ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP KHẨN CẤP TẠM THỜI TRONG CẢ NGÀY CUỐI TUẦN, NGHỈ LỄ

Theo quy định tại khoản 1, Điều 111 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì trong quá trình giải quyết vụ án, đương sự hoặc tổ chức, cá nhân khởi kiện có quyền yêu cầu tòa án đang giải quyết vụ kiện đó áp dụng một hoặc nhiều biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định để tạm thời giải quyết yêu cầu cấp bách của đương sự…. Trường hợp do tình thế khẩn cấp, người khởi kiện nộp đơn khởi kiện và yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời vào 04 giờ 30 phút chiều ngày thứ sáu. Theo quy định tại khoản 2 Điều 111 và khoản 3 Điều 133 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì Tòa án có thể áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời vào ngày nghỉ cuối tuần hoặc ngày nghỉ lễ hay không?

Khoản 2 Điều 111 của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định: Trong trường hợp do tình thế khẩn cấp, cần phải bảo vệ ngay chứng cứ, ngăn chặn hậu quả nghiêm trọng có thể xảy ra thì cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền yêu cầu Tòa án có thm quyn ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại Điều 114 của Bộ luật này đồng thời với việc nộp đơn khởi kiện cho Tòa án đó”.

Khoản 3 Điều 133 của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định:

“Đi với trường hợp yêu cầu áp dụng biện pháp khn cấp tạm thời quy định tại khoản 2 Điều 111 của Bộ luật này thì sau khi nhận được đơn yêu cu cùng với đơn khởi kiện và chứng cứ kèm theo, Chánh án Tòa án phân công ngay một Thẩm phán thụ lý giải quyết đơn yêu cầu. Trong thời hạn 48 giờ, kể từ thời điểm nhận được đơn yêu cầu, Thm phán phải xem xét và ra quyết định áp dụng biện pháp khn cp tạm thời; nếu không chấp nhận yêu cầu thì Thẩm phán phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do cho người yêu cầu biết”.

Theo quy định tại khoản 3 Điều 133 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì thời hạn ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời là 48 giờ. Do thời hạn tính bằng giờ nên thời điểm kết thúc thời hạn cũng tính bằng giờ, không phụ thuộc thời điểm kết thúc thời hạn đó vào ngày nghỉ cuối tuần hoặc ngày nghỉ lễ. Vì vậy, nếu Tòa án nhận đơn và yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời vào 04 giờ 30 phút chiều ngày thứ sáu thì Chánh án Tòa án phải phân công Thẩm phán để xem xét việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đảm bảo đúng thời hạn 48 giờ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nội dung trên được hướng dẫn tại mục III Về dân sự của Thông báo số 212/TB-TANDTC-PC của TAND Tối cao ngày 13 tháng 09 năm 2019 về việc Thông báo kết quả giải đáp trực tuyến một số vướng mắc trong xét xử.

* Để hiểu thêm vấn đề này, vui lòng liên hệ đến số hotline 0988873883 của Luật STC để được luật sư tư vấn miễn phí.

Công ty Luật TNHH STC

Văn phòng tại Hà Nội: Tầng 5, Tòa nhà AC, Ngõ 78, Phố Duy Tân, Phường Dịch Vọng Hậu, Quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội.

Hotline: 0988873883

Email: stclawfirm.vn@gmail.com

Website: https://stclawfirm.com/

Văn phòng tại Thành phố Hồ Chí Minh: Landmark 81, Vinhomes Central Park, số 208 Nguyễn Hữu Cảnh và số 720A Điện Biên Phủ, phường 22, quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh.

 

 

THẨM PHÁN THU THẬP CHỨNG CỨ BỔ SUNG TẠI CẤP PHÚC THẨM

Bộ luật Tố tụng dân sự không quy định cụ thể về quyền thu thập chứng cứ bổ sung của Thẩm phán ở giai đoạn phúc thẩm mà chỉ quy định về việc cung cấp tài liệu, chứng cứ trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm tại Điều 287 của Bộ luật này. Theo hướng dẫn tại III Về dân sự của Thông báo số 212/TB-TANDTC-PC của TAND Tối cao ngày 13 tháng 09 năm 2019 về việc Thông báo kết quả giải đáp trực tuyến một số vướng mắc trong xét xử đã làm rõ thêm quyền của thẩm phán được thực hiện thủ tục này. Cụ thể:

          Khoản 2 và khoản 4 Điều 97 của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định về việc xác minh, thu thập chứng cứ như sau:

“2. Trong các trường hợp do Bộ luật này quy định, Tòa án có thể tiến hành một hoặc một số biện pháp sau đây để thu thập tài liệu, chứng cứ:

  1. a) Lấy lời khai của đương sự, người làm chứng;
  2. b) Đối chất giữa các đương sự với nhau, giữa đương sự với người làm chứng;
  3. c) Trưng cầu giám định;
  4. d) Định giá tài sản;

đ) Xem xét, thẩm định tại chỗ;

  1. e) Ủy thác thu thập, xác minh tài liệu, chứng cứ;
  2. g) Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được hoặc hiện vật khác liên quan đến việc giải quyết vụ việc dân sự;
  3. h) Xác minh sự có mặt hoặc vắng mặt của đương sự tại nơi cư trú;
  4. i) Các biện pháp khác theo quy định của Bộ luật này.

  1. Trong giai đoạn giám đốc thẩm, tái thẩm, Thẩm tra viên có thể tiến hành các biện pháp thu thập tài liệu, chứng cứ quy định tại các điểm a, g và h khoản 2 Điều này.”

Điều 304 của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định: “Việc tạm ngừng phiên tòa phúc thẩm được thực hiện theo quy định tại Điều 259 của Bộ luật này”.

Theo điểm c khoản 1 Điều 259 của Bộ luật này thì trong quá trình xét xử, Hội đồng xét xử có quyền quyết định tạm ngừng phiên tòa khi cần phải xác minh, thu thập bổ sung tài liệu, chứng cứ mà nếu không thực hiện thì không thể giải quyết được vụ án và không thể thực hiện được ngay tại phiên tòa ”.

Khoản 2 Điều 97 của Bộ luật Tố tụng dân sự không giới hạn việc thu thập chứng cứ của Tòa án ở giai đoạn sơ thẩm, phúc thẩm mà chỉ giới hạn việc thu thập chứng cứ ở giai đoạn giám đốc thẩm, tái thẩm. Thực tế, nếu tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ chưa đủ căn cứ để giải quyết vụ án thì Thẩm phán vẫn tiến hành thu thập bổ sung. Do vậy, căn cứ vào các quy định nêu trên thì Thẩm phán có quyền tiến hành thu thập chứng cứ bổ sung ở giai đoạn xét xử phúc thẩm.

 

Luât STC-liên hệ số Hotline 0988873883
Luât STC-liên hệ số Hotline 0988873883

* Để hiểu thêm vấn đề này, vui lòng liên hệ đến số hotline 0988873883 của Luật STC để được luật sư tư vấn miễn phí.

Công ty Luật TNHH STC

Văn phòng tại Hà Nội: Tầng 5, Tòa nhà AC, Ngõ 78, Phố Duy Tân, Phường Dịch Vọng Hậu, Quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội.

Hotline: 0988873883

Email: stclawfirm.vn@gmail.com

Website: https://stclawfirm.com/

Văn phòng tại Thành phố Hồ Chí Minh: Landmark 81, Vinhomes Central Park, số 208 Nguyễn Hữu Cảnh và số 720A Điện Biên Phủ, phường 22, quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh.

 

THỜI HẠN CHUẨN BỊ XÉT XỬ VỤ ÁN KHỞI KIỆN THEO KHOẢN 3 ĐIỀU 116 LUẬT TỐ TỤNG HÀNH CHÍNH

Điều 130 của Luật Tố tụng hành chính chỉ quy định thời hạn chuẩn bị xét xử đối với các quyết định hành chính thuộc trường hợp quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 116 của Luật này mà không quy định thời hạn chuẩn bị xét xử đối với các trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 116 của Luật này. Vậy trong trường hợp khiếu kiện quyết định hành chính thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 116 của Luật Tố tụng hành chính thì Tòa án áp dụng thời hạn xét xử như thế nào? Nội dung này được giải đáp tại Mục 4, II về Tố tụng hành chính Thông báo số 212/TB-TANDTC-PC của TAND Tối cao ngày 13 tháng 09 năm 2019 về việc Thông báo kết quả giải đáp trực tuyến một số vướng mắc trong xét xử. Cụ thể:

1.Theo quy định tại Điều 130 của Luật Tố tụng hành chính thì thời hạn chuẩn bị xét xử các vụ án hành chính, trừ vụ án xét xử theo thủ tục rút gọn, vụ án có yếu tố nước ngoài và vụ án khiếu kiện về danh sách cử tri được quy định như sau:

“1. 04 tháng kể từ ngày thụ lý vụ án đối với trường hợp quy định tại điểm a khoản 2 Điều 116 của Luật này.

2.02 tháng kể từ ngày thụ lý vụ án đối với trường hợp quy định tại điểm b khoản 2 Điều 116 của Luật này….”.

  1. Theo quy định tại điểm a, b khoản 2 và điểm a, b khoản 3 Điều 116 của Luật Tố tụng hành chính về thời hiệu khởi kiện thì:

“2. Thời hiệu khởi kiện đi với từng trường hợp được quy định như sau:

a) 01 năm kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc;

b) 30 ngày kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh;

3.Trường hợp đương sự khiếu nại theo đúng quy định của pháp luật đến cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại thì thời hiệu khởi kiện được quy định như sau:

a) 01 năm kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu hoặc quyết định giải quyết khiếu nại lần hai;

b) 01 năm kể từ ngày hết thời hạn giải quyết khiếu nại theo quy định của pháp luật mà cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền không giải quyết và không có văn bản trả lời cho người khiếu nại”.

Tổng đài tư vấn pháp luật 0988873883 của Luật STC
Tổng đài tư vấn pháp luật 0988873883 của Luật STC

3. Theo quy định tại khoản 3 Điều 30 của Luật Tố tụng hành chính và Điều 103 của Luật Cạnh tranh thì trong lĩnh vực cạnh tranh chỉ có quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh mới thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Theo quy định tại khoản 2 Điều 130 của Luật Tố tụng hành chính thì thời hạn chuẩn bị xét xử đối với khiếu kiện quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh là 02 tháng kể từ ngày thụ lý vụ án. Do đó, đối với các quyết định giải quyết khiếu nại còn lại thuộc đối tượng khởi kiện vụ án hành chính được nêu tại khoản 3 Điều 116 của Luật Tố tụng hành chính thì thời hạn chuẩn bị xét xử được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 130 của Luật Tố tụng hành chính là 04 tháng.

* Để hiểu thêm vấn đề này, vui lòng liên hệ đến số hotline 0988873883 của Luật STC để được luật sư tư vấn miễn phí.

Công ty Luật TNHH STC

Văn phòng tại Hà Nội: Tầng 5, Tòa nhà AC, Ngõ 78, Phố Duy Tân, Phường Dịch Vọng Hậu, Quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội.

Hotline: 0988873883

Email: stclawfirm.vn@gmail.com

Website: https://stclawfirm.com/

Văn phòng tại Thành phố Hồ Chí Minh: Landmark 81, Vinhomes Central Park, số 208 Nguyễn Hữu Cảnh và số 720A Điện Biên Phủ, phường 22, quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh.

 

 

Không nộp các tài liệu, chứng cứ chứng minh thiệt hại có bị Tòa án trả lại đơn khởi kiện ?

Theo quy định tại khoản 1 Điều 122 của Luật Tố tụng hành chính thì trường hợp đơn khởi kiện không có đủ các nội dung quy định tại khoản 1 Điều 118 của Luật này thì Thẩm phán yêu cầu đương sự sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện. Vậy trường hợp đương sự đã sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện nhưng không nộp các tài liệu, chứng cứ để chứng minh quyền và lợi ích bị xâm phạm thì Tòa án có trả lại đơn khởi kiện theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 123 của Luật Tố tụng hành chính không? Đây là giải đáp tại mục 3 II Về tố tụng hành chính tại Thông báo số 212/TB-TANDTC-PC của TAND Tối cao ngày 13 tháng 09 năm 2019 về việc Thông báo kết quả giải đáp trực tuyến một số vướng mắc trong xét xử. Cụ thể:

  1. Theo quy định tại khoản 2 Điều 118 của Luật Tố tụng hành chính thì: “Kèm theo đơn khởi kiện phải có tài liệu, chứng cứ chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm phạm. Trường hợp vì lý do khách quan mà người khởi kiện không thnộp đầy đủ các tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện thì họ phải nộp tài liệu, chứng cứ hiện có để chứng minh quyn, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm phạm. Các tài liệu, chứng cứ khác, người khởi kiện phải tự mình bổ sung hoặc b sung theo yêu cu của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án”.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 123 của Luật Tố tụng hành chính thì Thẩm phán chỉ được trả lại đơn khởi kiện trong những trường hợp được quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm h khoản 1 Điều 123 của Luật Tố tụng hành chính (gồm: a) Người khởi kiện không có quyền khởi kiện; b) Người khởi kiện không có năng lực hành vi tố tụng hành chính đầy đủ; c) Trường hợp pháp luật có quy định về điều kiện khởi kiện nhưng người khởi kiện đã khởi kiện đến Tòa án khi còn thiếu một trong các điều kiện đó; d)Sự việc đã được giải quyết bằng bản án hoặc quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật; đ) Sự việc không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án; e) Người khởi kiện lựa chọn giải quyết vụ việc theo thủ tục giải quyết khiếu nại trong trường hợp quy định tại Điều 33 của Lut này; g) Đơn khởi kiện không có đủ nội dung quy định tại khoản 1 Điều 118 của Luật này mà không được người khởi kiện sửa đổi, bsung theo quy định tại Điều 122 của Luật này; h) Hết thời hạn được thông báo quy định tại khoản 1 Điều 125 của Luật này mà người khởi kiện không xuất trình biên lai nộp tiền tạm ứng án phí cho Tòa án, trừ trường hợp người khởi kiện được min nộp tiền tạm ứng án phí, không phải nộp tiền tạm ứng án phí hoặc có lý do chính đáng). Như vậy, theo quy định tại khoản 1 Điều 123 của Luật Tố tụng hành chính thì không có quy định về trường hợp trả lại đơn khởi kiện nếu người khởi kiện không gửi kèm theo đơn khởi kiện tài liệu, chứng cứ chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm phạm.

Luật STC tư vấn và tranh tụng các vụ án Dân sự - Hình sự-Hành chính
Luật STC tư vấn và tranh tụng các vụ án Dân sự – Hình sự-Hành chính

2.Đối với trường hợp người khởi kiện không nộp hoặc nộp không đầy đủ kèm theo đơn khởi kiện tài liệu, chứng cứ chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm được xử lý theo quy định tại khoản 2 Điều 118 của Luật Tố tụng hành chính. Thẩm phán không được căn cứ quy định tại điểm g khoản 1 Điều 123 của Luật Tố tụng hành chính để trả lại đơn khởi kiện. Bởi vì, điểm g khoản 1 Điều 123 của Luật Tố tụng hành chính quy định về trường hợp Tòa án trả lại đơn khởi kiện, nếu: “Đơn khởi kiện không có đủ nội dung quy định tại khoản 1 Điều 118 của Luật này mà không được người khởi kiện sửa đổi, bổ sung theo quy định tại Điều 122 của Luật này”.

3.Trường hợp người khởi kiện không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm kèm theo đơn khởi kiện, thì Tòa án vẫn phải xem xét, thụ lý vụ án theo quy định. Trong quá trình tố tụng, trên cơ sở yêu cầu của người khởi kiện thì Tòa án yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý, lưu giữ cung cấp cho mình tài liệu, chứng cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 93 của Luật Tố tụng hành chính. Trường hợp không có tài liệu, chứng cứ để chứng minh quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm phạm thì Tòa án bác yêu cầu khởi kiện.

* Để hiểu thêm vấn đề này, vui lòng liên hệ đến số hotline 0988873883 của Luật STC để được luật sư tư vấn miễn phí.

Công ty Luật TNHH STC

Văn phòng tại Hà Nội: Tầng 5, Tòa nhà AC, Ngõ 78, Phố Duy Tân, Phường Dịch Vọng Hậu, Quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội.

Hotline: 0988873883

Email: stclawfirm.vn@gmail.com

Website: https://stclawfirm.com/

Văn phòng tại Thành phố Hồ Chí Minh: Landmark 81, Vinhomes Central Park, số 208 Nguyễn Hữu Cảnh và số 720A Điện Biên Phủ, phường 22, quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh.

 

 

XÁC MINH LÀM RÕ HÀNH VI VI PHẠM HÀNH CHÍNH

 Thời hạn ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong trường hợp phải xác minh làm rõ hành vi vi phạm hành chính được xác định như thế nào? Nội dung này đã được giải đáp tại Mục II Về tố tụng hành chính tại Thông báo số 212/TB-TANDTC-PC của TAND Tối cao ngày 13 tháng 09 năm 2019 về việc Thông báo kết quả giải đáp trực tuyến một số vướng mắc trong xét xử. Cụ thể:

1) Trường hợp khi phát hiện hành vi có dấu hiệu vi phạm hành chính, người có thẩm quyền mới chỉ lập biên bản để ghi nhận vụ việc (như biên bản kiểm tra, biên bản làm việc…); sau đó, tiến hành xác minh làm rõ tình tiết vụ việc vi phạm hành chính. Sau khi có kết quả xác minh, người có thẩm quyền mới lập biên bản vi phạm hành chính thì thời hạn ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính được tính kể từ ngày lập biên bản vi phạm hành chính.

2) Trường hợp việc xác minh được thực hiện sau khi lập biên bản vi phạm hành chính làm cơ sở để người có thẩm quyền xem xét, ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính thì thời hạn ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 66 của Luật Xử lý vi phạm hành chính. Theo đó, người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính phải ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản vi phạm hành chính. Đối với vụ việc có nhiều tình tiết phức tạp mà không thuộc trường hợp giải trình hoặc đối với vụ việc thuộc trường hợp giải trình theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 61 của Luật Xử lý vi phạm hành chính thì thời hạn ra quyết định xử phạt tối đa là 30 ngày, kể từ ngày lập biên bản vi phạm hành chính.

Trường hợp vụ việc đặc biệt nghiêm trọng, có nhiều tình tiết phức tạp và thuộc trường hợp giải trình theo quy định tại đoạn 2 khoản 2 và khoản 3 Điều 61 của Luật Xử lý vi phạm hành chính mà cần có thêm thời gian để xác minh, thu thập chứng cứ thì người có thẩm quyền đang giải quyết vụ việc phải báo cáo thủ trưởng trực tiếp của mình bằng văn bản để xin gia hạn; việc gia hạn phải bằng văn bản, thời hạn gia hạn không được quá 30 ngày.

3) Đối với trường hợp hồ sơ vụ vi phạm để xử phạt hành chính do cơ quan tiến hành tố tụng hình sự chuyển đến mà người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính phải xác minh thêm tình tiết làm căn cứ ra quyết định xử lý vi phạm hành chính thì thời hạn ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính tối đa không quá 45 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ vi phạm để xử phạt hành chính theo quy định tại khoản 3 Điều 63 của Luật Xử lý vi phạm hành chính.

* Để hiểu thêm vấn đề này, vui lòng liên hệ đến số hotline 0988873883 của Luật STC để được luật sư tư vấn miễn phí.

Công ty Luật TNHH STC

Văn phòng tại Hà Nội: Tầng 5, Tòa nhà AC, Ngõ 78, Phố Duy Tân, Phường Dịch Vọng Hậu, Quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội.

Hotline: 0988873883

Email: stclawfirm.vn@gmail.com

Website: https://stclawfirm.com/

Văn phòng tại Thành phố Hồ Chí Minh: Landmark 81, Vinhomes Central Park, số 208 Nguyễn Hữu Cảnh và số 720A Điện Biên Phủ, phường 22, quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh.

 

TÌNH TIẾT GIẢM NHẸ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ TẠI KHOẢN 2 ĐIỀU 51 BỘ LUẬT HÌNH SỰ

Hiện nay quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 chưa được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn cụ thể. Tuy nhiên trong quá trình xét xử, Tòa án có thể tham khảo quy định tại điểm c mục 5 Nghị quyết số 01/2000/NQ-HĐTP ngày 04-8-2000 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định trong phần chung của Bộ luật Hình sự năm 1999 để xác định tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, cụ thể như sau:

– Vợ, chồng, cha, mẹ, con, anh, chị, em ruột bị cáo là người có công với nước hoặc có thành tích xuất sắc được Nhà nước tặng một trong các danh hiệu vinh dự như: anh hùng lao động, anh hùng lực lượng vũ trang, bà mẹ Việt Nam anh hùng, nghệ sỹ nhân dân, nghệ sĩ ưu tú, nhà giáo nhân dân, nhà giáo ưu tú, thầy thuốc nhân dân, thầy thuốc ưu tú hoặc các danh hiệu cao quý khác theo quy định của Nhà nước:

– Bị cáo có anh, chị, em ruột là liệt sỹ;

– Bị cáo là người tàn tật do bị tai nạn trong lao động hoặc trong công tác, có tỷ lệ thương tật từ 31 % trở lên;

– Người bị hại cũng có lỗi;

– Thiệt hại do lỗi của người thứ ba;

– Gia đình bị cáo sửa chữa, bồi thường thiệt hại thay cho bị cáo;

– Người bị hại hoặc đại diện hợp pháp của người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo trong trường hợp chỉ gây tổn hại về sức khoẻ của người bị hại, gây thiệt hại về tài sản;

– Phạm tội trong trường hợp vì phục vụ yêu cầu công tác đột xuất như đi chống bão, lụt, cấp cứu.

Ngoài ra, khi xét xử, tùy từng trường hợp cụ thể và hoàn cảnh cụ thể của người phạm tội mà còn có thể coi các tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ, nhưng phải ghi rõ trong bản án.

Như vậy, không phải mọi tình tiết được coi là có lợi cho bị cáo đều sẽ được coi là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, mà cần được tham chiếu đúng với nội dung hướng dẫn trên để bản án không bị xem xét lại.

Nội dung trên được giải đáp tại Thông báo số 212/TB-TANDTC-PC của TAND Tối cao ngày 13 tháng 09 năm 2019 về việc Thông báo kết quả giải đáp trực tuyến một số vướng mắc trong xét xử.

Tổng đài tư vấn của Luật STC - TL 0988873883
Tổng đài tư vấn của Luật STC – TL 0988873883

* Để hiểu thêm vấn đề này, vui lòng liên hệ đến số hotline 0988873883 của Luật STC để được luật sư tư vấn miễn phí.

Công ty Luật TNHH STC

Văn phòng tại Hà Nội: Tầng 5, Tòa nhà AC, Ngõ 78, Phố Duy Tân, Phường Dịch Vọng Hậu, Quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội.

Hotline: 0988873883

Email: stclawfirm.vn@gmail.com

Website: https://stclawfirm.com/

Văn phòng tại Thành phố Hồ Chí Minh: Landmark 81, Vinhomes Central Park, số 208 Nguyễn Hữu Cảnh và số 720A Điện Biên Phủ, phường 22, quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh.

 

 

TIỀN THU LỢI BẤT CHÍNH CỦA TỘI CHO VAY LÃI NẶNG TRONG GIAO DỊCH DÂN SỰ

Thực tế xử lý không ít vụ án hình sự về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự đã xác định không đúng số tiền thu lợi bất chính của bị can, bị cáo. Những vướng mắc này đã được giải đáp tại Thông báo số 212/TANDTC ngày 13 tháng 09 năm 2019 của TAND Tối cao thông báo về kết quả giải đáp trực tuyến một số vướng mắc trong xét xử. Cụ thể các vướng mắc về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự (quy định tại Điều 201 của Bộ luật Hình sự) được giải đáp như sau:

1.Khoản tiền thu lợi bất chính để xác định trách nhiệm hình sự là tổng stiền lãi thu được từ việc cho vay hay là khoản tiền lãi thu được sau khi trừ đi tiền lãi theo quy định của Bộ luật Dân sự?

Theo quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự thì: “Lãi suất vay do các bên thỏa thuận. Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay…”. Do đó, khoản tiền thu lợi bất chính để xác định trách nhiệm hình sự là số tiền lãi thu được sau khi trừ đi số tiền lãi tương ứng với mức lãi suất theo quy định của Bộ luật Dân sự.

2.Khoản tiền thu lợi bất chính để xác định trách nhiệm hình sự trong vụ án là tng số tiền lãi mà người phạm tội thu được của tất cả những người vay hay số tiền lãi thu được của từng người vay?

Khoản tiền thu lợi bất chính để xác định trách nhiệm hình sự là tổng số tiền lãi mà người phạm tội thu được của tất cả những người vay, nếu hành vi cho vay lãi nặng được thực hiện một cách liên tục, kế tiếp nhau về mặt thời gian.

Trường hợp một người thực hiện nhiều lần hành vi cho vay lãi nặng, mà tổng số tiền thu lợi bất chính của các lần phạm tội từ 100 triệu đồng trở lên, nếu các lần phạm tội đều chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự và chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, thì ngoài việc bị áp dụng khung hình phạt tương ứng với trị giá tài sản chiếm đoạt, họ còn bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

3.Khoản tiền thu lợi bất chính mà người phạm tội thu được từ việc cho vay lãi nặng bị tịch thu sung công hay trả lại cho người vay?

Theo quy định tại đoạn 2 khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự thì: “Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực”. Do đó, khoản tiền lãi tương ứng với mức lãi suất trên 20%/năm là khoản tiền mà người phạm tội thu lợi bất chính của người vay nên được trả lại cho người vay tiền, trừ trường hợp người vay sử dụng tiền vay vào mục đích bất hợp pháp (như đánh bạc, mua bán trái phép chất ma túy…) thì khoản tiền thu lợi bất chính bị tịch thu sung công quỹ nhà nước.

Liên hệ số HL 0988873883 để được luật sư của STC tư vấn miễn phí
Liên hệ số HL 0988873883 để được luật sư của STC tư vấn miễn phí

4.Khoản tiền người phạm tội dùng để cho vay và khoản lãi tương ứng với mức lãi suất 20%/năm có xác định là phương tiện phạm tội để tịch thu sung quỹ nhà nước hay trả cho người phạm tội?

Đối với khoản tiền cho vay (tiền gốc) được xác định là phương tiện phạm tội, nên bị tịch thu sung quỹ Nhà nước.

Đối với khoản tiền lãi tương ứng với mức lãi suất 20%/năm tuy không bị tính khi xác định trách nhiệm hình sự, nhưng đây cũng là khoản tiền phát sinh từ tội phạm, đồng thời hoạt động cho vay lãi nặng thường gắn với các băng nhóm tội phạm. Do đó, để bảo đảm yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm thì Tòa án phải tuyên tịch thu sung công quỹ nhà nước khoản tiền này.

5.Người vay tiền trong vụ án cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự tham gia tố tụng với tư cách là bị hại hay là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan?

Theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật Tố tụng hình sự thì người vay tiền trong trường hợp này tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án.

6.Trong vụ án cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự có bắt buộc phải trưng cầu giám định về tiền lãi không?

Tại Điều 4 của Thông tư liên tịch số 01/2017/TTLT-VKSNDTC- TANDTC-BCA-BTP ngày 13-12-2017 quy định những trường hợp cần thiết phải trưng cầu giám định tư pháp trong giải quyết vụ án, vụ việc về tham nhũng, kinh tế thì việc xác định tiền lãi, tiền lãi nặng trong vụ án này không thuộc trường hợp bắt buộc phải trưng cầu giám định tư pháp.

* Để hiểu thêm vấn đề này, vui lòng liên hệ đến số hotline 0988873883 của Luật STC để được luật sư tư vấn miễn phí.

Công ty Luật TNHH STC

Văn phòng tại Hà Nội: Tầng 5, Tòa nhà AC, Ngõ 78, Phố Duy Tân, Phường Dịch Vọng Hậu, Quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội.

Hotline: 0988873883

Email: stclawfirm.vn@gmail.com

Website: https://stclawfirm.com/

Văn phòng tại Thành phố Hồ Chí Minh: Landmark 81, Vinhomes Central Park, số 208 Nguyễn Hữu Cảnh và số 720A Điện Biên Phủ, phường 22, quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh.

HÀNH VI CHIẾM GIỮ TÀI SẢN TRÁI PHÉP CỦA NGƯỜI “HÔI VÀNG” MÀ KHÔNG TRẢ BỊ XỬ LÝ THẾ NÀO??

Liên quan đến vụ xả súng cướp tiệm vàng ở chợ Đông Ba, TP Huế, trong quá trình bị truy đuổi, kẻ cướp đã ném nhiều vàng ra đường. Bất chấp nguy hiểm từ tên cướp có súng, nhiều người dân tại hiện trường vẫn lao ra đường nhặt vàng rơi vãi. Trước sự việc trên, nhiều người dân thắc mắc, hành vi “hôi của” nhặt vàng – chiếm giữ tài sản trái phép mà không đem trả lại có bị coi là phạm tội hay không? Nếu có sẽ bị xử về tội gì?

  1. Quy định pháp luật

Quyền sở hữu tài sản gồm ba quyền: Quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt.

Theo Bộ luật Dân sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017: “Chiếm hữu là việc chủ thể nắm giữ, chi phối tài sản một cách trực tiếp hoặc gián tiếp như chủ thể có quyền đối với tài sản. Chiếm hữu bao gồm chiếm hữu của chủ sở hữu và chiếm hữu của người không phải là chủ sở hữu.”“Chiếm hữu không ngay tình là việc chiếm hữu mà người chiếm hữu biết hoặc phải biết rằng mình không có quyền đối với tài sản đang chiếm hữu.”

Điều 230 của Bộ luật về Xác lập quyền sở hữu đối với tài sản do người khác đánh rơi, bỏ quên.

  1. Người phát hiện tài sản do người khác đánh rơi, bỏ quên mà biết được địa chỉ của người đánh rơi hoặc bỏ quên thì phải thông báo hoặc trả lại tài sản cho người đó; nếu không biết địa chỉ của người đánh rơi hoặc bỏ quên thì phải thông báo hoặc giao nộp cho Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc công an cấp xã nơi gần nhất để thông báo công khai cho chủ sở hữu biết mà nhận lại.

Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc công an cấp xã đã nhận tài sản phải thông báo cho người đã giao nộp về kết quả xác định chủ sở hữu.

  1. Sau 01 năm, kể từ ngày thông báo công khai về tài sản do người khác đánh rơi, bỏ quên mà không xác định được chủ sở hữu hoặc chủ sở hữu không đến nhận thì quyền sở hữu đối với tài sản này được xác định như sau:
  2. a) Trường hợp tài sản bị đánh rơi, bỏ quên có giá trị nhỏ hơn hoặc bằng mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định thì người nhặt được được xác lập quyền sở hữu đối với tài sản đó theo quy định của Bộ luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan; trường hợp tài sản có giá trị lớn hơn mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định thì sau khi trừ chi phí bảo quản, người nhặt được được hưởng giá trị bằng mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định và 50% giá trị của phần vượt quá mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định, phần giá trị còn lại thuộc về Nhà nước;”

Vậy việc người dân chứng kiến vụ xả súng cướp tiệm vàng ở Huế, thấy vàng do tội phạm ném ra mà nhặt là hành vi chiếm hữu không ngay tình tài sản là vàng của chủ sở hữu tiệm vàng. Công an TP Huế sau đó phát thông báo, đề nghị người dân nhặt được vàng có liên quan đến vụ cướp bằng súng tại chợ Đông Ba phải giao nộp cho cơ quan công an. Việc này nhằm phục vụ hoạt động điều tra của cơ quan công an, cũng như hoàn trả lại cho người bị hại sau khi kết thúc vụ việc. Nếu người dân cố tình không trả lại vàng “đã nhặt”, sau khi đã có thông báo của công an Thành phố Huế, thì hành vi chiếm giữ tài sản này được hiểu là hành vi chiếm hữu tài sản trái pháp luật. Do đó, trong trường hợp cá nhân nhặt được vàng mà không trả sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự, tùy vào tính chất, mức độ của hành vi.

Về xử phạt vi phạm hành chính, căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 15 Nghị định 144/2021/NĐ-CP, hành vi chiếm giữ tài sản của người khác chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự sẽ bị phạt tiền từ 03 – 05 triệu đồng. Đồng thời, người thực hiện hành vi còn bị áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả như buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm hoặc buộc trả lại tài sản do chiếm giữ trái phép.

Về trách nhiệm hình sự, trong trường hợp tài sản chiếm giữ trái phép có giá trị từ 10 triệu đồng trở lên thì người thực hiện hành vi có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội chiếm giữ trái phép tài sản theo quy định tại Điều 176 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017. Người này có thể bị phạt tiền lên đến 50 triệu đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm. Nếu tài sản bị chiếm giữ trái pháp luật trị giá 200 triệu đồng trở lên, mức phạt cao nhất có thể lên đến 05 năm tù.

Trong vụ việc này lực lượng chức năng đã ra các thông báo công khai yêu cầu những người dân nhặt được vàng ở hiện trường vụ việc giao trả lại, nếu cá nhân nào đã nhặt được vàng (là tang chứng, vật chứng của vụ án) mà cố tình không hợp tác, cơ quan chức năng sẽ căn cứ vào giá trị của số vàng đã bị chiếm giữ trái phép để ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người chiếm giữ trái phép. Ngoài ra, cơ quan chức năng cũng có thể căn cứ vào nhân thân của người chiếm giữ cũng như thái độ trong quá trình làm việc, từ đó xem xét áp dụng truy tố ở mức hình phạt hợp lý như phạt tiền/cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù.

Liên hệ Hotline 0988873883 để được tư vấn miễn phí
Liên hệ Hotline 0988873883 để được tư vấn miễn phí
  1. Giải pháp xử lý

Qua vụ việc trên, người dân cần hiểu và tuân thủ quy định của pháp luật về trách nhiệm của mình khi “nhặt” được tài sản đánh rơi, bỏ quên. Cụ thể, khi nhặt được tài sản của người khác, nhất là tài sản có giá trị khi bị người khác đánh rơi, bỏ quên, người dân phải kịp thời thông báo và giao nộp cho Ủy ban nhân dân cấp xã/công an cấp xã hoặc biết được địa chỉ của người đánh rơi hoặc bỏ quên thì phải thông báo hoặc trả lại tài sản cho người đó.

Sau 01 năm, kể từ ngày thông báo công khai về tài sản do người khác đánh rơi, bỏ quên mà không xác định được chủ sở hữu hoặc chủ sở hữu không đến nhận thì quyền sở hữu đối với tài sản này được xác định là tài sản bị đánh rơi, bỏ quên có giá trị nhỏ hơn hoặc bằng 14.900.000 đồng thì người nhặt được được xác lập quyền sở hữu đối với tài sản đó trường hợp tài sản có giá trị lớn hơn 14.900.000 đồng thì sau khi trừ chi phí bảo quản, người nhặt được được hưởng giá trị bằng 14.900.000 và 50% giá trị của phần vượt quá 14.900.000 đồng, phần giá trị còn lại thuộc về Nhà nước.

Vậy, nếu sau 1 năm chủ sở hữu tài sản không nhận, thì người dân được hưởng tài sản đó theo quy định pháp luật. Vì vậy, khi chưa xác định được chủ sở hữu tài sản, người dân không nên “nhặt được của rơi tạm thời đút túi” để tránh vi phạm pháp luật. Bởi lòng tham khi nhặt được những tài sản này có thể phải trả giá rất đắt bằng những chế tài nghiêm minh của pháp luật.

 

ÁN LỆ SỐ 01 – XÁC ĐỊNH Ý CHÍ CHỦ QUAN ĐỂ ĐỊNH DANH TỘI GIẾT NGƯỜI HAY CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH-

Xác định ý chí chủ quan để định danh tội giết người hay cố ý gây thương tích là nội dung chính của Án lệ số 01/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 06 tháng 4 năm 2016 và được công bố theo Quyết định 220/QĐ-CA ngày 06 tháng 4 năm 2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

Nguồn án lệ:

Quyết định giám đốc thẩm số 04/2014/HS-GĐT ngày 16-4-2014 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về vụ án “Giết người” đối với bị cáo: Đồng Xuân Phương, sinh năm 1975; trú tại nhà số 11/73 phố Đinh Tiên Hoàng, Phường Hoàng Văn Thụ, quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng; là công nhân xây dựng; con ông Đồng Xuân Chì và bà Dương Thị Thông; bị bắt giam ngày 22-6-2007;

Người bị hại: Nguyễn Văn Soi, sinh năm 1971 (đã chết).

Khái quát nội dung của án lệ:

Trong vụ án có đồng phạm, nếu chứng minh được ý thức chủ quan của người chủ mưu là chỉ thuê người khác gây thương tích cho người bị hại mà không có ý định tước đoạt tính mạng của họ (người chủ mưu chỉ yêu cầu gây thương tích ở chân, tay của người bị hại mà không yêu cầu tấn công vào các phần trọng yếu của cơ thể có khả năng dẫn đến chết người); người thực hành cũng đã thực hiện theo đúng yêu cầu của người chủ mưu; việc nạn nhân bị chết nằm ngoài ý thức chủ quan của người chủ mưu thì người chủ mưu phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Cố ý gây thương tích” với tình tiết định khung là “gây thương tích dẫn đến chết người”.

Quy định của pháp luật liên quan đến án lệ:

– Điểm m, n khoản 1 Điều 93 của Bộ luật hình sự năm 1999;

– Khoản 3 Điều 104 của Bộ luật hình sự năm 1999.

Từ khóa của án lệ:

“Giết người”; “Cố ý gây thương tích”; “Gây tổn hại cho sức khỏe của người khác”; “Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe”; “Thuê người khác gây thương tích”.

