Bị hại có được quyền yêu cầu khởi tố vụ án?
Mọi người đều có quyền được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và tài sản. Mọi hành vi xâm phạm đến quyền được bảo hộ đều phải bị xử lý theo quy định của pháp luật. Khi một người bị xâm phạm một trong các quyền được pháp luật bảo hộ, với tư cách là bị hại, họ có quyền yêu cầu cơ quan tố tụng có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự. Tuy nhiên, không phải tất cả các vụ án đều được khởi tố theo yêu cầu của bị hại.

- Các trường hợp khởi tố theo yêu cầu của Bị hại
Theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự 2015, cơ quan tố tụng có thẩm quyền chỉ được khởi tố vụ án khi đã xác định có dấu hiệu tội phạm. Việc xác định này dựa trên các căn cứ quy định tại Điều 143 gồm: Tố giác của cá nhân; Tin báo của cơ quan, tổ chức, cá nhân; Tin báo trên phương tiện thông tin đại chúng; Kiến nghị khởi tố của cơ quan nhà nước; Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm; Người phạm tội tự thú. Như vậy, tố giác, tin báo của cá nhân, cơ quan, tổ chức chỉ là một trong những nguồn căn cứ để cơ quan tố tụng xác minh để ra quyết định khởi tố.
Đối với yêu cầu của bị hại, việc khởi tố vụ án hình sự chỉ được thực hiện đối với các tội danh theo quy định của Điều 155. Nghĩa là đối với các tội danh quy định tại điều luật này, cơ quan tố tụng có thẩm quyền phải nhận được yêu cầu của bị hại mới được khởi tố vụ án, nếu không việc khởi tố là trái pháp luật. Việc khởi tố vụ án theo quy định này nhằm tạo điều kiện cho người phạm tội có cơ hội thương lượng, hòa giải với người bị hại để chủ động khắc phục hậu quả, hạn chế các tổn thất mà không nhất thiết phải có sự can thiệp, xử lý của cơ quan pháp luật. Cụ thể Điều 155 xác định: Chỉ được khởi tố vụ án hình sự về tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155 và 156 của Bộ luật Hình sự khi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết, gồm các trường hợp:
Trường hợp 1: Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Khoản 1 Điều 134).
Trường hợp 2: Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh (Khoản 1 Điều 135).
Trường hợp 3: Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội (Khoản 1 Điều 136).
Trường hợp 4: Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Khoản 1 Điều 138).
Trường hợp 5: Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính (Khoản 1 Điều 139).
Trường hợp 6: Tội hiếp dâm (Khoản 1 Điều 141).
Trường hợp 7: Tội cưỡng dâm (Khoản 1 Điều 143).
Trường hợp 8: Tội làm nhục người khác (Khoản 1 Điều 155).
Trường hợp 9: Tội vu khống (Khoản 1 Điều 156)
Trường hợp 10: Tội xâm phạm quyền Sở hữu công nghiệp (Khoản 1 Điều 226).
- Đình chỉ vụ án khi Bị hại rút đơn yêu cầu
Mặc dù vụ án đã được cơ quan tố tụng khởi tố theo yêu cầu của bị hại, tuy nhiên trong quá trình vụ án được giải quyết, bị hại vẫn có quyền rút đơn yêu cầu tại tất cả các giai đoạn tố tụng , khi đó vụ án sẽ phải được đình chỉ giải quyết, ngoại trừ trường hợp “có căn cứ xác định người đã yêu cầu rút yêu cầu khởi tố trái ý muốn của họ do họ bị ép buộc, cưỡng bức thì tuy người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án vẫn tiếp tục tiến hành tố tụng đối với vụ án” – Khoản 2, Điều 155.
Trên đây là một số trao đổi của Luật STC về khởi tố vụ án theo yêu cầu của bị hại. Để tìm hiểu thêm thông tin, bạn đọc liên hệ số Hotline 0988873883 để được tư vấn trực tiếp.
Trân trọng cảm ơn!