AI PHẢI CHỊU CHI PHÍ CƯỠNG CHẾ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
Cũng giống như khi khởi kiện hoặc yêu cầu Toà án giải quyết vụ án/vụ việc dân sự, các đương sự đều phải nộp phí, lệ phí Toà án. Trong thi hành án nói chung và cưỡng chế thi hành án dân sự nói riêng cũng phải nộp chi phí. Vậy người nộp là ai?
Căn cứ Điều 73 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, chi phí cưỡng chế thi hành án và người nộp được quy định như sau:
Người phải thi hành án
– Thông báo việc cưỡng chế thi hành án.
– Mua nguyên, nhiên liệu; thuê phương tiện, thiết bị bảo vệ, y tế, phòng chống cháy nổ… thực hiện cho việc cưỡng chế thi hành án.
– Định giá, giám định, bán đấu giá, định giá lại tài sản trừ trường hợp do người được thi hành án yêu cầu hoặc có vi phạm quy định về định giá.
– Thuê, trông coi, bảo quản, bốc dỡ, vận chuyển tài sản, thuê nhân công, đo đạc, xác định mốc giới để cưỡng chế thi hành án.
– Tạm giữ, thu giữ tài sản, giấy tờ.
– Bồi dưỡng cho người trực tiếp tham gia thực hiện, bảo vệ quá trình thi hành án: Chấp hành viên, công chức khác, công an, dân quân tự vệ, Kiểm sát viên, trưởng thôn, đại diện tổ dân phố…

Người được thi hành án
– Định giá lại tài sản (người được thi hành án yêu cầu)
– Xây ngăn, phá dỡ nếu bản án, quyết định xác định người được thi hành án phải chịu các khoản chi phí này. Người này có thể phải chịu toàn bộ hoặc một phần chi phí này theo bản án hoặc quyết định có hiệu lực của Toà án.
Ngoài các trường hợp người thi hành án hoặc người được thi hành án phải chịu chi phí thi hành án thì ngân sách Nhà nước sẽ chi trả các khoản chi phí bắt buộc thi hành án sau đây:
– Định giá lại tài sản trong trường hợp có vi phạm quy định về định giá.
– Xác minh điều kiện thi hành án.
– Chi phí cần thiết khác: Chi phí họp bàn, chi phí cưỡng chế nếu không thu được tiền của người phải thi hành án (do tài sản không bán được), tài sản cưỡng chế không còn/mất giá trị sử dụng; xác minh, xác định giá trị tài sản trước khi cưỡng chế…