Quyết định hình phạt đối với pháp nhân thương mại

Khi quyết định hình phạt đối với pháp nhân thương mại, Tòa án phải căn cứ vào các quy định của Bộ luật hình sự 2015 để lựa chọn biện pháp xử lý trong đó có lựa chọn loại và xác định mức hình phạt cụ thể áp dụng đối với pháp nhân thương mại.

1.Căn cứ quyết định hình phạt

Điều 83 Bộ luật hình sự 2015 quy định các căn cứ quyết định hình phạt đối với pháp nhân thương mại. Theo đó căn cứ này bao gồm:

– Căn cứ vào Bộ luật hình sự 2015

– Tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội

– Việc chấp hành pháp luật của pháp nhân thương mại

– Các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự áp dụng đối với pháp nhân thương mại

2.Pháp nhân thương mại phạm nhiều tội sẽ có quyết định hình phạt như nào?

Khi xét xử cùng 01 lần pháp nhân thương mại phạm nhiều tội, Tòa án quyết định hình phạt đối với từng tội và tổng hợp hình phạt theo quy định sau đây:

Đối với hình phạt chính: căn cứ khoảng 13 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật hình sự 2017

+ Nếu các hình phạt đã tuyên cùng là phạt tiền thì các khoản tiền phạt được cộng lại thành hình phạt chung. Hình phạt tiền không tổng hợp với các hình phạt khác;

+ Nếu các hình phạt đã tuyên là đình chỉ hoạt động có thời hạn và đình chỉ hoạt động vĩnh viễn trong cùng lĩnh vực hoặc hình phạt đã tuyên cùng là đình chỉ hoạt động vĩnh viễn trong cùng lĩnh vực thì hình phạt chung là đình chỉ hoạt động vĩnh viễn trong lĩnh vực đó;

+ Nếu các hình phạt đã tuyên là đình chỉ hoạt động có thời hạn trong cùng lĩnh vực thì được tổng hợp thành hình phạt chung nhưng không vượt quá 04 năm;

+ Nếu trong số các hình phạt đã tuyên có hình phạt đình chỉ hoạt động vĩnh viễn thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 79 của Bộ luật hình sự 2015 thì hình phạt chung là đình chỉ hoạt động vĩnh viễn đối với toàn bộ hoạt động;

+ Nếu các hình phạt đã tuyên là đình chỉ hoạt động có thời hạn trong các lĩnh vực khác nhau hoặc đình chỉ hoạt động vĩnh viễn trong các lĩnh vực khác nhau hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn và đình chỉ hoạt động vĩnh viễn trong các lĩnh vực khác nhau thì không tổng hợp.

Đối với hình phạt bổ sung: căn cứ khoản 2 Điều 86 Bộ luật hình sự 2015

+ Nếu các hình phạt đã tuyên là cùng loại thì hình phạt chung được quyết định trong giới hạn do Bộ luật này quy định đối với hình phạt đó; riêng đối với hình phạt tiền thì các khoản tiền được cộng lại thành hình phạt chung;

+ Nếu các hình phạt đã tuyên là khác loại thì pháp nhân thương mại bị kết án phải chấp hành tất cả các hình phạt đã tuyên.

  1. Tổng hợp hình phạt khi pháp nhân thương mại chịu cùng lúc nhiều bản án

Trường hợp này được hướng dẫn trong Điều 87 Bộ luật hình sự 2015. Nội dung chi tiết như sau:

–  Trường hợp pháp nhân thương mại đang chấp hành một bản án mà lại bị xét xử về tội đã phạm trước khi có bản án này, thì Tòa án quyết định hình phạt đối với tội đang bị xét xử, sau đó quyết định hình phạt chung theo quy định tại Điều 86 của Bộ luật này.

Thời gian đã chấp hành hình phạt của bản án trước về đình chỉ hoạt động có thời hạn, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt chung.

– Khi xét xử một pháp nhân thương mại đang phải chấp hành một bản án mà lại thực hiện hành vi phạm tội mới, Tòa án quyết định hình phạt đối với tội mới, sau đó tổng hợp với phần hình phạt chưa chấp hành của bản án trước rồi quyết định hình phạt chung theo quy định tại Điều 86 của Bộ luật này.

– Trong trường hợp một pháp nhân thương mại phải chấp hành nhiều bản án đã có hiệu lực pháp luật mà các hình phạt của các bản án chưa được tổng hợp, thì Chánh án Tòa án có thẩm quyền ra quyết định tổng hợp hình phạt của các bản án theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này.

  1. Khi nào pháp nhân thương mại được miễn hình phạt và xóa án tích?

Miễn hình phạt: khi đã khắc phục toàn bộ hậu quả và đã bồi thường toàn bộ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra.

Xóa án tích: nếu trong thời hạn 02 năm kể từ khi chấp hành xong hình phạt chính, hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án mà pháp nhân thương mại không thực hiện hành vi phạm tội mới.

Công ty Luật TNHH STC

Văn phòng tại Hà Nội: Tầng 5, Tòa nhà AC, Ngõ 78, Phố Duy Tân, Phường Dịch Vọng Hậu, Quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội.

Hotline: 0988873883

Email: stclawfirm.vn@gmail.com

Website: https://stclawfirm.com/

Văn phòng tại Thành phố Hồ Chí Minh: Landmark 81, Vinhomes Central Park, số 208 Nguyễn Hữu Cảnh và số 720A Điện Biên Phủ, phường 22, quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh.

 

Áp dụng tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại phạm tội

Qua các bài viết trước, Luật STC đã chia sẻ với bạn đọc những kiến thức về khái niệm pháp nhân thương mại, các hình phạt cũng như những biện pháp tư pháp có thể áp dụng khi pháp nhân thương mại phạm tội. 

Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là một trong những căn cứ quan trọng để Tòa án quyết định một mức hình phạt cụ thể đối với pháp nhân thương mại phạm tội. Để có thể quyết định một mức hình phạt phù hợp tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội thì cần hiểu rõ và đảm bảo việc áp dụng mang tính trừng phạt, răn đe nhưng đồng thời mang tính giáo dục, cảm hóa.

  1. Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự với pháp nhân thương mại

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là tình tiết làm cho mức độ nguy hiểm của trường hợp phạm tội cụ thể giảm đi, là một trong những căn cứ quan trọng để Tòa án quyết định hình phạt cụ thể đối với đối tượng phạm tội.

Với pháp nhân thương mại, các tình tiết giảm nhẹ được hướng dẫn tại Điều 84 Bộ luật hình sự 2015 cụ thể như sau:

– Các tình tiết sau đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

+ Đã ngăn chặn hoặc làm giảm bớt tác hại của tội phạm;

+ Tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả;

+ Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn;

+ Tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án (khoản 12 Điều 1 luật sửa đổi Bộ luật hình sự 2017);

+ Có nhiều đóng góp trong việc thực hiện chính sách xã hội.

– Khi quyết định hình phạt, Tòa án có thể coi các tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ, nhưng phải ghi rõ lý do giảm nhẹ trong bản án.

– Các tình tiết giảm nhẹ đã được Bộ luật này quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung thì không được coi là tình tiết giảm nhẹ trong khi quyết định hình phạt.

Liên hệ Luật STC để được tư vấn các quy định của Bộ luật Hình sự về pháp nhân thương mại
Liên hệ Luật STC để được tư vấn các quy định của Bộ luật Hình sự về pháp nhân thương mại
  1. Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự với pháp nhân thương mại

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là các tình tiết làm tăng mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, là căn cứ để tăng nặng trách nhiệm hình sự của đối tượng phạm tội (trong phạm vi một khung hình phạt) so với các trường hợp phạm tội tương tự khác nhưng không có tình tiết tăng nặng đó.

Với pháp nhân thương mại phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được liệt kê tại Điều 85 Bộ luật hình sự 2015 như sau:

Chỉ các tình tiết sau đây mới là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

+ Câu kết với pháp nhân thương mại khác để phạm tội;

+ Cố ý thực hiện tội phạm đến cùng;

+ Phạm tội 02 lần trở lên;

+ Tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm;

+ Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp, thiên tai, dịch bệnh hoặc những khó khăn đặc biệt khác của xã hội để phạm tội;

+ Dùng thủ đoạn tinh vi để phạm tội hoặc nhằm trốn tránh, che giấu tội phạm.

– Các tình tiết đã được Bộ luật này quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung hình phạt thì không được coi là tình tiết tăng nặng.

Công ty Luật TNHH STC

Văn phòng tại Hà Nội: Tầng 5, Tòa nhà AC, Ngõ 78, Phố Duy Tân, Phường Dịch Vọng Hậu, Quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội.

Hotline: 0988873883

Email: stclawfirm.vn@gmail.com

Website: https://stclawfirm.com/

Văn phòng tại Thành phố Hồ Chí Minh: Landmark 81, Vinhomes Central Park, số 208 Nguyễn Hữu Cảnh và số 720A Điện Biên Phủ, phường 22, quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh.

NGƯỜI ĐẠI DIỆN TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ

Việc đại diện trong vụ án dân sự rất phổ biến. Tuy nhiên để việc đại diện trong tố tụng dân sự có giá trị pháp lý, người đại diện phải thỏa mãn các điều kiện quy định tại Điều 85 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 như sau:

1. Người đại diện trong tố tụng dân sự bao gồm người đại diện theo pháp luật và người đại diện theo ủy quyền. Người đại diện có thể là cá nhân hoặc pháp nhân theo quy định của Bộ luật dân sự.

Điều 134 Bộ luật dân sự 2015 quy định về Đại diện:

“1. Đại diện là việc cá nhân, pháp nhân (sau đây gọi chung là người đại diện) nhân danh và vì lợi ích của cá nhân hoặc pháp nhân khác (sau đây gọi chung là người được đại diện) xác lập, thực hiện giao dịch dân sự.

2.Cá nhân, pháp nhân có thể xác lập, thực hiện giao dịch dân sự thông qua người đại diện. Cá nhân không được để người khác đại diện cho mình nếu pháp luật quy định họ phải tự mình xác lập, thực hiện giao dịch đó.

3.Trường hợp pháp luật quy định thì người đại diện phải có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập, thực hiện.”

2.Người đại diện theo pháp luật theo quy định của Bộ luật dân sự là người đại diện theo pháp luật trong tố tụng dân sự, trừ trường hợp bị hạn chế quyền đại diện theo quy định của pháp luật.

Cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác cũng là người đại diện theo pháp luật trong tố tụng dân sự của người được bảo vệ.

3.Tổ chức đại diện tập thể lao động là người đại diện theo pháp luật cho tập thể người lao động khởi kiện vụ án lao động, tham gia tố tụng tại Tòa án khi quyền, lợi ích hợp pháp của tập thể người lao động bị xâm phạm; tổ chức đại diện tập thể lao động đại diện cho người lao động khởi kiện vụ án lao động, tham gia tố tụng khi được người lao động ủy quyền.

Trường hợp nhiều người lao động có cùng yêu cầu đối với người sử dụng lao động, trong cùng một doanh nghiệp, đơn vị thì họ được ủy quyền cho một đại diện của tổ chức đại diện tập thể lao động thay mặt họ khởi kiện vụ án lao động, tham gia tố tụng tại Tòa án.

4.Người đại diện theo ủy quyền theo quy định của Bộ luật dân sự là người đại diện theo ủy quyền trong tố tụng dân sự.

Đối với việc ly hôn, đương sự không được ủy quyền cho người khác thay mặt mình tham gia tố tụng. Trường hợp cha, mẹ, người thân thích khác yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật hôn nhân và gia đình thì họ là người đại diện.

*Lưu ý: Khi thực hiện việc đại diện, người đại diện cần xác định rõ quyền, nghĩa vụ của mình theo đúng quy định tại Điều 86 Bộ luật Dân sự 2015:

Công ty Luật TNHH STC

Văn phòng tại Hà Nội: Tầng 5, Tòa nhà AC, Ngõ 78, Phố Duy Tân, Phường Dịch Vọng Hậu, Quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội.

Hotline: 0988873883

Email: stclawfirm.vn@gmail.com

Website: https://stclawfirm.com/

Văn phòng tại Thành phố Hồ Chí Minh: Landmark 81, Vinhomes Central Park, số 208 Nguyễn Hữu Cảnh và số 720A Điện Biên Phủ, phường 22, quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh.

BIỆN PHÁP TƯ PHÁP ÁP DỤNG CHO PHÁP NHÂN THƯƠNG MẠI

Biện pháp tư pháp là biện pháp cưỡng chế nhà nước được quy định trong luật hình sự và do tòa án áp dụng, bổ sung cho hệ thống hình phạt với mục đích thay thế hoặc hỗ trợ hình phạt. Cụ thể hơn, với đối tượng là pháp nhân thương mại các biện pháp tư pháp áp dụng được quy định tại điều 82 Bộ luật hình sự 2015:

Các biện pháp tư pháp áp dụng đối với pháp nhân thương mại phạm tội (Điều 82).

1.Tòa án có thể quyết định áp dụng các biện tư pháp sau đây đối với pháp nhân thương mại phạm tội:

a) Các biện pháp tư pháp quy định tại Điều 47 và Điều 48 của Bộ luật này;

b) Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu;

c) Buộc thực hiện một số biện pháp nhằm khắc phục, ngăn chặn hậu quả tiếp tục xảy ra.

2.Tòa án có thể quyết định áp dụng biện pháp tư pháp buộc pháp nhân thương mại phạm tội phải khôi phục lại tình trạng ban đầu đã bị thay đổi do hành vi phạm phạm tội của mình gây ra.

Tại khoản 1 điều 82 dẫn chiếu đến các điều 47 và 48 bộ luật này. Nội dung cụ thể của điều 47 và 48 như sau:

Điều 47. Tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm

1.Việc tịch thu sung vào ngân sách nhà nước hoặc tịch thu tiêu hủy được áp dụng đối với:

a) Công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội;

b) Vật hoặc tiền do phạm tội hoặc do mua bán, đổi chác những thứ ấy mà có; khoản thu lợi bất chính từ việc phạm tội;

c) Vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành. ( đã bổ sung theo điểm b khoản 1 điều 2 Luật sửa đổi Bộ luật hình sự 2017)

2.Đối với vật, tiền bị người phạm tội chiếm đoạt hoặc sử dụng trái phép, thì không tịch thu mà trả lại cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp.

3.Vật, tiền là tài sản của người khác, nếu người này có lỗi trong việc để cho người phạm tội sử dụng vào việc thực hiện tội phạm, thì có thể bị tịch thu.

Điều 48. Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại; buộc công khai xin lỗi

  1. Người phạm tội phải trả lại tài sản đã chiếm đoạt cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp, phải sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại vật chất đã được xác định do hành vi phạm tội gây ra.
  2. Trong trường hợp phạm tội gây thiệt hại về tinh thần, Tòa án buộc người phạm tội phải bồi thường về vật chất, công khai xin lỗi người bị hại.

Tại khoản 3 điều 82 Bộ luật hình sự 2015 quy định chi tiết hơn các biện pháp tư pháp nhằm khắc phục và ngăn chặn hậu quả của tội phạm. Căn cứ vào từng trường hợp cụ thể, Tòa án có thể quyết định buộc pháp nhân thương mại phạm tội phải thực hiện một hoặc một số biện pháp sau đây:

– Buộc tháo dỡ công trình, phần công trình xây dựng không có giấy phép hoặc xây dựng không đúng với giấy phép;

– Buộc khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường, lây lan dịch bệnh;

– Buộc đưa ra khỏi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoặc tái xuất hàng hóa, vật phẩm, phương tiện được đưa vào lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, nhập khẩu trái với quy định của pháp luật hoặc được tạm nhập, tái xuất nhưng không tái xuất theo đúng quy định của pháp luật; hàng hóa nhập khẩu, quá cảnh xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, hàng hóa giả mạo quyền sở hữu trí tuệ, phương tiện, nguyên liệu, vật liệu nhập khẩu được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh hàng hóa giả mạo về sở hữu trí tuệ sau khi đã loại bỏ yếu tố vi phạm;

– Buộc tiêu hủy hàng hóa, vật phẩm gây hại cho sức khỏe con người, vật nuôi, cây trồng và môi trường, văn hóa phẩm có nội dung độc hại hoặc tang vật khác thuộc đối tượng bị tiêu hủy theo quy định của pháp luật;

– Buộc loại bỏ yếu tố vi phạm trên hàng hóa, bao bì hàng hóa, phương tiện kinh doanh, vật phẩm;

– Buộc thu hồi sản phẩm, hàng hóa vi phạm đang lưu thông trên thị trường.

Tổng kết lại, qua các Điều 47,48 và 82 Bộ luật hình sự 2015, ta thấy các biện pháp tư pháp được áp dụng đối với pháp nhân thương mại bao gồm những hình thức sau:

– Tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm

– Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại; buộc công khai xin lỗi

– Khôi phục lại tình trạng ban đầu

– Thực hiện một số biện pháp nhằm khắc phục, ngăn chặn hậu quả tiếp tục xảy ra

Để hiểu rõ hơn mời bạn đọc tiếp các bài viết tiếp theo cũng như liên hệ:

Công ty Luật TNHH STC

Văn phòng tại Hà Nội: Tầng 5, Tòa nhà AC, Ngõ 78, Phố Duy Tân, Phường Dịch Vọng Hậu, Quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội.

Hotline: 0988873883

Email: stclawfirm.vn@gmail.com

Website: https://stclawfirm.com/

Văn phòng tại Thành phố Hồ Chí Minh: Landmark 81, Vinhomes Central Park, số 208 Nguyễn Hữu Cảnh và số 720A Điện Biên Phủ, phường 22, quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh.

 

 

 

CÁC HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI PHÁP NHÂN THƯƠNG MẠI

Bộ luật hình sự 2015 quy định các hình phạt đặc thù cho đối tượng là pháp nhân thương mại khi phạm tội. Bài viết dưới đây của Luật STC sẽ giúp các doanh nghiệp nắm rõ các hình thức phạt theo quy định của pháp luật đối với trách nhiệm hình sự.

  1. Các hình phạt đối với pháp nhân thương mại?

Theo Điều 33 Bộ luật hình sự 2015 quy định về hình phạt như sau:

–  Hình phạt chính bao gồm:

+ Phạt tiền;

+ Đình chỉ hoạt động có thời hạn;

+ Đình chỉ hoạt động vĩnh viễn.

–  Hình phạt bổ sung bao gồm:

+ Cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định;

+ Cấm huy động vốn;

+ Phạt tiền, khi không áp dụng là hình phạt chính.

Chú ý: Đối với mỗi tội phạm chỉ bị áp dụng một hình phạt chính và có thể bị áp dụng một hoặc một số hình phạt bổ sung.

Doanh nghiệp liên hệ Luật STC để được tư vấn rõ các quy định của Bộ luật Hình sự áp dụng đối với pháp nhân thương mại
Doanh nghiệp liên hệ Luật STC để được tư vấn rõ các quy định của Bộ luật Hình sự áp dụng đối với pháp nhân thương mại
  1. Quy định cụ thể về các hình phạt chính

Các hình phạt chính đối được quy định tại các điều 77, 78, 79 Bộ luật hình sự 2015:

Phạt tiền: Điều 77

+ Phạt tiền được áp dụng là hình phạt chính hoặc hình phạt bổ sung đối với pháp nhân thương mại phạm tội.

+ Mức tiền phạt được quyết định căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm và có xét đến tình hình tài chính của pháp nhân thương mại phạm tội, sự biến động của giá cả nhưng không được thấp hơn 50.000.000 đồng.

–  Đình chỉ hoạt động có thời hạn: Điều 78

+ Đình chỉ hoạt động có thời hạn là tạm dừng hoạt động của pháp nhân thương mại trong một hoặc một số lĩnh vực mà pháp nhân thương mại phạm tội gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe con người, môi trường hoặc an ninh, trật tự, an toàn xã hội và hậu quả gây ra có khả năng khắc phục trên thực tế.

+ Thời hạn đình chỉ hoạt động từ 06 tháng đến 03 năm.

–  Đình chỉ hoạt động vĩnh viễn: Điều 79

+ Đình chỉ hoạt động vĩnh viễn là chấm dứt hoạt động của pháp nhân thương mại trong một hoặc một số lĩnh vực mà pháp nhân thương mại phạm tội gây thiệt hại hoặc có khả năng thực tế gây thiệt hại đến tính mạng của nhiều người, gây sự cố môi trường hoặc gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội và không có khả năng khắc phục hậu quả gây ra.

+ Pháp nhân thương mại được thành lập chỉ để thực hiện tội phạm thì bị đình chỉ vĩnh viễn toàn bộ hoạt động.

  1. Hình phạt bổ sung:

Các hình phạt bổ sung được quy định tại điều 77, 80, 81 Bộ luật hình sự 2015:

–  Phạt tiền: ( Điều 77) Khi không được áp dụng làm hình phạt chính

Cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định:Điều 80

+ Cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định được áp dụng khi xét thấy nếu để pháp nhân thương mại bị kết án tiếp tục kinh doanh hoặc hoạt động trong lĩnh vực đó, thì có thể gây nguy hại cho tính mạng, sức khỏe của con người hoặc cho xã hội.

+ Tòa án quyết định lĩnh vực cụ thể bị cấm kinh doanh hoặc cấm hoạt động.

+ Thời hạn cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định từ 01 năm đến 03 năm, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

–  Cấm huy động vốn: Điều 81

+ Cấm huy động vốn được áp dụng khi xét thấy nếu để pháp nhân thương mại bị kết án huy động vốn thì có nguy cơ tiếp tục phạm tội.

+ Các hình thức cấm huy động vốn bao gồm:

a) Cấm vay vốn ngân hàng, tổ chức tín dụng hoặc các quỹ đầu tư;

b) Cấm phát hành, chào bán chứng khoán;

c) Cấm huy động vốn khách hàng;

d) Cấm liên doanh, liên kết trong và ngoài nước;

đ) Cấm hình thành quỹ tín thác bất động sản.

+ Tòa án quyết định áp dụng một hoặc một số hình thức cấm huy động vốn quy định tại Điều này.

+ Thời hạn cấm huy động vốn là từ 01 năm đến 03 năm, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

Trên đây là tư vấn cơ bản của Luật STC về các hình phạt có thể áp dụng cho pháp nhân thương mại trong trách nhiệm hình sự. Bên cạnh đó, ngoài ra còn có thể áp dụng thêm các biện pháp tư pháp khác.

Để hiểu rõ hơn về các biện pháp tư pháp mời bạn đọc tiếp các bài viết tiếp theo cũng như liên hệ: Công ty Luật TNHH STC

Văn phòng tại Hà Nội: Tầng 5, Tòa nhà AC, Ngõ 78, Phố Duy Tân, Phường Dịch Vọng Hậu, Quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội.

Hotline: 0988873883

Email: stclawfirm.vn@gmail.com

Website: https://stclawfirm.com/

Văn phòng tại Thành phố Hồ Chí Minh: Landmark 81, Vinhomes Central Park, số 208 Nguyễn Hữu Cảnh và số 720A Điện Biên Phủ, phường 22, quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh.

 

 

 

 

 

 XỬ LÝ HÀNH VI LẮP ĐẶT BỤC, BỆ, VẬT CẢN TRÁI PHÉP TRÊN ĐƯỜNG NỘI ĐÔ

Mới đây, một đoạn ngõ ở phố Ngụy Như-Kon Tum của Hà Nội xuất hiện nhiều khóa cọc cấm đỗ xe được lắp đặt ngay dưới lòng đường. Đây là “sản phẩm” được lắp đặt nhằm mục đích không cho xe oto đỗ/đậu tại đoạn ngõ này. Thông tin sự việc được đăng tải trên báo Vnexpress (https://vnexpress.net/nhung-chu-nha-cong-phu-lap-coc-cam-do-xe-duoi-long-duong-4497339.html) gây nhiều chú ý của bạn đọc. Luật STC cũng nhận được câu hỏi về hành vi lắp đặt bục, bệ, vật cản trái phép trên đường nội đô của các chủ nhà có vi phạm pháp luật không? Luật STC giải đáp về câu hỏi này như sau:

Thứ nhất: Cần xác định đoạn ngõ bị lắp đặt khóa cọc thuộc loại đường bộ nào?

Theo điểm đ khoản 1 Điều 39 Luật giao thông đường bộ 2008 quy định: “Đường đô thị là đường trong phạm vi địa giới hành chính nội thành, nội thị”

Như vậy, đoạn ngõ ở phố Ngụy Như-Kon Tum, Hà Nội nơi xảy ra sự việc được xác định là đường đô thị do đó chịu điều chỉnh của Quyết định 09/2018/QĐ-UBND của UBND thành phố Hà Nội ban hành quy định về quản lý, khai thác và bảo trì hệ thống đường đô thị trên địa bàn thành phố Hà Nội.

Liên hệ Luật STC theo số HL 0988873883 để được tư vấn pháp luật miễn phí
Liên hệ Luật STC theo số HL 0988873883 để được tư vấn pháp luật miễn phí

Thứ hai: Hành vi của người lắp đặt có vi phạm điều cấm của pháp luật?

Việc đặt vật cản trái phép trên đường tiềm ẩn nguy cơ gây tai nạn cho người tham gia giao thông nhưng chưa bị xử lý tích cực và triệt để theo đúng quy định pháp luật. Bởi Điều 21 Quyết định 09/2018/QĐ-UBND của Thành phố Hà Nội quy định: “Các hành vi, hoạt động bị cấm khi sử dụng, khai thác đường đô thị được quy định tại khoản 3 Điều 36 Luật Giao thông đường bộ, mục IV phần I Thông tư 04/2008/TT-BXD ngày 20/02/2008 của Bộ Xây dựng về việc Hướng dẫn quản lý đường đô thị và các quy định khác có liên quan.

Cụ thể, hành vi trên vi phạm những điều luật sau:

-Vi phạm Khoản 3 Điều 36 Luật Giao thông đường bộ với các hành vi vi phạm tương ứng:

+ Xây, đặt bục bệ trái phép trên đường (Điểm c khoản 3 điều 36)

+ Hành vi khác gây cản trở giao thông ( Điểm i khoản 2 điều 35)

-Vi phạm Mục 4 phần I Thông tư 04/2008/TT-BXD ngày 20/2/2008 với hành vi vi phạm tương ứng: Lắp đặt, xây dựng bục, bệ dắt xe, bậc tam cấp vào nhà và công trình bên đường gây ảnh hưởng đến hoạt động của phương tiện giao thông và người đi bộ; gây mất mĩ quan đô thị.( điểm 6)

Như vậy, có đủ căn cứ xác định hành vi tự ý lắp đặt nhiều khóa cọc cấm đỗ xe được lắp đặt ngay dưới lòng đường trong ngõ đi chung nêu trên đã vi phạm quy định pháp luật giao thông đường bộ. Hành vi này tương ứng với hành vi xây, đặt bục bệ, vật cản trái phép trên đường quy định tại điểm c, khoản 3, Điều 36 Luật Giao thông đường bộ hiện hành.

Thứ ba: Chế tài xử lý người vi phạm?

Mọi hành vi vi phạm về bảo đảm trật tự an toàn giao thông, mỹ quan đô thị bị xử lý theo Nghị định 100/2019/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt.

Theo điểm b khoản 5 Điều 12 Nghị định 100/2019/NĐ-CP quy định:

“5. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với cá nhân, từ 4.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng đối với tổ chức thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:

b) Sử dụng trái phép lòng đường đô thị, hè phố để: Họp chợ; kinh doanh dịch vụ ăn uống; bày, bán hàng hóa; sửa chữa phương tiện, máy móc, thiết bị; rửa xe; đặt, treo biển hiệu, biển quảng cáo; xây, đặt bục bệ; làm mái che hoặc thực hiện các hoạt động khác gây cản trở giao thông, trừ các hành vi vi phạm quy định tại điểm d, điểm đ, điểm e, điểm g khoản 6; khoản 7; điểm a khoản 8 Điều này.

Ngoài việc bị áp dụng hình thức xử phạt, cá nhân vi phạm còn bị áp dụng biện pháp khác phục hậu quả căn cứ điểm d khoản 10 điều 12 nghị định này như sau: “Thực hiện hành vi quy định tại khoản 3; khoản 4; điểm b, điểm c, điểm d khoản 5; điểm a, điểm b, điểm c, điểm d, điểm e, điểm g, điểm h, điểm i khoản 6; khoản 7; điểm a khoản 8 Điều này buộc phải thu dọn rác, chất phế thải, phương tiện, vật tư, vật liệu, hàng hóa, máy móc, thiết bị, biển hiệu, biển quảng cáo, các loại vật dụng khác và khôi phục lại tình trạng ban đầu đã bị thay đổi do vi phạm hành chính gây ra”

Như vậy, người tự ý lắp đặt cọc cấm đỗ xe dưới lòng đường sẽ chịu đồng thời:

– Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng

– Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu của lòng đường thay đổi do vi phạm gây ra.

Trên đây là tư vấn cơ bản của Luật STC đối với hành vi lắp đặt vật cản trái phép trên đường nội đô. Để hiểu rõ hơn các quy định của pháp luật, mời bạn liên hệ:

Công ty Luật TNHH STC

Văn phòng tại Hà Nội: Tầng 5, Tòa nhà AC, Ngõ 78, Phố Duy Tân, Phường Dịch Vọng Hậu, Quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội.

Hotline: 0988873883

Email: stclawfirm.vn@gmail.com

Website: https://stclawfirm.com/

Văn phòng tại Thành phố Hồ Chí Minh: Landmark 81, Vinhomes Central Park, số 208 Nguyễn Hữu Cảnh và số 720A Điện Biên Phủ, phường 22, quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh.

 

TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ CỦA PHÁP NHÂN THƯƠNG MẠI

Bộ luật Hình sự 2015 đã quy định trách nhiệm của pháp nhân thương mại trong quá trình hoạt động với 15 nhóm tội sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự. Bài viết dưới đây sẽ tập trung vào trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp tránh những rủi ro pháp lý có thể gặp phải trong quá trình hoạt động.

1.Pháp nhân thương mại là gì?

Điều 75 Bộ luật dân sự 2015 quy định:

– Pháp nhân thương mại là pháp nhân có mục tiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận và lợi nhuận được chia cho các thành viên.

– Pháp nhân thương mại bao gồm doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế khác.

– Việc thành lập, hoạt động và chấm dứt pháp nhân thương mại được thực hiện theo quy định của Bộ luật này, Luật doanh nghiệp và quy định khác của pháp luật có liên quan.

 

Doanh nghiệp liên hệ số HL của Luật STC 0988873883 để được tư vấn miễn phí
Doanh nghiệp liên hệ số HL của Luật STC 0988873883 để được tư vấn miễn phí

2.Điều kiện chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại

Theo điều 75 BLHS 2015, Pháp nhân thương mại chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự khi có đủ các điều kiện sau đây:

– Hành vi phạm tội được thực hiện nhân danh pháp nhân thương mại;

– Hành vi phạm tội được thực hiện vì lợi ích của pháp nhân thương mại;

– Hành vi phạm tội được thực hiện có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của pháp nhân thương mại;

– Chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 27 của Bộ luật này.

Chú ý: Việc pháp nhân thương mại chịu trách nhiệm hình sự không loại trừ trách nhiệm hình sự của cá nhân

3.Pháp nhân thương mại chịu trách nhiệm hình sự khi vi phạm những tội gì?

Khoản 11, điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật hình sự 2017 quy định về phạm vi chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại. Pháp nhân thương mại nào vi phạm các tội dưới đây mới phải chịu trách nhiệm hình sự.

Gồm 15 nhóm tội:

– Buôn lậu: Đ188

– Vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới: Đ189

– Sản xuất, buôn bán hàng cấm: Đ190

– Tàng trữ, vận chuyển hàng cấm: Đ191

– Sản xuất, buôn bán hàng giả: Đ192,193,194,195

– Đầu cơ: Đ196

– Trốn thuế, mua bán hóa đơn chứng từ: Đ200,203

– Liên quan đến chứng khoán: Đ209,210,211

– Liên quan đến bảo hiểm: Đ213,216

– Vi phạm về cạnh tranh: Đ217

– Liên quan đến sở hữu trí tuệ: Đ225,226

– Liên quan đến nghiên cứu, thăm dò, khai thác tài nguyên, bảo vệ rừng…: Đ227, 232,234

– Liên quan đến môi trường: Đ235, 237, 238, 239, 242, 243, 244, 245, 246

Tài trợ khủng bố: Đ300

– Rửa tiền: Đ324

4.Các hình phạt được áp dụng. Theo điều 33 Bộ luật hình sự 2015 quy định về hình phạt như sau:

-Hình phạt chính bao gồm:

+Phạt tiền;

+Đình chỉ hoạt động có thời hạn;

+Đình chỉ hoạt động vĩnh viễn.

-Hình phạt bổ sung bao gồm:

+Cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định;

+Cấm huy động vốn;

+Phạt tiền, khi không áp dụng là hình phạt chính.

-Đối với mỗi tội phạm, pháp nhân thương mại phạm tội chỉ bị áp dụng một hình phạt chính và có thể bị áp dụng một hoặc một số hình phạt bổ sung.

Công ty Luật TNHH STC

Văn phòng tại Hà Nội: Tầng 5, Tòa nhà AC, Ngõ 78, Phố Duy Tân, Phường Dịch Vọng Hậu, Quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội.

Hotline: 0988873883

Email: stclawfirm.vn@gmail.com

Website: https://stclawfirm.com/

Văn phòng tại Thành phố Hồ Chí Minh: Landmark 81, Vinhomes Central Park, số 208 Nguyễn Hữu Cảnh và số 720A Điện Biên Phủ, phường 22, quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh.

 

BẢN ÁN HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH: GIAO CON CHO BỐ NUÔI DƯỠNG

Vụ án ly hôn tại tỉnh Đắc Lăk năm 2018, tòa án cấp phúc thẩm xem xét kháng cáo về phần nuôi con chung dưới 36 tháng đã sửa bản án sơ thẩm, giao con cho người mẹ nuôi dưỡng đã bị Quyết định giám đốc thẩm hủy toàn bộ theo hướng giữ nguyên bản án sơ thẩm với quyết định giao con cho người bố trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục đến khi đủ 18 tuổi. Bản án phúc thẩm bị tuyên hủy được đưa ra rút kinh nghiệm vì quyết định của bản án bị xác định là không phù hợp, chưa xem xét đầy đủ đến quyền và lợi ích hợp pháp về mọi mặt của cháu bé.

