hiện đúng. Vấn đề bồi thường thiệt hại chỉ đặt ra khi bên bị vi phạm có thiệt hại thực tế. Do mang tính bù đắp nên số tiền phải bồi thường không thể vượt quá số tiền thiệt hại thực tế. Đây là nguyên tắc xác định mức bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng, từ đó hạn chế mức bồi thường không lớn hơn mức thiệt hại của bên bị vi phạm.

(Căn cứ Điều 302, 303 Luật thương mại 2005)

* Thứ tư, hủy bỏ hợp đồng:

–  Hủy bỏ hợp đồng bao gồm hủy bỏ toàn bộ hợp đồng và hủy bỏ một phần hợp đồng. Hủy bỏ toàn bộ hợp đồng là việc bãi bỏ hoàn toàn việc thực hiện tất cả các nghĩa vụ hợp đồng đối với toàn bộ hợp đồng. Hủy bỏ một phần hợp đồng là việc bãi bỏ thực hiện một phần nghĩa vụ hợp đồng, các phần còn lại trong hợp đồng vẫn còn hiệu lực (Điều 312 LTM năm 2005).

– Chế tài hủy bỏ hợp đồng được áp dụng trong các trường hợp: (i) Xảy ra hành vi vi phạm mà các bên đã thỏa thuận là điều kiện để hủy bỏ hợp đồng; hoặc (ii) Một bên vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng. Trường hợp thứ nhất, các bên phải thỏa thuận trước trong hợp đồng điều kiện để hủy bỏ hợp đồng là một hoặc một số hành vi vi phạm nhất định và chỉ khi xảy ra các hành vi vi phạm đó, bên vi phạm mới được yêu cầu hủy bỏ hợp đồng. Trong trường hợp thứ hai, không cần các bên phải thỏa thuận trước về điều kiện hủy bỏ mà chỉ cần một bên vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng.

* Thứ năm, tạm ngừng, đình chỉ thực hiện hợp đồng:

– Tạm ngừng thực hiện hợp đồng: Đây là chế tài mới quy định tại điều 308 LTM năm 2005. Tạm ngừng thực hiện hợp đồng là việc một bên tạm thời không thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng. Hợp đồng bị tạm ngừng thực hiện nhưng vẫn còn hiệu lực và hoàn toàn có thể tiếp tục thực hiện. Tuy nhiên Luật thương mại không chỉ rõ điều kiện để tiếp tục thực hiện hợp đồng.

– Chế tài tạm ngừng thực hiện hợp đồng được áp dụng khi rơi vào các trường hợp sau đây: (i) Xảy ra hành vi vi phạm mà các bên đã thỏa thuận là điều kiện để tạm ngừng thực hiện hợp đồng; hoặc (ii) Một bên vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng. Bên bị vi phạm dẫn tới việc phải tạm ngừng thực hiện hợp đồng có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.

–  Đình chỉ thực hiện hợp đồng: Đình chỉ thực hiện hợp đồng là việc một bên chấm dứt thực hiện nghĩa vụ hợp đồng thuộc một trong các trường hợp sau đây: (i) Xảy ra hành vi vi phạm mà các bên đã thỏa thuận là điều kiện để đình chỉ hợp đồng; (ii) Một bên vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng. Đình chỉ thực hiện khác tạm ngừng thực hiện ở chỗ hợp đồng không có cơ hội tiếp tục được thực hiện, hợp đồng chấm dứt từ thời điểm một bên nhận được thông báo đình chỉ. (căn cứ Điều 310 Luật thương mại 2005)

– Tạm ngừng và đình chỉ thực hiện hay hủy bỏ hợp đồng là các hành vi pháp lý đơn phương của bên bị vi phạm khi có đủ điều kiện theo pháp luật quy định. Trong trường hợp không thông báo ngay mà gây thiệt hại cho bên kia thì bên tạm ngừng thực hiện hợp đồng, đình chỉ thực hiện hợp đồng hoặc hủy bỏ hợp đồng phải bồi thường thiệt hại.

Mọi thắc mắc liên quan, mời Quý Khách liên hệ: Công ty Luật TNHH STC

Văn phòng tại Hà Nội: Tầng 5, Tòa nhà AC, Ngõ 78, Phố Duy Tân, Phường Dịch Vọng Hậu, Quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội.

Hotline: 0988873883

Email: stclawfirm.vn@gmail.com

Website: https://stclawfirm.com/

Văn phòng tại Thành phố Hồ Chí Minh: Landmark 81, Vinhomes Central Park, số 208 Nguyễn Hữu Cảnh và số 720A Điện Biên Phủ, phường 22, quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh