Tội rửa tiền bị xử lý như thế nào?

Theo khoản 1 Điều 4 Luật Phòng chống rửa tiền 2012, rửa tiền là hành vi của tổ chức, cá nhân nhằm hợp pháp hóa nguồn gốc của tài sản do phạm tội mà có.

Rửa tiền là việc biến đổi thu nhập phi pháp thành tài sản mà các cơ quan công quyền không thể truy ra nguồn gốc phi pháp ấy. Rửa tiền không phải là một hiện tượng mới. Theo nhiều sử gia, thương nhân Trung Quốc đã biết “rửa tiền” hơn ba ngàn năm trước để tránh thuế của triều đình. Tuy nhiên, hoạt động này đã bùng nổ với toàn cầu hóa, gây nhiều hậu quả nghiêm trọng về kinh tế và xã hội, đặc biệt ở các nước đang phát triển hoặc chuyển tiếp.

Căn cứ vào Điều 324, Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017, theo đó tùy vào hành vi vi phạm, chủ thể thực hiện mà có các khung hình phạt khác nhau.

Đối với cá nhân quy định tại Khoản 1-5, Điều 324:

Hình phạt tù cao nhất là 15 năm, thấp nhất là 06 tháng;Ngoài ra người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 1.000.000.000 đồng – 5.000.000.000 đồng;Cấm đảm nhiệm chức vụ;Cấm hành nghề hoặc làm việc nhất định từ 01 năm đến 05 nămTịch thu một hoặc toàn bộ tài sản.

Đối với pháp nhân thương mại quy định tại Khoản 6, Điều 324.Phạt tiền cao nhất là 20.000.000.000 đồng, thấp nhất là 1.000.000.000;Đình chỉ hoạt động;Cấm kinh doanh, hoạt động trong một số lĩnh vực, cấm huy động vốn.

Tội xúi giục hoặc giúp người khác tự sát

Tội xúi giục hoặc giúp người khác tự sát là một tội xâm phạm đến quyền sống của con người, được quy định tại Điều 131 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 (BLHS). 

Điều 131 BLHS quy định như sau:

Điều 131. Tội xúi giục hoặc giúp người khác tự sát

1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác tự tước đoạt tính mạng của họ;

b) Tạo điều kiện vật chất hoặc tinh thần cho người khác tự tước đoạt tính mạng của họ.

2. Phạm tội làm 02 người trở lên tự sát, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm”.

Các yếu tố cấu thành tội phạm:

1.Khách thể của tội phạm

Xúi giục người khác tự sát là hành vi dùng lời nói hay hành động để kích động, dụ dỗ, lừa dối làm cho người khác tự tước bỏ quyền sống của mình.
Giúp người khác tự sát là hành vi tạo các điều kiện về vật chất, tinh thần để người khác thuận lợi trong việc tự sát.
Tội phạm làm ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội, gián tiếp tiếp xâm phạm đến quyền sống của con người.

2. Mặt khách quan của tội phạm

Hành vi xúi giục bao gồm kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác tự tước đoạt tính mạng của họ. Giúp người khác tự sát quy định rõ là tạo điều kiện vật chất hoặc tinh thần cho người khác tự tước đoạt tính mạng của họ.
Hành vi khách quan thể hiện ở hành vi kích động người khác tự sát, dụ dỗ, lừa dối để người khác tự sát hoặc giúp người khác tự sát. Kích động người khác tự sát là việc người phạm tội có những lời lẽ tác động tâm lý làm cho nạn nhân tự ái hoặc tiêu cực cao độ mà tự sát. Thúc đẩy để người khác tự sát là dùng lời nói khuyên bảo một cách tình cảm, khéo léo, hoặc mở ra một viễn cảnh tương lai tốt đẹp hơn khiến cho người đó tự sát.
Tội phạm được coi là hoàn thành từ thời điểm nạn nhân có hành vi tự sát, còn việc nạn nhân tự sát nhưng không chết do được phát hiện ngăn chặn, cấp cứu kịp thời chỉ là tình tiết để xem xét khi quyết định hình phạt. Cần phải xác định mối quan hệ nhân quả giữa hành vi xúi giục hoặc giúp người khác tự sát với hậu quả xảy ra là nạn nhân tự sát. Nếu người nào vừa có hành vi xúi giục, vừa có hành vi giúp người khác tự sát thì phạm tội xúi giục và giúp người khác tự sát.