Liên hệ Luật STC để được tư vấn các nội dung pháp lý liên quan đến Án lệ số 01
Liên hệ Luật STC để được tư vấn các nội dung pháp lý liên quan đến Án lệ số 01

NỘI DUNG VỤ ÁN

Khoảng 15 giờ ngày 21-6-2007, Công an quận Long Biên, thành phố Hà Nội nhận được tin báo đã xảy ra vụ án, nạn nhân bị chết tại khu vực đúc dầm bê tông thi công cầu Thanh Trì thuộc địa phận tổ 12, phường Thạch Bàn, quận Long Biên; nạn nhân là anh Nguyễn Văn Soi (kỹ sư xây dựng thuộc Công ty cổ phần xây dựng 204 thuộc Tổng công ty xây dựng Bạch Đằng). Qua điều tra, xác minh, Công an quận Long Biên đã bắt khẩn cấp Đồng Xuân Phương.

Quá trình điều tra xác định: anh Nguyễn Văn Soi và Đồng Xuân Phương cùng làm việc tại Công ty cổ phần xây dựng 204 thuộc Tổng công ty xây dựng Bạch Đằng (được giao nhiệm vụ thi công, xây dựng cầu Thanh Trì). Khoảng tháng 02-2007, Phương uống rượu say trong giờ làm việc, bị anh Soi dùng điện thoại di động chụp ảnh, báo cáo lãnh đạo nên Phương có ý định trả thù anh Soi.

Ngày 14-6-2007, Đồng Xuân Phương gọi điện thoại cho bạn là Đoàn Đức Lân sinh năm 1975 (trú tại nhà số 11 C98 Trại Chuối, quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng) nói việc mâu thuẫn nêu trên và thuê Lân đánh trả thù. Lân nói sẽ giới thiệu người khác thực hiện. Tối ngày 17-6-2007, Phương từ Hà Nội về Hải Phòng gặp Lân và bạn của Lân là Hoàng Ngọc Mạnh sinh năm 1982 (còn gọi là Thắng; trú tại phường Sở Dầu, quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng) kể lại việc mâu thuẫn và thuê Lân, Mạnh đánh anh Soi, bằng cách dùng dao đâm vào chân, tay nạn nhân để gây thương tích. Đồng Xuân Phương hỏi giá bao nhiêu, Mạnh và Lân nói tùy nên Phương đã đưa cho Mạnh 1.500.000 đồng. Lân và Mạnh đồng ý.

Khoảng 20 giờ ngày 20-6-2007, Hoàng Ngọc Mạnh đi cùng Nam (là bạn Mạnh; không xác định được địa chỉ) lên Hà Nội gặp Đồng Xuân Phương thống nhất là sẽ đánh anh Soi vào ngày 21-6-2007; sau đó Phương đưa thêm 500.000 đồng để Mạnh thuê chỗ ngủ. Đến khoảng 9 giờ ngày 21-6-2007, Phương dẫn Mạnh và Nam đến đoạn đường anh Soi sẽ qua để đi họp vào đầu giờ buổi chiều hôm đó; rồi quay về Công ty. Khoảng 11 giờ, Hoàng Ngọc Mạnh đến quán nước tại ngã ba quốc lộ 5 – 1B (quán của chị Phạm Thị Miến) thuê điện thoại di động của chị Miến gọi điện thoại cho Đồng Xuân Phương yêu cầu mô tả đặc điểm nhận dạng và thông báo số điện thoại di động của anh Soi; Phương đã thực hiện theo yêu cầu của Mạnh. Đến khoảng hơn 13 giờ chiều, Mạnh lại thuê điện thoại di động của chị Miến gọi cho Phương thông báo là đã nhận dạng được anh Soi và Mạnh sẽ thực hiện một mình vì hiện Nam đã bỏ đi đâu không thông báo lại, Đồng Xuân Phương đồng ý.

Khoảng 14 giờ 16 phút cùng ngày, Mạnh đã thuê máy điện thoại di động của chị Miến gọi điện thoại hẹn gặp anh Soi tại khu vực đúc dầm bê tông. Khi anh Soi đến, Mạnh đã dùng dao nhọn chuẩn bị từ trước đâm 02 nhát vào mặt sau đùi phải, làm anh Soi chết.

Tại Bản giám định pháp y số 146/PC21-PY ngày 17-7-2007, Phòng Kỹ thuật hình sự – Công an thành phố Hà Nội kết luận: nạn nhân bị 02 vết thương tại mặt sau đùi phải, vết phía trên xuyên vào cơ đùi 3cm. Vết phía dưới cắt đứt động mạch, tĩnh mạch đùi sau gây chảy mất nhiều máu. Nguyên nhân chết: sốc mất máu cấp không hồi phục do vết thương động mạch.

Ngoài ra, trong quá trình điều tra Đồng Xuân Phương còn khai: ngoài lý do mâu thuẫn giữa bị cáo và anh Soi, việc thuê đâm anh Soi còn có nguyên nhân do bị anh Ngô Văn Toản (là Phó Ban điều hành dự án cầu Thanh Trì) kích động, vì trước đó anh Toản cũng có mâu thuẫn với anh Soi. Cơ quan điều tra đã lấy lời khai của anh Toản, nhưng anh Toản không thừa nhận việc này. Kết quả điều tra không có cơ sở kết luận anh Toản có liên quan đến vụ án.

Đoàn Đức Lân và Hoàng Ngọc Mạnh bỏ trốn, Cơ quan điều tra đã có quyết định truy nã và quyết định tạm đình chỉ điều tra bị can đối với Đoàn Đức Lân và Hoàng Ngọc Mạnh, khi nào bắt được sẽ xử lý sau.

Trong quá trình điều tra, cán bộ và Công ty cổ phần xây dựng 204 đã tự nguyện quyên góp, trợ cấp cho gia đình người bị hại tổng cộng 123.000.000 đồng, trong đó có chi phí mai táng 63.000.000 đồng và 03 sổ tiết kiệm cho gia đình anh Soi, với tổng số tiền gửi là 60.000.000 đồng.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 164/2008/HSST ngày 17-11-2008, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội áp dụng điểm n khoản 1 Điều 93; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự; xử phạt Đồng Xuân Phương 17 năm tù về tội “Giết người”.

Buộc Đồng Xuân Phương bồi thường cho gia đình người bị hại tiền tổn thất tinh thần là 32.400.000 đồng và cấp dưỡng hàng tháng cho 02 con và mẹ người bị hại.

Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Đồng Xuân Phương kháng cáo đề nghị xem xét lại vụ án.

Đại diện hợp pháp của người bị hại là chị Nguyễn Thị Thanh kháng cáo đề nghị tăng hình phạt, tăng mức bồi thường đối với bị cáo.

Tại Bản án hình sự phúc thẩm số 262/2009/HSPT ngày 05-5-2009, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội căn cứ khoản 1 Điều 250 Bộ luật tố tụng hình sự, hủy Bản án hình sự sơ thẩm nêu trên để điều tra lại theo thủ tục chung.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 167/2010/HSST ngày 31-3-2010, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội áp dụng điểm n khoản 1 Điều 93; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự; xử phạt Đồng Xuân Phương 17 năm tù về tội “Giết người”.

Buộc Đồng Xuân Phương bồi thường các khoản gồm: chi phí mai táng 34.583.000 đồng, tiền tổn thất tinh thần cho vợ con người bị hại tổng số là 39.000.000 đồng và cấp dưỡng hàng tháng cho mẹ và con người bị hại.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 02-4-2010, Đồng Xuân Phương kháng cáo xin giảm hình phạt và đề nghị xem xét lại vụ án vì chưa bắt được Mạnh nên không có đủ căn cứ khẳng định việc Mạnh đâm chết anh Soi.

Ngày 13-4-2010, vợ người bị hại là chị Nguyễn Thị Thanh kháng cáo đề nghị tăng hình phạt, tăng mức bồi thường đối với bị cáo.

Tại Bản án hình sự phúc thẩm số 475/2010/HSPT ngày 15-9-2010, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội áp dụng các điểm m, n khoản 1 Điều 93; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự; xử phạt Đồng Xuân Phương tù chung thân về tội “Giết người”; buộc Đồng Xuân Phương bồi thường tiền bù đắp tổn thất tinh thần là 43.800.000 đồng và giữ nguyên các quyết định khác về bồi thường thiệt hại.

Tại Kháng nghị số 13/KN-HS ngày 22-7-2013, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đề nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm hủy Bản án hình sự phúc thẩm nêu trên về các phần: tội danh, hình phạt và án phí hình sự phúc thẩm đối với Đồng Xuân Phương; chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội để xét xử phúc thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao nhất trí với Kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nhận định:

Căn cứ vào các lời khai nhận tội của bị cáo Đồng Xuân Phương trong quá trình điều tra và tại các phiên tòa sơ thẩm, phiên tòa phúc thẩm; lời khai và kết quả nhận dạng của những người làm chứng về các đối tượng liên quan đến vụ án; Biên bản khám nghiệm hiện trường; Bản giám định pháp y cùng các tài liệu, chứng cứ khác của vụ án; có đủ căn cứ kết luận do mâu thuẫn trong sinh hoạt, Đồng Xuân Phương đã thuê Hoàng Ngọc Mạnh và Đoàn Đức Lân dùng dao đâm anh Nguyễn Văn Soi, với mục đích gây thương tích cho nạn nhân để trả thù. Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án; có căn cứ xác định về mặt chủ quan, Phương chỉ muốn gây thương tích cho anh Soi mà không muốn tước đoạt tính mạng, cũng không muốn thuê Mạnh đâm bừa, đâm ẩu vào anh Soi để mặc mọi hậu quả xảy ra. Vì thế, bị cáo chỉ yêu cầu tấn công vào chân, tay mà không yêu cầu tấn công vào các phần trọng yếu của cơ thể, là những vị trí nếu bị tấn công thì sẽ có nhiều khả năng xâm hại đến tính mạng nạn nhân. Khi thực hiện tội phạm, Mạnh đã đâm 02 nhát đều vào đùi nạn nhân theo đúng yêu cầu của Phương. Hành vi phạm tội của Hoàng Ngọc Mạnh khó thấy trước được hậu quả chết người có thể xảy ra. Việc nạn nhân bị chết do sốc mất máu cấp không hồi phục là ngoài ý muốn của Đồng Xuân Phương và đồng phạm. Hành vi của Đồng Xuân Phương thuộc trường hợp phạm tội cố ý gây thương tích dẫn đến chết người, quy định tại khoản 3 Điều 104 Bộ luật hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm đã kết án Đồng Xuân Phương về tội “Giết người” là không đúng pháp luật.

