Sống chung như vợ chồng không đăng ký kết hôn có phạm luật?
Trong những năm gần đây, sống chung mà không đăng ký kết hôn đang trở thành xu hướng trong một bộ phận không nhỏ giới trẻ. Bởi họ cho rằng khi không chung sống với nhau nữa sẽ dễ dàng giải quyết hơn so với những người đã đăng ký kết hôn.
1. Sống chung không kết hôn có giá trị pháp lý hay không?
Theo quy định tại khoản b Điều 2 Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP, được coi là nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:
– Có tổ chức lễ cưới khi về chung sống với nhau;
– Việc họ về chung sống với nhau được gia đình (một bên hoặc cả hai bên) chấp nhận;
– Việc họ về chung sống với nhau được người khác hay tổ chức chứng kiến;
– Họ thực sự có chung sống với nhau, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau xây dựng gia đình.
Đồng thời, theo quy định tại Điều 131 Luật hôn nhân và gia đình 2014 (LHNGĐ):
“Quan hệ hôn nhân và gia đình được xác lập trước ngày LHNGĐ có hiệu lực thì áp dụng pháp luật về hôn nhân và gia đình tại thời điểm xác lập để giải quyết”.
1.1. Nam nữ chung sống như vợ chồng không kết hôn trước ngày 03/01/1987
Theo khoản 2 Điều 44 Nghị định số 23/2015/NĐ-CP, quan hệ hôn nhân của trường hợp này được công nhận kể từ ngày các bên xác lập quan hệ chung sống với nhau như vợ chồng. Khi đó, nam nữ được khuyến khích và tạo điều kiện đăng ký kết hôn.
1.2. Nam và nữ chung sống như vợ chồng không kết hôn từ ngày 03/01/1987 đến trước ngày 01/01/2001
Nam nữ sống chung với nhau trong trường hợp này mà đủ điều kiện kết hôn nhưng chưa đăng ký kết hôn và đang chung sống với nhau như vợ chồng thì họ phải có nghĩa vụ đăng ký kết hôn kể từ ngày 01/01/2001 đến hết ngày 01/01/2003 (theo điểm b khoản 3 Nghị quyết số 35/2000/QH10).
Sau ngày 01/01/2003 nếu nam nữ chưa đăng ký kết hôn thì không được công nhận là vợ chồng.
1.3. Nam và nữ chung sống như vợ chồng không kết hôn sau ngày 01/01/2003
Trong thời gian này, bắt buộc nam, nữ phải đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền thì mới có giá trị pháp lý. (Theo quy định tại khoản 1 Điều 11 LHNGĐ năm 2000 và Điều 9 LHNGĐ năm 2014).
Hiện nay, quan hệ hôn nhân của nam nữ chỉ được pháp luật công nhận khi đáp ứng điều kiện về đăng ký kết hôn và bắt buộc phải thực hiện tại cơ quan có thẩm quyền tuân theo quy định của LHNGĐ về:
– Điều kiện đăng ký kết hôn: Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên; do nam nữ tự nguyện quyết định; không bị mất năng lực hành vi dân sự; không thuộc trường hợp bị cấm kết hôn… theo Điều 8 LHNGĐ.
– Thủ tục đăng ký kết hôn: Hai bên nam nữ muốn đăng ký kết hôn thì phải đáp ứng điều kiện nêu trên, chuẩn bị đầy đủ giấy tờ và đến cơ quan có thẩm quyền thực hiện.
2. Bị phạt nặng nếu sống chung như vợ chồng mà không kết hôn
Việc đang có vợ, có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ là hành vi bị pháp luật nghiêm cấm (căn cứ điểm c khoản 2 Điều 5 LHNGĐ 2014).
Theo đó, tại Điều 48 Nghị định 110/2013/NĐ-CP sửa đổi bởi khoản 35 Điều 1 Nghị định 67/2015/NĐ-CP sẽ phạt tiền từ 01 – 03 triệu đồng với các hành vi sau đây:
– Đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác;
– Chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;
– Chung sống như vợ chồng giữa những người có họ trong phạm vi ba đời;
– Chung sống như vợ chồng giữa cha mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, bố chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, bố dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng.
Tuy nhiên, từ 01/9/2020 khi Nghị định số 82/2020/NĐ-CP chính thức có hiệu lực thì mức phạt các hành vi này đã tăng lên từ 03 – 05 triệu đồng (theo khoản 1 Điều 59).
Riêng việc chung sống như vợ chồng với người có cùng dòng máu về trực hệ thì sẽ bị phạt tiền từ 10 – 20 triệu đồng.