3. Chủ thể của tội phạm

Bất kỳ người nào từ đủ 16 tuổi trở lên có năng lực trách nhiệm hình sự.

4. Mặt chủ quan của tội phạm

Tội phạm được thực hiện do lỗi cố ý

5. Hình phạt

Điều 131 BLHS quy định 2 khung hình phạt.

  • Khung 1 quy định hình phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm áp dụng đối với trường hợp phạm tội không có tình tiết định khung tăng nặng.
  • Khung 2 quy định hình phạt tù từ 2 năm đến 7 năm áp dụng đối với trường hợp làm từ 2 người tự sát trở lên.

 

Tội bức tử

Bức tử là hành vi đối xử tàn ác, thường xuyên ức hiếp, ngược đãi hoặc làm nhục người lệ thuộc mình, làm người đó tự sát. Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017 (BLHS) quy định về tội bức tử.

Điều 130 BLHS quy định về tội bức tử như sau:

Điều 130. Tội bức t

1. Người nào đối xử tàn ác, thường xuyên ức hiếp, ngược đãi hoặc làm nhục người lệ thuộc mình làm người đó tự sát, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm:

a) Đối với 02 người trở lên;

b) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai”.

Các yếu tố cấu thành tội phạm:

1. Mặt khách quan của tội phạm

– Về hành vi: Người phạm tội có hành vi đối xử tàn ác, thường xuyên ức hiếp, ngược đãi hoặc làm nhục người lệ thuộc mình.

Trong đó:

+ Đối xử tàn ác với người lệ thuộc ở đây được hiểu là hành vi của người phạm tội đối xử một cách tàn nhẫn với người lệ thuộc, gây đau khổ về thể xác, tinh thần của người lệ thuộc…

+ Thường xuyên ức hiếp người lệ thuộc ở đây được hiểu là là hành vi của người phạm tội lợi dụng sự lệ thuộc của người bị hại vào mình mà đối xử bất công, xâm phạm đến các quyền và lợi ích hợp pháp của người đó một cách trái pháp luật,…

+ Ngược đãi người lệ thuộc ở đây được hiểu là hành vi của người phạm tội đối xử tàn nhẫn, tàn tệ với người lệ thuộc mình,…

+ Làm nhục người lệ thuộc ở đây được hiểu là hành vi của người phạm tội xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm của người lệ thuộc mình một cách trái pháp luật,…

+ Người lệ thuộc ở đây có thể được hiểu là người lệ thuộc về tài chính, công việc, tôn giáo,…

Về mặt hậu quả: Làm cho người bị hại tự sát.

Việc người bị hại tự sát mà chết hoặc không chết không phải là dấu hiệu bắt buộc của tội phạm này.

2. Về mặt chủ quan của tội phạm

Về lỗi: Người thực hiện hành vi do lỗi cố ý gián tiếp hoặc do lỗi vô ý.

+ Lỗi cố ý gián tiếp: Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình có thể khiến cho người bị hại tự sát, thấy trước hậu quả là người bị hại sẽ tự sát của hành vi đó có thể xảy ra, tuy không mong muốn nhưng vẫn có ý thức để mặc cho hậu quả đó xảy ra.

+ Lỗi vô ý:

++ Lỗi vô ý do quá tự tin: Người phạm tội tuy thấy trước hành vi của mình có thể khiến cho người bị hại tự sát nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được.

++ Lỗi vô ý do quá cẩu thả: Người phạm tội không thấy trước hành vi của mình có thể khiến cho người bị hại tự sát, mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó.

3. Mặt khách thể của tội phạm

Tội phạm xâm phạm đến mối quan hệ liên quan đến sức khỏe, tính mạng của con người được pháp luật hình sự bảo vệ, quyền được sống của con người được pháp luật bảo vệ.

4. Về mặt chủ thể của tội phạm

Người có năng lực chịu trách nhiệm hình sự đầy đủ.

5. Hình phạt đối với người phạm tội bức tử

Người nào đối xử tàn ác, thường xuyên ức hiếp, ngược đãi hoặc làm nhục người lệ thuộc mình làm người đó tự sát, thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội bức tử.