Vì các lẽ trên, căn cứ vào khoản 3 Điều 285 và Điều 287 Bộ luật tố tụng hình sự,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Hủy Bản án hình sự phúc thẩm số 475/2010/HSPT ngày 15-9-2010 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội về các phần: tội danh, hình phạt và án phí hình sự phúc thẩm đối với Đồng Xuân Phương; chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội để xét xử phúc thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.
  2. Tiếp tục tạm giam Đồng Xuân Phương cho đến khi Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội thụ lý lại vụ án.
  3. Các quyết định khác của Bản án hình sự phúc thẩm nêu trên đã có hiệu lực pháp luật.

NỘI DUNG ÁN LỆ

“Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án; có căn cứ xác định về mặt chủ quan, Phương chỉ muốn gây thương tích cho anh Soi mà không muốn tước đoạt tính mạng, cũng không muốn thuê Mạnh đâm bừa, đâm ẩu vào anh Soi để mặc mọi hậu quả xảy ra. Vì thế, bị cáo chỉ yêu cầu tấn công vào chân, tay mà không yêu cầu tấn công vào các phần trọng yếu của cơ thể, là những vị trí nếu bị tấn công thì sẽ có nhiều khả năng xâm hại đến tính mạng nạn nhân. Khi thực hiện tội phạm, Mạnh đã đâm 02 nhát đều vào đùi nạn nhân theo đúng yêu cầu của Phương. Hành vi phạm tội của Hoàng Ngọc Mạnh khó thấy trước được hậu quả chết người có thể xảy ra. Việc nạn nhân bị chết do sốc mất máu cấp không hồi phục là ngoài ý muốn của Đồng Xuân Phương và đồng phạm. Hành vi của Đồng Xuân Phương thuộc trường hợp phạm tội cố ý gây thương tích dẫn đến chết người, quy định tại khoản 3 Điều 104 Bộ luật hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm đã kết án Đồng Xuân Phương về tội “Giết người ” là không đúng pháp luật.”

  1. PHÂN TÍCH VÀ LUẬN GIẢI

Căn cứ để xác định về mặt chủ quan người chủ mưu thuê người khác gây thương tích cho bị hại được chứng minh bởi:

  • Lời khai của người chủ mưu chỉ muốn thuê người khác gây thương tích cho người bị hại, không muốn tước đoạt tính mạng của người bị hại;
  • Yêu cầu của người chủ mưu đối với người được thuê thực hiện hành vi gây thương tích là gây tương tích (đâm) vào vị trí cụ thể của người bị hại mà những vị trí đó không phải là trọng yếu có thể dẫn đến chết người;
  • Người được thuê gây thương tích đâm vào đúng những vị trí đã được yêu cầu;
  • Với những hành vi phạm tội đã được thực hiện (đâm 2 nhát vào đùi) thì về mặt khách quan khó có thể lường trước được hậu quả chết người có thể xảy ra; và
  • Nguyên nhân dẫn đến cái chết của nạn nhân (chết do sốc mất máu cấp không hồi phục) là ngoài ý muốn của người chủ mưu và người thực hiện tội phạm.

Án lệ đưa ra cách xác định ý thức chủ quan của người phạm tội. Trong tình huống án lệ, ý thức chủ quan của người phạm tội trước hết được thể hiện thông qua các lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và xét xử. Bị cáo khai rằng “có ý định trả thù”, thuê người đánh nạn nhân “bằng cách dùng dao đâm vào chân, tay nạn nhân để gây thương tích”. Như vậy, theo lời khai của bị cáo thì bị cáo ý thức được rằng hành vi phạm tội đâm vào chân và tay của nạn nhân sẽ dẫn đến thương tích và mong muốn người bị hại bị thương tích.

Để đánh giá lời khai của người phạm tội có đáng tin cậy hay không, trước hết HĐTP TANDTC đã xem xét vấn đề liệu người thực hiện tội phạm có thực hiện hành vi phạm tội đúng như chỉ thị của người chủ mưu hay không. Đây là hướng dẫn cụ thể của án lệ về việc đánh giá ý thức chủ quan của bị cáo thông qua hành vi phạm tội. HĐTP TANDTC nhận định về vị trí cơ thể bị tấn công của nạn nhân cũng phải được xem xét để đánh giá ý thức chủ quan của tội phạm.

Cụ thể, nạn nhân không bị tấn công vào các bộ phận trọng yếu của cơ thể như đầu, ngực, bụng…; mà bị tấn công vào chân (mặt sau đùi phải), là bộ phận mà người phạm tội cho rằng là không gây nguy hiểm đến tính mạng của nạn nhân, khó thấy trước được hậu quả chết người có thể xảy ra. Người phạm tội chủ đích tấn công vào bộ phận không trọng yếu nhằm gây thương tích, và không có chứng cử thể hiện việc người phạm tội để mặc mọi hậu quả xảy ra.

Cụ thể, người được thuê gây thương tích cho nạn nhân chỉ sử dụng dao nhọn chuẩn bị từ trước, đâm 02 nhát vào mặt sau đùi phải, ngoài ra không gây thương tích ở bất kỳ vị trí nào khác trên cơ thể. Hành vi gây thương tích được thực hiện theo đúng yêu cầu của bị cáo, phù hợp vs các lời khai của bị cáo.

Theo đó, khi xem xét thương tích gây ra cho nạn nhân, về nhận thức thông thường, các thương tích tại vùng tay hay chân là các bộ phận không trọng yếu đối với tính mạng con người, và bị cáo không nhận thức được các thương tích tại các vị trí này có thể làm chết người, mà chỉ cho rằng hành vi sẽ gây tổn hại đến sức khỏe, thân thể của nạn nhân.

Tiếp theo, HĐTP TANDTC đã xem xét vấn đề liệu hậu quả chết người nằm ngoài ý muốn của người phạm tội hay không. Đây là hướng dẫn cụ thể của án lệ về cách đánh giá ý thức chủ quan của người phạm tội liên quan đến hậu quả chết người. Trong tình huống án lệ, sau khi xem xét lời khai của bị cáo và hành vi phạm tội, việc gây thương tích cho nạn nhân dẫn đến hậu quả chết người, là nằm ngoài ý muốn của người phạm tội.

Cụ thể, căn cứ hành vi chỉ đâm 02 nhát vào đùi thì về mặt khách quan khó có thể lường trước được hậu quả chết người có thể xảy ra để từ đó kết luận là người phạm tội không ý thức được hậu quả chết người sẽ xảy ra. Ngoài ra, căn cứ nguyên nhân dẫn đến cái chết của nạn nhân (chết do sốc mất máu cấp không hồi phục) là ngoài ý muốn của người chủ mưu và người thực hiện tội phạm để kết luận người phạm tội không mong muốn hậu quả (chết người) xảy ra.

Như vậy, HĐTP TANDTC đã “bám vào” các yếu tố cần thiết phải có theo quy định tại Điều 9 BLHS 1999 để xác định tội danh giết người hay cố ý gây thương tích.

Vậy Án lệ số 01 đã đưa ra hướng dẫn về cách xác định ý chí chủ quan của người phạm tội cố ý giết người hay cố ý gây thương tích, chúng ta xem xét toàn bộ chứng cứ vụ án để xác định hai vấn đề:

Một là, liệu hành vi phạm tội trên thực tế có cho thấy người phạm tội ý thức được hành vi phạm tội sẽ dẫn đến cái chết (hay thương tích cho người bị hại); và

Hai là, liệu nguyên nhân dẫn đến hậu quả xảy ra có cho thấy người phạm tội mong muốn người bị hại chết (hay bị thương tích) hoặc không mong muốn nhưng vẫn có ý thức để mặc cái chết (hay thương tích) xảy ra đối với người bị hại.

 

* Để hiểu thêm vấn đề này, vui lòng liên hệ đến số hotline 0988873883 của Luật STC để được luật sư tư vấn miễn phí.

Công ty Luật TNHH STC

Văn phòng tại Hà Nội: Tầng 5, Tòa nhà AC, Ngõ 78, Phố Duy Tân, Phường Dịch Vọng Hậu, Quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội.

Hotline: 0988873883

Email: stclawfirm.vn@gmail.com

Website: https://stclawfirm.com/

Văn phòng tại Thành phố Hồ Chí Minh: Landmark 81, Vinhomes Central Park, số 208 Nguyễn Hữu Cảnh và số 720A Điện Biên Phủ, phường 22, quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh.

