HÀNH VI CHIẾM GIỮ TÀI SẢN TRÁI PHÉP CỦA NGƯỜI “HÔI VÀNG” MÀ KHÔNG TRẢ BỊ XỬ LÝ THẾ NÀO??
Liên quan đến vụ xả súng cướp tiệm vàng ở chợ Đông Ba, TP Huế, trong quá trình bị truy đuổi, kẻ cướp đã ném nhiều vàng ra đường. Bất chấp nguy hiểm từ tên cướp có súng, nhiều người dân tại hiện trường vẫn lao ra đường nhặt vàng rơi vãi. Trước sự việc trên, nhiều người dân thắc mắc, hành vi “hôi của” nhặt vàng – chiếm giữ tài sản trái phép mà không đem trả lại có bị coi là phạm tội hay không? Nếu có sẽ bị xử về tội gì?
- Quy định pháp luật
Quyền sở hữu tài sản gồm ba quyền: Quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt.
Theo Bộ luật Dân sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017: “Chiếm hữu là việc chủ thể nắm giữ, chi phối tài sản một cách trực tiếp hoặc gián tiếp như chủ thể có quyền đối với tài sản. Chiếm hữu bao gồm chiếm hữu của chủ sở hữu và chiếm hữu của người không phải là chủ sở hữu.” và “Chiếm hữu không ngay tình là việc chiếm hữu mà người chiếm hữu biết hoặc phải biết rằng mình không có quyền đối với tài sản đang chiếm hữu.”
Điều 230 của Bộ luật về Xác lập quyền sở hữu đối với tài sản do người khác đánh rơi, bỏ quên.
- Người phát hiện tài sản do người khác đánh rơi, bỏ quên mà biết được địa chỉ của người đánh rơi hoặc bỏ quên thì phải thông báo hoặc trả lại tài sản cho người đó; nếu không biết địa chỉ của người đánh rơi hoặc bỏ quên thì phải thông báo hoặc giao nộp cho Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc công an cấp xã nơi gần nhất để thông báo công khai cho chủ sở hữu biết mà nhận lại.
Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc công an cấp xã đã nhận tài sản phải thông báo cho người đã giao nộp về kết quả xác định chủ sở hữu.
- Sau 01 năm, kể từ ngày thông báo công khai về tài sản do người khác đánh rơi, bỏ quên mà không xác định được chủ sở hữu hoặc chủ sở hữu không đến nhận thì quyền sở hữu đối với tài sản này được xác định như sau:
- a) Trường hợp tài sản bị đánh rơi, bỏ quên có giá trị nhỏ hơn hoặc bằng mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định thì người nhặt được được xác lập quyền sở hữu đối với tài sản đó theo quy định của Bộ luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan; trường hợp tài sản có giá trị lớn hơn mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định thì sau khi trừ chi phí bảo quản, người nhặt được được hưởng giá trị bằng mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định và 50% giá trị của phần vượt quá mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định, phần giá trị còn lại thuộc về Nhà nước;”
Vậy việc người dân chứng kiến vụ xả súng cướp tiệm vàng ở Huế, thấy vàng do tội phạm ném ra mà nhặt là hành vi chiếm hữu không ngay tình tài sản là vàng của chủ sở hữu tiệm vàng. Công an TP Huế sau đó phát thông báo, đề nghị người dân nhặt được vàng có liên quan đến vụ cướp bằng súng tại chợ Đông Ba phải giao nộp cho cơ quan công an. Việc này nhằm phục vụ hoạt động điều tra của cơ quan công an, cũng như hoàn trả lại cho người bị hại sau khi kết thúc vụ việc. Nếu người dân cố tình không trả lại vàng “đã nhặt”, sau khi đã có thông báo của công an Thành phố Huế, thì hành vi chiếm giữ tài sản này được hiểu là hành vi chiếm hữu tài sản trái pháp luật. Do đó, trong trường hợp cá nhân nhặt được vàng mà không trả sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự, tùy vào tính chất, mức độ của hành vi.
Về xử phạt vi phạm hành chính, căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 15 Nghị định 144/2021/NĐ-CP, hành vi chiếm giữ tài sản của người khác chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự sẽ bị phạt tiền từ 03 – 05 triệu đồng. Đồng thời, người thực hiện hành vi còn bị áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả như buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm hoặc buộc trả lại tài sản do chiếm giữ trái phép.
Về trách nhiệm hình sự, trong trường hợp tài sản chiếm giữ trái phép có giá trị từ 10 triệu đồng trở lên thì người thực hiện hành vi có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội chiếm giữ trái phép tài sản theo quy định tại Điều 176 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017. Người này có thể bị phạt tiền lên đến 50 triệu đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm. Nếu tài sản bị chiếm giữ trái pháp luật trị giá 200 triệu đồng trở lên, mức phạt cao nhất có thể lên đến 05 năm tù.
Trong vụ việc này lực lượng chức năng đã ra các thông báo công khai yêu cầu những người dân nhặt được vàng ở hiện trường vụ việc giao trả lại, nếu cá nhân nào đã nhặt được vàng (là tang chứng, vật chứng của vụ án) mà cố tình không hợp tác, cơ quan chức năng sẽ căn cứ vào giá trị của số vàng đã bị chiếm giữ trái phép để ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người chiếm giữ trái phép. Ngoài ra, cơ quan chức năng cũng có thể căn cứ vào nhân thân của người chiếm giữ cũng như thái độ trong quá trình làm việc, từ đó xem xét áp dụng truy tố ở mức hình phạt hợp lý như phạt tiền/cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù.

- Giải pháp xử lý
Qua vụ việc trên, người dân cần hiểu và tuân thủ quy định của pháp luật về trách nhiệm của mình khi “nhặt” được tài sản đánh rơi, bỏ quên. Cụ thể, khi nhặt được tài sản của người khác, nhất là tài sản có giá trị khi bị người khác đánh rơi, bỏ quên, người dân phải kịp thời thông báo và giao nộp cho Ủy ban nhân dân cấp xã/công an cấp xã hoặc biết được địa chỉ của người đánh rơi hoặc bỏ quên thì phải thông báo hoặc trả lại tài sản cho người đó.
Sau 01 năm, kể từ ngày thông báo công khai về tài sản do người khác đánh rơi, bỏ quên mà không xác định được chủ sở hữu hoặc chủ sở hữu không đến nhận thì quyền sở hữu đối với tài sản này được xác định là tài sản bị đánh rơi, bỏ quên có giá trị nhỏ hơn hoặc bằng 14.900.000 đồng thì người nhặt được được xác lập quyền sở hữu đối với tài sản đó trường hợp tài sản có giá trị lớn hơn 14.900.000 đồng thì sau khi trừ chi phí bảo quản, người nhặt được được hưởng giá trị bằng 14.900.000 và 50% giá trị của phần vượt quá 14.900.000 đồng, phần giá trị còn lại thuộc về Nhà nước.
Vậy, nếu sau 1 năm chủ sở hữu tài sản không nhận, thì người dân được hưởng tài sản đó theo quy định pháp luật. Vì vậy, khi chưa xác định được chủ sở hữu tài sản, người dân không nên “nhặt được của rơi tạm thời đút túi” để tránh vi phạm pháp luật. Bởi lòng tham khi nhặt được những tài sản này có thể phải trả giá rất đắt bằng những chế tài nghiêm minh của pháp luật.