Nội dung vụ án thể hiện: Người mẹ vì mâu thuẫn vợ chồng đã tự ý bỏ về nhà bố mẹ đẻ sinh sống, bỏ lại 1 con chung mới sinh 04 tháng tuổi cho bố cháu nuôi dưỡng từ tháng 3/2017.

Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng không thể hàn gắn, 2 vợ chồng quyết định thuận tình ly hôn nhưng cả 2 người đều có nguyện vọng được nuôi con chung. Bản án sơ thẩm công nhận thuận tình ly hôn của 2 vợ chồng, về con chung giao con cho người chồng trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi. Người mẹ kháng cáo đề nghị tòa phúc thẩm xin được nuôi con chung. Bản án phúc thẩm đã tuyên sửa bản án sơ thẩm, giao con chung cho người mẹ nuôi dưỡng.

Viện kiểm sát nhân dân có thẩm quyền đã ban hành Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm đối với bản án phúc thẩm trên, đề nghị Ủy ban thẩm phán TANDCC xét xử giám đốc thẩm theo hướng hủy Bản án hôn nhân và gia đình phúc thẩm, giữ nguyên Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Quyết định giám đốc thẩm đã chấp nhận kháng nghị nêu trên khi xét thấy các tài liệu xác minh thể hiện người bố trong thời gian người vợ bỏ về nhà bố mẹ và để lại con chung cho chồng nuôi dưỡng đã thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm sóc con rất tốt; là người có việc làm và thu nhập ổn định, hoàn toàn đủ điều kiện để nuôi con; thời gian mẹ bỏ về nhà ngoại cháu bé đã quen với điều kiện, môi trường sống mà người bố đã trực tiếp chăm sóc rất đảm bảo. Việc giao cháu bé cho người mẹ sẽ gây xáo trộn, ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường của cháu. Việc Tòa án cấp sơ thẩm xem xét toàn diện, tiếp tục giao cháu bé cho người bố nuôi dưỡng, chăm sóc ổn định là có căn cứ. Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án, giao cháu bé cho mẹ nuôi là không phù hợp, chưa xem xét đầy đủ đến quyền và lợi ích hợp pháp về mọi mặt của cháu.

Mặc dù khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: ….Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con…” Trong vụ án trên, người mẹ dù con mới 04 tháng tuổi nhưng chỉ vì mâu thuẫn vợ chồng đã đành lòng bỏ con lại cho chồng nuôi dưỡng để bỏ về nhà bố mẹ đẻ. Bản án sơ thẩm giao con cho người bố tiếp tục nuôi dưỡng đã căn cứ vào thực tế nuôi dưỡng của người bố trong suốt quá trình người mẹ bỏ lại con đến khi ra tòa ly hôn.

Đánh giá Quyết định giám đốc thẩm vụ án trên cho thấy, trong vụ án hôn nhân và gia đình liên quan đến việc giao con còn nhỏ cho bố hay mẹ trực tiếp nuôi dưỡng cần sự đánh giá khách quan, toàn diện và lấy lợi ích hợp pháp của trẻ là ưu tiên hàng đầu. Trẻ em cần sự nuôi dưỡng, chăm sóc với điều kiện tốt, ổn định, tránh tình trạng xáo trộn không phù hợp sẽ gây tâm lý lo lắng, thiếu cảm giác an toàn cho trẻ vì trẻ sẽ cần nhiều thời gian để thích nghi với sự thay đổi môi trường sống nhất là khi trẻ đã được nuôi dưỡng, chăm sóc ổn định.

Để hiểu thêm vấn đề này, vui lòng liên hệ đến số hotline 0988873883 của Luật STC để được luật sư tư vấn miễn phí.

Công ty Luật TNHH STC

Văn phòng tại Hà Nội: Tầng 5, Tòa nhà AC, Ngõ 78, Phố Duy Tân, Phường Dịch Vọng Hậu, Quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội.

Hotline: 0988873883

Email: stclawfirm.vn@gmail.com

Website: https://stclawfirm.com/

Văn phòng tại Thành phố Hồ Chí Minh: Landmark 81, Vinhomes Central Park, số 208 Nguyễn Hữu Cảnh và số 720A Điện Biên Phủ, phường 22, quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh.

 

Luật STC tư vấn và bảo vệ quyền lợi các vụ án Hôn nhân và gia đình
Luật STC tư vấn và bảo vệ quyền lợi các vụ án Hôn nhân và gia đình

KHÔNG ĐƯƠNG NHIÊN HỦY QUYẾT ĐỊNH ÁP DỤNG BIỆN PHÁP KHẨN CẤP TẠM THỜI KHI BẢN ÁN SƠ THẨM, PHÚC THẨM BỊ HỦY

Trong vụ án có áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, sau đó bản án sơ thẩm và bản án phúc thẩm bị hủy theo thủ tục giám đốc thẩm thì Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời có đương nhiên bị hủy không? Trường hợp Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không bị hủy thì khi thụ lý lại vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm phải giải quyết như thế nào?

Theo hướng dẫn tại mục III Về dân sự của Thông báo số 212/TB-TANDTC-PC của TAND Tối cao ngày 13 tháng 09 năm 2019 về việc Thông báo kết quả giải đáp trực tuyến một số vướng mắc trong xét xử: Việc bản án sơ thẩm, phúc thẩm bị hủy thì quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đương nhiên bị hủy. Lý do:

Điều 112 của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định về thẩm quyền quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời như sau:

“1. Trước khi mở phiên tòa, việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời do một Thẩm phán xem xét, quyết định.

