Các hình phạt chính đối với người phạm tội

Hình phạt đối với người phạm tội được quy định tại Điều 32 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 (BLHS) bao gồm hình phạt chính và hình phạt bổ sung. Trong bài viết này chỉ làm rõ những hình phạt chính được áp dụng khi người phạm tội.

1. Cảnh cáo

Cảnh cáo được quy định tại Điều 34 BLHS. Theo đó, “cảnh cáo được áp dụng đối với người phạm tội ít nghiêm trọng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhưng chưa đến mức miễn hình phạt”.

Đây là loại hình phạt nhẹ nhất trong các hình phạt bởi nó được áp dụng đối với tội ít nghiêm trọng, có từ 2 tình tiết giảm nhẹ trở lên nhưng chưa đến mức miễn hình phạt. Hình phạt này chỉ gây ra một sự tổn thất về tinh thần thể hiện qua sự khiển trách công khai của Nhà nước đối với người phạm tội và nó để lại một thời hạn án tích là một năm.

2. Phạt tiền

Đây là loại hình phạt tước của người bị kết án một khoản tiền nhất định và nộp vào công quỹ Nhà nước. Phạt tiền được áp dụng là hình phạt chính đối với các trường hợp sau:

  •  Người phạm tội ít nghiêm trọng, phạm tội nghiêm trọng do BLHS quy định;
  • Người phạm tội rất nghiêm trọng xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, môi trường, trật tự công cộng, an toàn công cộng và một số tội phạm khác do BLHS quy định.

Hình phạt tiền được áp dụng là hình phạt bổ sung đối với người phạm tội về tham nhũng, ma túy hoặc những tội phạm khác do BLHS quy định.

Mức tiền phạt được quyết định căn cứ vào tính chất và mức độ nguy him của tội phạm, đồng thời có xét đến tình hình tài sản của người phạm tội, sự biến động của giá cả, nhưng không được thấp hơn 1.000.000 đồng.

Hình phạt tiền được áp dụng đối với pháp nhân thương mại có thể là hình phạt chính hoặc hình phạt bổ sung. Mức tiền phạt được quyết định căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm và có xét đến tình hình tài chính của pháp nhân thương mại phạm tội, sự biến động của giá cả nhưng không được thấp hơn 50.000.000 đồng.

3. Cải tạo không giam giữ

Theo quy định tại Điều 36 BLHS thì chỉ có thể áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ được áp dụng từ 06 tháng đến 03 năm đối với người phạm tội khi thoả mãn các điều kiện sau:

  • Chỉ có thể áp dụng đối với người phạm tội ít nghiêm trọng và tội nghiêm trọng;
  • Người phạm tội có nơi làm việc ổn định hoặc có nơi thường trú rõ ràng;
  • Nếu xét thấy không cần thiết phải cách ly họ ra khỏi đời sống xã hội.
Nếu người phạm tội đã bị tạm giam, tạm giữ thì đổi một ngày tạm giữ, tạm giam bằng ba ngày cải tạo không giam giữ rồi khấu trừ vào thời gian chấp hành hình phạt.
Toà án giao người bị kết án cho cơ quan tổ chức nơi người đó làm việc hoặc chính quyền địa phương nơi người đó thường trú để giám sát giáo dục. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã trong việc giám sát, giáo dục người đó.

Trong thời gian chấp hành án, người bị kết án phải thực hiện một số nghĩa vụ theo các quy định về cải tạo không giam giữ và bị khấu trừ một phần thu nhập từ 05% đến 20% để sung quỹ nhà nước. Việc khấu trừ thu nhập được thực hiện hằng tháng. Trong trường hợp đặc biệt, Tòa án có thể cho miễn việc khấu trừ thu nhập, nhưng phải ghi rõ lý do trong bản án. Không khấu trừ thu nhập đối với người chấp hành án là người đang thực hiện nghĩa vụ quân sự.

Trường hợp người bị phạt cải tạo không giam giữ không có việc làm hoặc bị mất việc làm trong thời gian chấp hành hình phạt này thì phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ. Thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong 01 tuần.

Không áp dụng biện pháp lao động phục vụ cộng đồng đối với phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 06 tháng tuổi, người già yếu, người bị bệnh him nghèo, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng.

Người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Luật Thi hành án hình sự.

4. Trục xuất 

Trục xuất là buộc người nước ngoài bị kết án phải rời khỏi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Trục xuất được Tòa án áp dụng là hình phạt chính hoặc hình phạt bổ sung trong từng trường hợp cụ thể.

5. Tù có thời hạn

Tù có thời hạn là loại hình phạt buộc người bị kết án phải cách ly khỏi đời sống xã hội để chấp hành hình phạt tại trại cải tạo trong một thời gian nhất định.
Thời hạn của hình phạt tù có thời hạn là từ 03 tháng đến 20 năm (đối với trường hợp phạm nhiều tội mức hình phạt tối đa là 30 năm tù).
Nếu người bị kết án đã bị tạm giữ, tạm giam thì đổi một ngày tạm giữ, tạm giam bằng 1 ngày tù và được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù.

6. Tù chung thân

Tù chung thân là hình phạt tù không thời hạn được áp dụng đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, nhưng chưa đến mức bị xử phạt tử hình.

Không áp dụng hình phạt tù chung thân đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.

7. Tử hình

Tử hình được quy định tại Điều 40 BLHS. Đây là hình phạt cao nhất trong hệ thống các hình phạt. Hình phạt tử hình là loại hình phạt loại trừ hoàn toàn người phạm tội khỏi đời sống xã hội. Chỉ áp dụng đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng; Không áp dụng đối với người chưa thành niên khi phạm tội, với phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi khi phạm tội hoặc khi xét xử; Không thi hành án tử hình với phụ nữ có thai, đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi hoặc người đủ 75 tuổi trở lên; Người bị kết án tử hình về tội tham ô tài sản, tội nhận hi lộ mà sau khi bị kết án đã chủ động nộp lại ít nhất ba phần tư tài sản tham ô, nhận hối lộ và hợp tác tích cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm hoặc lập công lớn. Trường hợp này hình phạt tử hình chuyển xuống hình phạt tù chung thân.
Trường hợp người bị kết án tử hình được Chủ tịch nước chấp nhận cho ân giảm thì hình phạt tử hình chuyển thành hình phạt tù chung thân.