Giới hạn quyền sở hữu trí tuệ

Quyền sở hữu trí tuệ là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ, bao gồm quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng. Tuy nhiên quyền sở hữu trí tuệ có thể bị giới hạn trong một số trường hợp. Bài viết làm rõ những giới hạn trong quyền sở hữu trí tuệ.

Giới hạn quyền sở hữu trí tuệ được quy định tại Điều 7 Luật sở hữu trí tuệ năm 2005, sửa đổi bổ sung 2009, 2019 (gọi tắt là LSHTT) như sau:

“Điều 7. Giới hạn quyền sở hữu trí tuệ

1. Chủ thể quyền sở hữu trí tuệ chỉ được thực hiện quyền của mình trong phạm vi và thời hạn bảo hộ theo quy định của Luật này.

2. Việc thực hiện quyền sở hữu trí tuệ không được xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác và không được vi phạm các quy định khác của pháp luật có liên quan.

3. Trong trường hợp nhằm bảo đảm mục tiêu quốc phòng, an ninh, dân sinh và các lợi ích khác của Nhà nước, xã hội quy định tại Luật này, Nhà nước có quyền cấm hoặc hạn chế chủ thể quyền sở hữu trí tuệ thực hiện quyền của mình hoặc buộc chủ thể quyền sở hữu trí tuệ phải cho phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng một hoặc một số quyền của mình với những điều kiện phù hợp; việc giới hạn quyền đối với sáng chế thuộc bí mật nhà nước được thực hiện theo quy định của Chính phủ”.

Như vậy, giới hạn quyền sở hữu trí tuệ có thể do các nguyên nhân như sau:

  • Không được vượt quá phạm vi và thời hạn bảo hộ theo quy định của LSHTT.
  • Không được xâm phạm lợi ích Nhà nước, lợi ích công cộng quyền hạn của tổ chức cá nhân, quy định pháp luật có liên quan.
  • Không được xâm phạm quyền sở hữu của Nhà nước, đảm bảo mục tiêu quốc phòng an ninh và các lợi ích gắn liền với điều kiện phát triển của khu vực.