Tùy vào từng trường hợp cụ thể, tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà người phạm tội bức tử có thể bị phạt tù từ 02 năm đến 12 năm.

Tội vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính

Tội vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính được quy định tại điều 129 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 (BLHS) như sau:

Điều 129. Tội vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính

1. Người nào vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

2. Phạm tội làm chết 02 người trở lên, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm.

3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”.

Các yếu tố cấu thành tội phạm: 

+ Về chủ thể: Chủ thể của tội vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính trước hết phải đảm bảo các yếu tố cần và đủ như: độ tuổi, năng lực chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại bộ luật hình sự. Tuy nhiên, đối với tội vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính chỉ những người đủ 16 tuổi trở lên mới có thể là chủ thể của tội phạm này.

+ Về khách thể: Xâm phạm đến quan hệ nhân thân mà nội dung là quyền sống của con người, đối tượng tác động của tội phạm là con người.

+ Về mặt khách quan của tội phạm:
Hành vi khách quan được thực hiện bằng một trong hai loại hành vi sau:
– Hành vi vi phạm quy tắc nghề nghiệp. Đó là hành vi do không quy định các quy tắc nhất định mà nghề nghiệp buộc phải yêu cầu gây ra hậu quả chết người.
– Hành vi phạm quy tắc hành chính.

Hậu quả là yếu tố bắt buộc của tội phạm này, hậu quả chết người phải xảy ra, giữa hành vi và hậu quả có mối quan hệ mật thiết với nhau, hậu quả chết người phải do nguyên nhân vi phạm các quy tắc trên của người thực hiện tội phạm.

+ Về mặt chủ quan của tội phạm:

Lỗi của người phạm tội phải là lỗi vô ý, theo quy định của pháp luật thì được hiểu dưới 2 dạng lỗi là lỗi vô ý do quá tự tin và vô ý do cẩu thả.
– Lỗi vô ý do quá tự tin thể hiện ở việc người phạm tội biết hành vi của mình là nguy hiểm nhưng tin rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được, nhưng hậu quả vẫn xảy ra.
– Lỗi vô ý do cẩu thả là việc người phạm tội vì cẩu thả mà không thấy trước được khả năng gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội, mặc dù phải thấy trước hoặc có thể thấy trước.

Về cơ bản tội này được hiểu như là một trường hợp đặc biệt của tội vô ý làm chết người (Điều 98) nhưng do đây là những quy tắc mang tính chất nghề nghiệp và tính chất hành chính đối với người phạm tội, Người phạm tội luôn nhận thức được rõ các quy tắc này nên trách nhiệm xử lý sẽ cao hơn việc Vô ý phạm tội được quy định tại Điều 98. Hình phạt tăng nặng sẽ được áp dụng trong từng trường hợp cụ thể cũng như lỗi của người phạm tội.

 

Tội làm chết người trong khi thi hành công vụ

Tội làm chết người trong khi thi hành công vụ được quy định là hành vi làm chết người trong khi thi hành công vụ do dùng vũ lực ngoài những trường hợp pháp luật cho phép.

Điều 127 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 (BLHS) quy định như sau:

Điều 127. Tội làm chết người trong khi thi hành công vụ

1. Người nào trong khi thi hành công vụ mà làm chết người do dùng vũ lực ngoài những trường hợp pháp luật cho phép, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 08 năm đến 15 năm:

a) Làm chết 02 người trở lên;

b) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai.

3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”.

Phân tích các yếu tố cấu thành tội phạm:

+ Khách thể của tội phạm: Tội phạm xâm phạm trực tiếp đến quyền sống của con người.

+ Chủ thể của tội phạm: Chủ thể của tội phạm này chỉ có thể là những người đang thi hành công vụ. Khác với các chủ thể của tội phạm khác, tội phạm này có chủ thể khá đặc biệt. Người thi hành công vụ được hiểu là người có chức vụ quyền hạn trong cơ quan nhà nước hoặc tổ chức xã hội, thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình và cũng có thể là những công dân được huy động làm nhiệm vụ (như tuần tra, canh gác…) theo kế hoạch của cơ quan có thẩm quyền, phục vụ lợi ích chung,…

+ Mặt khách quan của tội phạm: Hành vi khách quan của tội phạm là hành vi dùng vũ lực để thực hiện công vụ ngoài những trường hợp mà pháp luật cho phép. Hậu quả của hành vi này là làm chết người.

