Quyền im lặng trong tố tụng hình sự

 “Anh có quyền giữ im lặng và từ chối trả lời câu hỏi. Bất cứ điều gì anh nói cũng sẽ được dùng để chống lại anh trước tòa”. “Tôi sẽ không trả lời bất kỳ câu hỏi nào trước khi luật sư của tôi đến”. Đây là những câu nói quen thuộc trong các bộ phim khi một người thực hiện hành vi phạm tội bị bắt, và trong các câu nói này hàm chứa quyền im lặng – một quyền chưa được quy định trực tiếp trong Bộ luật tố tụng hình sự 2015.

Pháp luật Việt Nam hiện nay chưa có quy định trực tiếp, cụ thể về quyền im lặng, nhưng qua Bộ luật tố tụng hình sự 2015 có thể thấy một số quy định gián tiếp được hiểu chung là quyền im lặng. 

Cụ thể, theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 60 và điểm h khoản 2 Điều 61 Bộ luật tố tụng hình sự:

“Bị can, bị cáo có quyền trình bày lời khai, trình bày ý kiến, không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội”.

Có thể thấy, bị can, bị cáo có quyền tự chủ trong việc khai báo; “trình bày lời khai” là quyền của bị can, bị cáo mà không phải là nghĩa vụ bắt buộc.

Theo đó, bị can, bị cáo có thể trình bày lời khai hoặc không. Việc không trình bày lời khai thể hiện ở việc bị can, bị cáo im lặng trước cơ quan tiến hành tố tụng. Khi bị can, bị cáo im lặng, cơ quan tiến hành tố tụng không có quyền ép buộc họ phải khai báo bằng các biện pháp không hợp pháp.

Như vậy, có thể hiểu rằng bị can, bị cáo hoàn toàn có quyền im lặng. Việc bị can, bị cáo không trả lời cơ quan, người tiến hành tố tụng những điều bất lợi cho bản thân sẽ không bị coi là tình tiết tăng nặng. 

Trong vụ bác sĩ Hoàng Công Lương bị truy tố về tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” hay vụ Hoa hậu Trương Hồ Phương Nga gây xôn xao trong dư luận một thời gian dài, cả hai bị cáo tại phiên tòa đã áp dụng triệt để quyền im lặng trong phần xét hỏi của đại diện Viện Kiểm sát và HĐXX để bảo vệ mình trước những cáo buộc bất lợi.