Đọc thư của người khác khi chưa được sự cho phép có bị phạt không?

Công nghệ khoa học ngày càng phát triển thì bên cạnh đó, nguy cơ bị xâm phạm quyền riêng tư, bí mật thư tín, điện thoại,… ngày càng gia tăng. Do đó, BLHS hiện hành đã quy định hình phạt đối với những hành vi phạm tội này.

1. Tội xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín hoặc hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của người khác

Tội xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín hoặc hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của người khác là hành vi tiếp tục vi phạm đến quyền bí mật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của người khác, mặc dù trước đó đã bị xử lý kỉ luật hoặc xử phạt vi phạm hành chính.

Điều 159 quy định về tội phạm như sau:

1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, đã bị xử lý kỷ luật hoặc xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm:

a) Chiếm đoạt thư tín, điện báo, telex, fax hoặc văn bản khác của người khác được truyền đưa bằng mạng bưu chính, viễn thông dưới bất kỳ hình thức nào;

b) Cố ý làm hư hỏng, thất lạc hoặc cố ý lấy các thông tin, nội dung của thư tín, điện báo, telex, fax hoặc văn bản khác của người khác được truyền đưa bằng mạng bưu chính, viễn thông;

c) Nghe, ghi âm cuộc đàm thoại trái pháp luật;

d) Khám xét, thu giữ thư tín, điện tín trái pháp luật;

đ) Hành vi khác xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín, telex, fax hoặc hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của người khác.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 03 năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

c) Phạm tội 02 lần trở lên;

d) Tiết lộ các thông tin đã chiếm đoạt, làm ảnh hưởng đến danh dự, uy tín, nhân phẩm của người khác;

đ) Làm nạn nhân tự sát.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm”.

2. Các dấu hiệu cấu thành tội phạm

2.1. Khách thể của tội phạm

Tội phạm xâm phạm đến quyền được bảo đảm bí mật về thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của người khác.

2.2. Mặt khách quan của tội phạm

Người phạm tội thực hiện một trong các hành vi:

  •  Chiếm đoạt thư tín, điện báo, telex, fax hoặc văn bản khác của người khác được truyền đưa bằng mạng bưu chính, viễn thông dưới bất kỳ hình thức nào;
  • Cố ý làm hư hỏng, thất lạc hoặc cố ý lấy các thông tin, nội dung thư tín, điện báo, telex, fax hoặc văn bản khác của người khác được truyền đưa bằng mạng bưu chính, viễn thông;
  • Nghe, ghi âm cuộc đàm thoại trái pháp luật;
  • Khám xét, thu giữ thư tín, điện tín trái pháp luật;
  • Hành vi khác xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện tín, điện thoại, điện tín, telex, fax hoặc hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác.

Người phạm tội trước đó đã bị xử lý kỷ luật hoặc xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này vẫn chưa hết thời hạn để được xóa kỷ luật hoặc để được coi là chưa bị xử lý hành chính.

2.3. Chủ thể của tội phạm

Bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ 16 tuổi trở lên đều có thể trở thành chủ thể của tội phạm này.

2.4. Mặt chủ quan của tội phạm

Tội phạm được thực hiện với lỗi cố ý.

3. Đọc thư khi chưa được sự cho phép của người khác có bị phạt không?

Từ những phân tích dấu hiệu, hành vi phạm tội trên, có thể thấy rằng, nếu một người có hành vi đọc thư của người khác khi chưa được sự cho phép, và người đó đã bị xử lý kỷ luật hoặc xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm thì người đó có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm quy định tại Điều 159 BLHS.