 

ÁN LỆ SỐ 30 – PHẠM TỘI GIẾT NGƯỜI KHI CỐ Ý LÁI XE CHÈN LÊN BỊ HẠI SAU KHI GÂY RA TAI NẠN GIAO THÔNG

Án lệ số 30, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xác định hành vi cố ý giết người dựa trên các tình tiết khách quan của vụ án, lời khai của bị cáo và nhân chứng để kết luận: (i)bị cáo đã có hành vi giết người khi vẫn nhận thức được đầy đủ tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi của minh, và (ii) bị cáo biết rõ hậu quả chết người sẽ xảy ra và có mong muốn hậu quả này xảy ra hoặc có ý thức bỏ mặc hậu quả này xảy ra. Dưới đây là các quy định pháp luật có liên quan và phân tích, bình luận của Án lệ:

  1. QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT CÓ LIÊN QUAN:

Các điều 93, 202 Bộ luật Hình sự năm 1999 (tương ứng với các điều 123, 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017)).

  1. Bộ luật Hình sự 1999 (sửa đổi bổ sung 2009)

Điều 93. Tội giết người

  1. Người nào giết người thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

  1. Phạm tội không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.

Điều 202. Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ

  1. Người nào điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

…..

  1. Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung 2017)

Điều 123. Tội giết người

  1. Người nào giết người thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:

….

  1. Phạm tội không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm.

…..

Điều 260. Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
  2. Làm chết 01 người hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

…..

Liên hệ Luật STC để được tư vấn các tội danh liên quan đến Án lệ số 30
Liên hệ Luật STC để được tư vấn các tội danh liên quan đến Án lệ số 30
  1. PHÂN TÍCH VÀ BÌNH LUẬN
  2. Phân biệt Tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” và Tội “Giết người”

a, Tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”

Những hành vi vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ không có tính chất nguy hiểm, không gây thiệt hại cho xã hội chỉ bị xử phạt vi phạm hành chính. Đối với những hành vi vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ có tính chất nguy hiểm cao, gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khỏe, tài sản của người khác và hành vi có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả đặc biệt nghiêm trọng nếu không được ngăn chặn kịp thời sẽ bị coi là tội phạm và được quy định trong Bộ luật hình sự.

Nếu hành vi vi phạm các quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà chưa gây ra thiệt hại về tính mạng hoặc gây thương tích, thiệt hại tài sản thì chưa cấu thành tội phạm (trừ trường hợp vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ mà có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả gây thiệt hại cho tính mạng, sức khỏe hoặc tài sản của người khác nếu không được ngăn chặn kịp thời). Hậu quả của tai nạn giao thông là một trong các căn cứ để xác định trách nhiệm mà người gây ra tai nạn phải gánh chịu.

Để phân biệt với tội “Giết người” thì tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” xảy ra khi chủ thể, tức người gây ra tai nạn không mong muốn hậu quả nạn nhân chết, không cố ý dùng mọi thủ đoạn tước bỏ tính mạng của nạn nhân.

 

b, Tội “Giết người”

Về hành vi, tội giết người cấu thành khi người phạm tội dùng mọi thủ đoạn nhằm tước đoạt mạng sống của người khác. Một người có thể cứu giúp người khác mà không cứu dẫn đến người đó chết cũng là hành vi của tội “Giết người”.

 

Nếu một người đã cố ý tước đoạt tính mạng nhưng nạn nhân không chết thì vẫn cấu thành tội Giết người. Người phạm tội nhận thức được hành vi của mình có thể tước đoạt mạng sống của người khác, thấy trước hậu quả rằng nạn nhân có thể chết, không mong muốn nhưng vẫn để hậu quả xảy ra thì vẫn cấu thành tội “Giết người”

 

Để phân biệt với tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” thì tội “Giết người” xảy ra khi tội phạm có mong muốn nạn nhân chết và có hành vi cố ý tước bỏ tính mạng nạn nhân.

Hành vi cố ý điều khiển xe chèn lên bị hại sau khi gây tai nạn có thể cấu thành tội “Giết người” quy định tại Điều 123 Bộ luật dân sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017 nếu đáp ứng đầy đủ các đặc điểm sau đây.

Về mặt khách quan: Người phạm tội có hành vi tước đoạt tính mạng của nạn nhân sau khi gây tai nạn. Đây thuộc dạng hành vi hành động. Hậu quả làm nạn nhân chết.

Về mặt chủ quan: Người thực hiện với lỗi cố ý, người phạm tội nhận thức được hành vi chèn xe của mình có thể dẫn đến nguyên nhân tử vong cho nạn nhân nhưng vẫn thực hiện và mong muốn nạn nhân thiệt mạng.

Về mặt khách thể: Tội phạm xâm phạm đến mối quan hệ liên quan đến tính mạng của con người được pháp luật hình sự bảo vệ; quyền được sống của con người được pháp luật bảo vệ.

Về mặt chủ thể: Chủ thể là người có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ.

  1. Án lệ số 30/2020/AL hành vi cố ý điều khiển phương tiện giao thông chèn lên bị hại sau khi gây tai nạn

Tóm tắt Án lệ

Sau khi gây ra tai nạn giao thông cho bị hại – Hoàng Đức P, bị cáo Phan Đình Q dừng xe xuống kiểm tra thấy bị hại nằm dưới gầm xe ô tô, tay phải nằm vắt ra ngoài, bánh phía sau bên phụ của ô tô đè lên phần vai, gáy của em P, phần mặt bên trái của P tiếp xúc với mặt đường. Không xác định được bị hại còn sống hay đã chết, bị cáo tiếp tục điều khiển xe chèn lên người bị hại. Hậu quả là bị hại chết.

Hướng giải quyết của Án lệ

Thẩm phán tuyên bố bị cáo Phan Đình Q phạm tội “Giết người” Áp dụng khoản 2 Điều 93; điểm b khoản 1,2 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999, xử phạt: Phan Đình Q 13 (mười ba) năm 6 (sáu) tháng tù.

  1. Bình luận hướng giải quyết

Trong Án lệ số 30, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xác định hành vi có ý giết người dựa trên các tình tiết khách quan của vụ án, lời khai của bị cáo và nhân chứng để kết luận:

(i)bị cáo đã có hành vi giết người khi vẫn nhận thức được đầy đủ tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi của minh, và

(ii) bị cáo biết rõ hậu quả chết người sẽ xảy ra và có mong muốn hậu quả này xảy ra hoặc có ý thức bỏ mặc hậu quả này xảy ra.

Trong tình huống án lệ, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội không giải thích rõ về hai giai đoạn trong diễn biến phạm tội gồm (1) bị cáo gây tai nạn giao thông do khi điều khiển xe chuyển hướng nhưng không quan sát kỹ; và (2) bị cáo có hành vi giết người sau khi kiểm tra tình trạng nạn nhân khi có tai nạn. Theo đó, nội dung án lệ không xác định cụ thể hành vi vi phạm pháp luật về giao thông đường bộ của bị cáo là gì trong giai đoạn (1), nếu xảy ra hậu quả chết người thì có nằm ngoài ý thức chủ quan của người phạm tội hay không, hay nói cách khác có phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông hay không. Tuy nhiên, kết luận của án lệ là phù hợp, vì hành vi cố ý giết người trong giai đoạn (2) của bị cáo là rõ ràng.

Như đã phân tích ở trên, Án lệ số 30 đã đưa ra đường lối hướng dẫn Tòa án các cấp áp dụng chính xác hơn các quy định của pháp luật hình sự trong việc xác định hành vi giết người hay hành vi vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ mà làm chết người. Các kết luận được nêu tại Ấn lệ số 30 đã đánh giá chính xác được tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi cũng như ý thức chủ quan của người phạm tội là cố ý giết người.

Mặc dù, đã có án lệ số 30/2020/AL và một số văn bản hướng dẫn về về hành vi cố ý điều khiển phương tiện giao thông chèn lên bị hại sau khi xảy ra tai nạn giao thông là phạm tội “Giết người” nhưng trong thực tiễn mỗi vụ án có những tình tiết riêng hoặc có một số trường hợp đối tượng thực hiện hành vi phạm tội giết người bằng phương tiện giao thông nhưng quá trình điều tra, việc chứng minh tội phạm và thu thập chứng cứ cũng như xác định các tình tiết định khung tăng nặng như “Có tính chất côn đồ” hoặc “ Thực hiện tội phạm một cách man rợ”… còn gặp nhiều khó khăn và thiếu thống nhất.

Ví dụ như nội dung vụ án sau đây do tác giả Cao Phạm Tuân – Trần Thị Thu Hiền cung cấp trong bài: “Bàn về vấn đề chuyển hóa tội danh từ “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” sang “Giết người””[1]

Nội dung vụ án sau đây là một ví dụ về việc khó khăn trong xác định tội danh về hành vi gây tai nạn giao thông nhưng vẫn không dừng xe mà cố ý điều khiển phương tiện giao thông bỏ chạy gây hậu quả chết người:

Khoảng 22 giờ 25 phút, ngày 04/2/2020, Hoàng Văn T trú tại thôn C, huyện H, tỉnh Q điều khiển xe ô tô, BKS 73A – 045.xx chạy trên Quốc lộ 1A theo hướng Bắc – Nam, khi đến đoạn km 598 + 100, Quốc lộ 1A, thuộc địa phận xã Đ, huyện T, tỉnh Q. Phát hiện phía trước cách đầu xe ô tô khoảng 3m có ông T.H.P  đang dắt xe đạp đi qua đường theo hướng Tây Nam – Đông Bắc, do không xử lý kịp nên xe ô tô BKS 73A – 045. xx do Hoàng Văn T điều khiển đã đâm vào ông P, làm xe đạp bị văng về trước bên trái, ông P bị cuốn mắc kẹt dưới gầm xe ô tô. Sau khi gây tai nạn, biết ông P bị cuốn đang mắc dưới gầm xe ô tô nhưng T không dừng lại mà tiếp tục đánh lái sang phải kéo lê ông P chạy khoảng 100 mét, T thấy xe bị ì nặng, đuối máy khó đi, nên T đạp chân côn cài từ số 4 về số 3 rồi đạp chân ga tiếp tục cho xe chạy khoảng 1,5km đến đoạn đường vắng người qua lại. T cho xe dừng lại, xuống xe quan sát thấy 02 chân của nạn nhân tại vị trí gắn biển số xe ô tô phía trước, T tiếp tục điều khiển xe gài số lùi xe cho xe lùi khoảng 02 mét thì nạn nhân rơi xuống đường.  Sau đó, T đánh tay lái sang trái rồi điều khiển xe bỏ chạy vào đường liên thôn mục đích tránh trạm thu phí rồi về nhà ở huyện T H. Hậu quả ông T.H.P bị chết.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 164/TT, ngày 19/11/2019 của Trung tâm giám định Y khoa – Pháp y tỉnh Q kết luận: Dấu hiệu chính qua giám định: Vùng mặt biến dạng, vùng đầu mặt bên phải có vết thương, kích thước 19 x 11cm, bờ mép vết thương nham nhỡ; Vỡ lún xương sọ vùng trán đỉnh thái dương phải, kích thước 9 x 7cm; Tổ chức não dập nát, phòi ra ngoài; Gãy sập xương gò má phải và xương hàm bên phải; Lồng ngực biến dạng, gãy cung trước các xương sườn từ số 2 đến số 9 ở cả hai bên, gãy xương bả vai phải. Gãy cung sau các xương sườn số 7, 8, 9, 10 bên phải. Nguyên nhân nạn nhân chết: Chấn thương sọ não, chấn thương ngực kín.

Sau khi vụ án được thụ lý đã có nhiều quan điểm về xác định tội danh và khung hình phạt đối với T như sau:

Quan điểm thứ nhất: T chỉ phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định khoản 2 tại Điều 260 BLHS. Bởi vì khi điều khiển xe lưu thông trên đường T đã phát hiện ra nạn nhân nhưng do xe chạy tốc độ nhanh, xử lý kém nên T đã đâm vào nạn nhân gây tai nạn khiến ông T tử vong. Việc T điều khiển xe chạy tiếp 1,5km sau đó lùi lại để nạn nhân không bị giắt vào xe và điều khiển xe về nhà là do tâm lý hoảng loạn của T khi gây ra tai nạn nhằm trốn tránh sự phát hiện của cơ quan chức năng, đây là tình tiết định khung tăng nặng quy định tại điểm c khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự “Bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn”. T không thể chắc chắn rằng khi điều khiển xe chạy tiếp nạn nhân có bị rơi ra hay không và có thể bị phát hiện. Do đó việc điều khiển xe kéo lê nạn nhân của T không phải là lỗi cố ý nên T không thể phạm tội “Giết người” mà chỉ phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại Điều 260 BLHS.

Quan điểm thứ hai: T phạm tội “Giết người” với tình tiết định khung “Thực hiện tội phạm một cách man rợ” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015. Bởi vì khi gây tai nạn cho ông P, T biết ông P bị mắc kẹt trong gầm xe nhưng không dừng lại đế cứu nạn nhân mà tiếp tục điều khiển xe ô tô kéo lê nạn nhân chạy khoảng 1,5km để tìm nơi vắng người cài số lùi cho nạn nhân rơi xuống rồi bỏ mặc nhằm trốn tránh trách nhiệm. T hoàn toàn có thể nhận thức được việc tiếp tục cho xe chạy kéo lê nạn nhân theo sẽ càng gây nguy hiểm cho nạn nhân và khiến thân thể của nạn nhân bị đau đớn, không nguyên vẹn trước khi chết và sự việc này sẽ gây tâm lý hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân nhưng T vẫn cố ý thực hiện nhằm mục đích trốn tránh nghĩa vụ gây hậu quả nạn nhân chết với rất nhiều thương tích. Do đó, T phải chịu TNHS về tội “Giết người” với tình tiết định khung “Thực hiện tội phạm một cách man rợ” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Quan điểm thứ ba: T phạm tội “Giết người” theo khoản 2 Điều 123 Bộ luật hình sự năm 2015. Vì hành vi của T điều khiển xe ô tô gây tai nạn là do T thiếu quan sát, xử lý kém nên đã vô ý gây tai nạn giao thông cho ông P. Sau khi tai nạn xảy ra T biết nạn nhân đang bị mắc kẹt dưới gầm xe nhưng không dừng lại mà cố ý điều khiển xe ô tô tiếp tục chạy, kéo lê ông P khoảng 1,5km, gài số lùi để ông P rơi ra khỏi gầm xe rồi bỏ mặc cho hậu quả xảy ra làm ông P tử vong với nhiều thương tích. Do đó hành vi của T không phải phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, cũng không phải phạm tội “Giết người” với tình tiết định khung tăng nặng “Thực hiện tội phạm một cách man rợ” mà phạm tội “Giết người” với lỗi cố ý gián tiếp quy định tại khoản 2 Điều 123 BLHS.

Quan điểm thứ ba cũng đồng thời là quan điểm của tác giả: Việc định tội danh này là phù hợp nhất, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo bởi vì: Nguyên nhân ban đầu xảy ra vụ án là do bị cáo thiếu chú ý quan sát trong khi điều khiển xe ô tô nên đã gây ra tai nạn, làm ông P bị cuốn mắc kẹt dưới gầm xe ô tô của bị cáo, đó là lỗi vô ý. Nếu sau khi gây tai nạn, bị cáo dừng xe lại để kiểm tra tình trạng nạn nhân nhằm có cách xử lý phù hợp thì bị cáo chỉ phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định khoản 2 tại Điều 260 BLHS.

Tuy nhiên, sau khi gây tai nạn bị cáo biết nạn nhân đang mặc kẹt dưới gầm xe nhưng bị cáo vẫn cố ý điều khiển cho xe tiếp tục chạy, kéo lê nạn nhân một quãng đường dài khoảng 1,5km rồi gài số lùi để nạn nhân rơi ra khỏi xe, bỏ mặc nạn nhân làm cho ông P chết với nhiều thương tích trên cơ thể. Việc T điều khiển xe kéo lê nạn nhân rồi lùi xe đằn lên cơ thể nạn nhân làm cho nạn nhân chết nhằm trốn nghĩa vụ là hành vi cố ý. Do đó hành vi của T không phải phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” mà chuyển hóa thành tội “Giết người” theo quy định tại khoản 2 Điều 123 BLHS. Việc T cố ý điều khiển xe kéo lê nạn nhân và gài số lùi để nạn nhân rơi ra khỏi xe nhằm mục đích tránh bị phát hiện đã cấu thành tội giết người, do đó nếu xác định T phạm tội “Giết người” với tình tiết định khung tăng nặng “Thực hiện tội phạm một cách man rợ” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015 là chưa phù hợp với hành vi của bị cáo. Chính vì T cố ý điều khiển xe kéo lê nạn nhân và lùi xe lên nạn nhân nên hành vi của bị cáo T đã chuyển hóa thành tội “Giết người”. Vì vậy, T không phải chịu tình tiết định khung tặng tặng “Thực hiện tội phạm một cách man rợ” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015 mà chỉ phạm tội “Giết người” theo khoản 2 Điều 123 với cấu thành cơ bản có mức hình phạt từ 07-15 năm tù là tương xứng với hành vi của bị cáo.

Trong cả án lệ số 30/2020 và ví dụ mà tôi dẫn chứng từ bài viết trên tạp chí kiểm sát, việc phạm tội giết người khi cố ý lái xe chèn lên bị hại sau khi xảy ra tai nạn giao thông, tại hiện trường không có người chứng kiến, không có camera ghi lịa hình ảnh xảy ra, không có hình ảnh hay video liên quan từ các khu vực gần đó, vì vậy để xác định tội của bị cáo cơ quan tố tụng dựa trên lời khai của người phạm tội, các biên bản khám nghiệm tử thi, kết luận giám định pháp y và sơ đồ hiện trường. Việc chuyển hóa tâm lý tội phạm, bước đầu từ vô ý gây tai nạn sang cố ý giết người với lỗi cố ý gián tiếp rất khó xác định bởi chỉ dựa vào lời khai của người phạm tội với tâm lý muốn trốn tránh trách nhiệm hình sự thì chưa đủ căn cứ và sự thống nhất trong việc giải quyết các vụ án có sự chuyển hóa từ tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” sang tội “Giết người”. Thiết nghĩ, trong thời gian tới, các cơ quan tố tụng cần có văn bản hướng dẫn cụ thể hơn về các dấu hiệu chuyển hóa tội phạm, các tình tiết định khung tăng nặng khi áp dụng đối với tội phạm đã chuyển hóa nhằm đảm bảo việc giải quyết vụ án được chặt chẽ, thống nhất, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật./.

[1] Tạp chí Kiểm Sát, Đăng ngày 24/03/2020, truy cập https://kiemsat.vn/ban-ve-van-de-chuyen-hoa-toi-danh-tu-vi-pham-quy-dinh-ve-tham-gia-giao-thong-duong-bo-sang-giet-nguoi-56944.html ngày 29/07/2022

* Để hiểu thêm vấn đề này, vui lòng liên hệ đến số hotline 0988873883 của Luật STC để được luật sư tư vấn miễn phí.

Công ty Luật TNHH STC

Văn phòng tại Hà Nội: Tầng 5, Tòa nhà AC, Ngõ 78, Phố Duy Tân, Phường Dịch Vọng Hậu, Quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội.

Hotline: 0988873883

Email: stclawfirm.vn@gmail.com

Website: https://stclawfirm.com/

Văn phòng tại Thành phố Hồ Chí Minh: Landmark 81, Vinhomes Central Park, số 208 Nguyễn Hữu Cảnh và số 720A Điện Biên Phủ, phường 22, quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh.

0988873883