+ Mặt chủ quan của tội phạm: Lỗi được xác định là lỗi cố ý (dùng vũ lực ngoài những trường hợp pháp luật cho phép).

Tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội

Tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội là một trong các tội xâm phạm tính mạng của con người.

Điều 126 Bộ luật hình sự 2015 quy định như sau:

Điều 126. Tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội

1. Người nào giết người trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc trong trường hợp vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

2. Phạm tội đối với 02 người trở lên, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm.”

Phân tích các yếu tố cấu thành tội phạm:

+ Khách thể của tội phạm: là quan hệ nhân thân mà nội dung là quyền sống của con người.
+ Mặt khách quan của tội phạm: hành vi khách quan của tội phạm là giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc trong trường hợp vượt quá mức cần thiết . Đây là trường hợp nạn nhân chính là người có hành vi tấn công, xâm hại lợi ích hợp pháp và hành vi giết người là hành vi người phạm tội lựa chọn thực hiện để ngăn chặn hành vi tấn công, bảo vệ lợi ích hợp pháp đang bị xâm hại. Trong trường hợp này, hành vi giết người để phòng vệ là hành vi chống trả rõ ràng quá mức cần thiết để thực hiện quyền phòng vệ chính đáng.
+ Mặt chủ quan của tội phạm: lỗi cố ý trực tiếp hoặc cố ý gián tiếp.
+ Chủ thể của tội phạm: là người có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi từ 16 trở lên.
Hình phạt: 
  • Cấu thành tội phạm cơ bản là phạt cải tạo không giam giữ đến 2 năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 2 năm.
  • Cấu thành tội phạm tăng nặng là phạt tù từ 2 năm đến 5 năm đối với trường hợp phạm tội đối với 2 người trở lên.

Tội giết hoặc vứt bỏ con mới đẻ

So với Bộ luật hình sự 1999 cũ, Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017 (BLHS) hiện hành đã lần đầu tiên quy định về tội giết hoặc vứt bỏ con mới đẻ tại Điều 124.

Điều 124 BLHS quy định như sau:

Điều 124. Tội giết hoặc vứt bỏ con mới đẻ

1. Người mẹ nào do ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng lạc hậu hoặc trong hoàn cảnh khách quan đặc biệt mà giết con do mình đẻ ra trong 07 ngày tuổi, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

2. Người mẹ nào do ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng lạc hậu hoặc trong hoàn cảnh khách quan đặc biệt mà vt bỏ con do mình đẻ ra trong 07 ngày tui dẫn đến hậu quả đứa trẻ chết, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc bị phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.”

Cấu thành tội phạm của tội giết hoặc vứt bỏ con mới đẻ:

+ Khách thể của tội phạm:

Tội giết hoặc vứt bỏ con mới đẻ xâm phạm trực tiếp đến quyền sống của con người. 

+ Mặt khách quan của tội phạm:

Tội giết con mới đẻ thực hiện bằng hành động như: bóp cổ, thắt cổ, đâm, chém, chôn đứa trẻ… Hành vi nói trên cũng có thể được thực hiện bằng hành động như người mẹ của đứa trẻ không cho con mình bú sữa  vì một nguyên nhân nào đó; không cho con đang ốm uống thuốc dẫn đến đứa trẻ chết. Hành vi vứt bỏ con mới đẻ thể hiện sau khi đẻ ra người mẹ đã bỏ con mình ở một nơi nào đó như ngoài chợ, bệnh viện, chùa… Đây là trường hợp người mẹ có thái độ tuy không mong muốn đứa trẻ chết nhưng để mặc cho hậu quả xảy ra.
Hậu quả xảy ra đứa trẻ chết là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm. Để truy cứu trách nhiệm hình sự về tội này cần xác định mối quan hệ nhân quả giữa hành vi của người mẹ và hậu quả đứa trẻ chết. Nếu người mẹ vứt bỏ đứa trẻ nhưng được người khác phát hiện kịp thời nên đứa trẻ không chết thì người mẹ không phạm tội này.

