Giám hộ là gì? Quy định về người giám hộ theo pháp luật hiện hành

Giám hộ là một chế định mang tính nhân văn cao của pháp luật Việt Nam. Đây là một chế định lâu đời của pháp luật dân sự Việt Nam được ghi nhận ngay từ Bộ luật dân sự Việt Nam năm 1995. Kế thừa quy định cũ, Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2015 tiếp tục kế thừa, bổ sung và có những điều chỉnh cho phù hợp hơn với thực tiễn. 

1. Giám hộ là gì? 

Theo quy định tại khoản 1 Điều 46 Bộ luật dân sự Việt Nam 2015 quy định: “Giám hộ là việc cá nhân, pháp nhân được luật quy định, được Ủy ban nhân dân cấp xã cử, được Tòa án chỉ định hoặc được quy định tại khoản 2 Điều 48 của Bộ luật này (sau đây gọi chung là người giám hộ) để thực hiện việc chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi (sau đây gọi chung là người được giám hộ)”. 

2. Quy định về người giám hộ

Người giám hộ là người thực hiện việc chăm sóc, nuôi dưỡng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, người bị bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của người được giám hộ. 

Tại Khoản 1 Điều 48 Bộ luật dân sự Việt Nam 2015 quy định: “Người giám hộ là cá nhân, pháp nhân có đủ điều kiện quy định tại Bộ luật này được làm người giám hộ”. 

Trường hợp người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ lựa chọn người giám hộ cho mình thì khi họ ở tình trạng cần được giám hộ, cá nhân, pháp nhân được lựa chọn là người giám hộ nếu người này đồng ý. Việc lựa chọn người giám hộ phải được lập thành văn bản có công chứng hoặc chứng thực (Khoản 2 Điều 48). 

Một người, một pháp nhân có thể làm người giám hộ cho nhiều người. 

3. Điều kiện để trở thành người giám hộ

Đối với cá nhân phải đáp ứng đủ các điều kiện quy định tại Điều 49 Bộ luật dân sự Việt Nam 2015 như sau: 

1. Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ.

2. Có tư cách đạo đức tốt và các điều kiện cần thiết để thực hiện quyền, nghĩa vụ của người giám hộ.

3. Không phải là người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc người bị kết án nhưng chưa được xoá án tích về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của người khác.

4. Không phải là người bị Tòa án tuyên bố hạn chế quyền đối với con chưa thành niên.

Đối với pháp nhân phải đáp ứng đủ các điều kiện quy định tại Điều 50 Bộ luật dân sự Việt Nam 2015 như sau:

1. Có năng lực pháp luật dân sự phù hợp với việc giám hộ.

2. Có điều kiện cần thiết để thực hiện quyền, nghĩa vụ của người giám hộ.