Xác định phạm vi 3 đời để kết hôn

Theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình 2014, người có họ trong phạm vi ba đời được xác định là những người có cùng một gốc sinh ra. Do có cùng nguồn gốc sinh ra nên pháp luật cấm những người trong phạm vi ba đời kết hôn với nhau. 

Ba đời được xác định cụ thể như sau:

– Đời thứ nhất: Cha mẹ

– Đời thứ hai: Anh, chị, em cùng cha mẹ, cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha

– Đời thứ ba: anh, chị, em con chú, con bác, con cô, con cậu, con dì.

Trong đó, những người có cùng dòng máu về trực hệ là những người có quan hệ huyết thống, trong đó người này sinh ra người kia kế tiếp nhau.
Căn cứ vào quy định trên, có thể hiểu, đời thứ nhất sinh ra đời thứ hai, đời thứ hai sinh ra đời thứ ba.

Do đó, xét về mặt tình cảm, những người trong phạm vi ba đời có quan hệ huyết thống rất gần nhau. Xét về mặt pháp luật, Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 cấm các hành vi kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa:

– Những người cùng dòng máu về trực hệ;

– Những người có họ trong phạm vi ba đời;

Như vậy, cách xác định phạm vi 3 đời để kết hôn đóng vai trò vô cùng quan trọng.

Kết hôn trong phạm vi 3 đời bị phạt thế nào?

Theo quy định tại Điều 48 Nghị định 110/2013/NĐ-CP thì hành vi kết hôn với người có quan hệ trong phạm vi 3 đời sẽ bị phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng.

Ngoài ra, những người sau đây cũng không được phép kết hôn với nhau:

– Giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; 

– Giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi;

– Giữa cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể; 

– Giữa cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng;

Ly rồi rồi vẫn được hưởng thừa kế từ chồng cũ?

Một người có quyền để lại tài sản của mình cho người khác thông qua việc lập di chúc. Nếu không có di chúc thì khi người đó chết đi, phần tài sản thuộc sở hữu của họ sẽ được chia theo pháp luật. Nhưng nếu đã ly hôn thì còn được hưởng thừa kế từ chồng cũ nữa không, bài viết làm rõ các trường hợp khi ly hôn rồi vợ vẫn được hưởng thừa kế từ chồng cũ. 

Theo đó, thời điểm mở thừa kế là thời điểm người để lại di sản thừa kế chết và di sản thừa kế của người đó bao gồm:

– Tài sản riêng của người đó;

– Phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác;

Một người sẽ được nhận thừa kế từ người khác nếu thỏa mãn các điều kiện sau đây:

– Trong di chúc người chết để lại một phần hoặc toàn bộ tài sản cho người đó

– Thuộc một trong các hàng thừa kế của người để lại di sản:

+ Hàng thừa kế thứ nhất: Vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết

+ Hàng thừa kế thứ hai: Ông bà nội, ông bà ngoại, anh chị em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

+ Hàng thừa kế thứ ba: Cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại. 

Lưu ý: Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau. Nếu hàng thừa kế trước đó không còn người được hưởng di sản thừa kế (do từ chối nhận di sản thừa kế, bị truất quyền hưởng di sản thừa kế…) thì người ở hàng thừa kế sau sẽ được hưởng.

Quy định chi tiết được thể hiện tại Điều 651 Bộ luật dân sự 2015.

03 trường hợp vợ cũ được hưởng di sản thừa kế từ chồng

Khi đang hoặc đã ly hôn, người vợ vẫn có thể được hưởng di sản thừa kế từ chồng cũ khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

1. Khi đang tiến hành thủ tục ly hôn

Điều 655 Bộ luật dân sự 2015 quy định, khi một trong hai người chết trong thời gian hai vợ chồng đang tiến hành thủ tục ly hôn và bản án hoặc quyết định ly hôn của Tòa chưa có hiệu lực pháp luật thì người còn sống vẫn được hưởng thừa kế.

Lúc này, quan hệ hôn nhân giữa vợ chồng vẫn còn tồn tại. Bởi lẽ, Điều 57 Luật hôn nhân và gia đình 2014 nêu rõ:

“Quan hệ hôn nhân chỉ chấm dứt vào ngày bản án, quyết định ly hôn của Tòa án có hiệu lực pháp luật”.

Do đó, người vợ vẫn được hưởng di sản thừa kế từ chồng nếu chồng chết khi hai vợ chồng đang trong thời gian ly hôn.

2. Khi đã kết hôn với người khác  

Cũng theo Điều 655 Bộ luật dân sự 2015, tại thời điểm người chồng chết, hai người vẫn là vợ chồng. Sau này, khi phân chia di sản thừa kế của người chồng, dù người vợ đã kết hôn với người khác thì vẫn được hưởng di sản thừa kế do chồng cũ để lại.

Bởi thời điểm người chồng cũ chết, quan hệ hôn nhân giữa hai người vẫn tồn tại. Do đó, người vợ vẫn thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người để lại di sản thừa kế.

3. Được hưởng thừa kế từ con chung với chồng cũ

Người chồng cũ chết trước và con chung của hai vợ chồng chết sau thì người vợ cũ cùng với những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người con sẽ được hưởng phần di sản thừa kế mà lẽ ra người này được hưởng từ bố. 

Án phí ly hôn được tính như thế nào?

Theo quy định của pháp luật, khi giải quyết vụ án ly hôn thì nguyên đơn phải chịu án phí sơ thẩm. Đối với trường hợp cả hai thuận tình ly hôn thì mỗi bên đương sự phải chịu một nửa. Tuy nhiên, ngoài án phí không có giá ngạch còn có án phí có giá ngạch.

Theo khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, trong các vụ án ly hôn thì nguyên đơn phải chịu án phí sơ thẩm. Trường hợp cả hai thuận tình ly hôn thì mỗi bên đương sự phải chịu một nửa.

Theo đó, Điều 13 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quy định chi tiết về mức án phí trong vụ án ly hôn có tranh chấp tài sản như sau:

STT

Án phí dân sự sơ thẩm

Mức thu

1

Đối với tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động không có giá ngạch

300.000 đồng

2

Đối với tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình có giá ngạch

a

Từ 6 triệu đồng trở xuống

300.000 đồng

b

Từ trên 6 triệu – 400 triệu đồng

5% giá trị tài sản có tranh chấp

c

Từ trên 400 triệu – 800 triệu đồng

20 triệu đồng + 4% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 400 triệu đồng

d

Từ trên 800 triệu – 2 tỷ đồng

36 triệu đồng + 3% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt 800 triệu đồng

đ

Từ trên 2 tỷ – 4 tỷ đồng

72 triệu đồng + 2% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt 2 tỷ đồng

e

Từ trên 4 tỷ đồng

112 triệu đồng + 0,1% của phần giá trị tài sản tranh chấp vượt 4 tỷ đồng.

 

0988873883