  1. Tại phiên tòa, việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời do Hội đồng xét xử xem xét, quyết định”.

Khoản 1 và khoản 3 Điều 138 của Bộ luật này quy định:

“1. Tòa án ra ngay quyết định hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời đã được áp dụng khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

  1. a) Người yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đề nghị hủy bỏ;
  2. b) Người phải thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời nộp tài sản hoặc có người khác thực hiện biện pháp bảo đảm thi hành nghĩa vụ đối với bên có yêu cầu;
  3. c) Nghĩa vụ dân sự của bên có nghĩa vụ chấm dứt theo quy định của Bộ luật dân sự;
  4. d) Việc giải quyết vụ án được đình chỉ theo quy định của Bộ luật này;

đ) Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng theo quy định của Bộ luật này;

  1. e) Căn cứ của việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không còn;
  2. g) Vụ việc đã được giải quyết bằng bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật;
  3. h) Các trường hợp Tòa án trả lại đơn khởi kiện theo quy định của Bộ luật này.

Luật STC tư vấn miễn phí thủ tục hủy bỏ Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thờii
Luật STC tư vấn miễn phí thủ tục hủy bỏ Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thờii
  1. Thủ tục ra quyết định hủy bỏ việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời được thực hiện theo quy định tại Điều 133 của Bộ luật này. Trường hợp đã có bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì việc giải quyết yêu cầu hủy quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời do một Thẩm phán được Chánh án của Tòa án đã ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phân công giải quyết”.

Căn cứ các quy định nên trên thì việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời được thể hiện ở một quyết định của Tòa án hoặc ghi nhận trong bản án và được thực hiện theo trình tự, thủ tục riêng biệt; quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời có hiệu lực thi hành ngay và không bị kháng cáo, kháng nghị. Do đó, việc bản án sơ thẩm, phúc thẩm bị hủy thì quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đương nhiên bị hủy.

Trường hợp bản án bị hủy, giao hồ sơ cho Tòa án cấp có thẩm quyền giải quyết lại vụ án thì việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời được thực hiện theo quy định tại Chương VIII, từ Điều 111 đến Điều 142 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Như vậy quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời sẽ không đương nhiên bị hủy bỏ ngay cả khi bản án sơ thẩm, phúc thẩm đã bị hủy bỏ.

* Để hiểu thêm vấn đề này, vui lòng liên hệ đến số hotline 0988873883 của Luật STC để được luật sư tư vấn miễn phí.

Công ty Luật TNHH STC

Văn phòng tại Hà Nội: Tầng 5, Tòa nhà AC, Ngõ 78, Phố Duy Tân, Phường Dịch Vọng Hậu, Quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội.

Hotline: 0988873883

Email: stclawfirm.vn@gmail.com

Website: https://stclawfirm.com/

Văn phòng tại Thành phố Hồ Chí Minh: Landmark 81, Vinhomes Central Park, số 208 Nguyễn Hữu Cảnh và số 720A Điện Biên Phủ, phường 22, quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh.

 

 

VỤ ÁN ĐANG TẠM ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VẪN ÁP DỤNG BIỆN PHÁP KHẨN CẤP TẠM THỜI

Trong thời gian tạm đình chỉ giải quyết vụ án mà một trong các bên đương sự có yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án có được xem xét, quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không?

Theo hướng dẫn tại mục III Về dân sự của Thông báo số 212/TB-TANDTC-PC của TAND Tối cao ngày 13 tháng 09 năm 2019 về việc Thông báo kết quả giải đáp trực tuyến một số vướng mắc trong xét xử, thẩm phán được phân công giải quyết vụ án vẫn phải có trách nhiệm xem xét, quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời vì:

Khoản 1 Điều 111 của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định:

Trong quá trình giải quyết vụ án, đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện vụ án quy định tại Điều 187 của Bộ luật này có quyền yêu cầu Tòa án đang giải quyết vụ án đó áp dụng một hoặc nhiều biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại Điều 114 của Bộ luật này để tạm thời giải quyết yêu cầu cấp bách của đương sự, bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản, thu thập chứng cứ, bảo vệ chứng cứ, bảo toàn tình trạng hiện có, tránh gây thiệt hại không thể khắc phục được, đảm bảo cho việc giải quyết vụ án hoặc việc thi hành án”.

Khoản 4 Điều 215 của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định:

“Trong thời gian tạm đình chỉ giải quyết vụ án, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án vẫn phải có trách nhiệm về việc giải quyết vụ án.

Sau khi có quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án quy định tại khoản 1 Điều 214 của Bộ luật này, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án có trách nhiệm theo dõi, đôn đốc cơ quan, tổ chức, cá nhân nhằm khắc phục trong thời gian ngắn nhất những lý do dẫn tới vụ án bị tạm đình chỉ để kịp thời đưa vụ án ra giải quyết”.

Việc tạm đình chỉ là tạm ngừng giải quyết vụ án trong một thời gian nhất định; trong thời gian tạm đình chỉ giải quyết vụ án, nếu một trong các bên đương sự có yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì vẫn là “trong quá trình giải quyết vụ án” theo quy định tại Điều 111 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Do vậy, căn cứ các quy định nêu trên, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án có trách nhiệm xem xét, quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.

* Để hiểu thêm vấn đề này, vui lòng liên hệ đến số hotline 0988873883 của Luật STC để được luật sư tư vấn miễn phí.

Công ty Luật TNHH STC

Văn phòng tại Hà Nội: Tầng 5, Tòa nhà AC, Ngõ 78, Phố Duy Tân, Phường Dịch Vọng Hậu, Quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội.

Hotline: 0988873883

Email: stclawfirm.vn@gmail.com

Website: https://stclawfirm.com/

Văn phòng tại Thành phố Hồ Chí Minh: Landmark 81, Vinhomes Central Park, số 208 Nguyễn Hữu Cảnh và số 720A Điện Biên Phủ, phường 22, quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh.

 

0988873883