+ Chủ thể của tội phạm: 

Là người từ đủ 16 tuổi trở lên có năng lực trách nhiệm hình sự và phải là phụ nữ đã đẻ ra đứa trẻ.

+ Mặt chủ quan của tội phạm:

Tội phạm được thực hiện do lỗi cố ý trực tiếp hoặc cố ý gián tiếp.

Hình phạt: 

Điều 124 quy định 2 khung hình phạt: 

  • Khung 1 quy định hình phạt đối với trường hợp giết con mới đẻ thì phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm.
  • Khung 2 quy định hình phạt đối với trường hợp vứt con mới đẻ thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 2 năm hoặc bị phạt tù từ 3 tháng đến 2 năm.

 

 

Tội gián điệp

Gián điệp là hành vi hoạt động tình báo, phá hoại hoặc gây cơ sở để hoạt động tình báo, phá hoại hoặc cung cấp, thu thập thông tin bí mật Nhà nước cho nước ngoài để chống nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Điều 110 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 (BLHS) quy định về tội gián điệp như sau:

“Điều 110. Tội gián điệp

1. Người nào có một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Hoạt động tình báo, phá hoại hoặc gây cơ sở để hoạt động tình báo, phá hoại chống nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

b) Gây cơ sở để hoạt động tình báo, phá hoại theo sự chỉ đạo của nước ngoài; hoạt động thám báo, chỉ điểm, chứa chấp, dẫn đường hoặc thực hiện hành vi khác giúp người nước ngoài hoạt động tình báo, phá hoại;

c) Cung cấp hoặc thu thập nhằm cung cấp bí mật nhà nước cho nước ngoài; thu thập, cung cấp tin tức, tài liệu khác nhằm mục đích để nước ngoài sử dụng chống nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

2. Phạm tội trong trường hợp ít nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 15 năm.

3. Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

4. Người đã nhận làm gián điệp, nhưng không thực hiện nhiệm vụ được giao và tự thú, thành khẩn khai báo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền, thì được miễn trách nhiệm hình sự về tội này.”

Cấu thành tội phạm của tội gián điệp:

+ Khách thể của tội phạm: 

Khách thể trực tiếp của tội gián điệp là an ninh đối ngoại của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Tội gián điệp trực tiếp gây phương hại đến chủ quyền quốc gia của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, khả năng phòng thủ cũng như sự phát triển bình thường, ổn định của đất nước Việt Nam.

+ Mặt khách quan của tội phạm: 

Mặt khách quan của tội gián điệp được đặc trưng bằng một trong những hành vi sau:
– Hoạt động tình báo: là hành vi điều tra, thu thập mọi tin tức, tài liệu thuộc bí mật Nhà nước hoặc không thuộc bí mật Nhà nước để sử dụng chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những tài liệu thuộc bí mật Nhà nước được quy định tại Pháp lệnh số 30/2000/PL-UBTVQH10 ngày 28/12/2000 về “Bảo vệ bí mật Nhà nước”.
– Phá hoại: thể hiện ở việc người phạm tôi có hành vi chống phá nhà nước, làm cho việc thực hiện các chính sách kinh tế, xã hội của Nhà nước bị cản trở, không hoàn thành được. Những hành vi đó có mục đích chống chính quyền nhân dân và vì lợi ích của nước ngoài.
– Gây cơ sở để hoạt động tình báo, phá hoại thể hiện ở hành vi dụ dỗ, rủ rê, tìm người để có nơi ẩn náu, có người giúp đỡ và nói chung để tạo thuận tiện cho hoạt động gián điệp dưới một, hai hoặc ba mặt: hoạt động tình báo, phá hoại, gây cơ sở.
– Hoạt động thám báo thể hiện ở hành vi hoạt động ở vùng biên giới vừa có tính chất thu thập tin tức, tình hình quân sự vừa có tính chất biệt kích vũ trang xâm nhập vào nội địa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam phục kích, tập kích, bắt cóc người.

+ Chủ thể của tội phạm:

Chủ thể của tội phạm này có thể là người nước ngoài, công dân Việt Nam hoặc người không quốc tịch từ đủ 16 tuổi trở lên có năng lực trách nhiệm hình sự.

+ Mặt chủ quan của tội phạm: 

Tội gián điệp được thực hiện với hình thức lỗi cố ý trực tiếp. Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra.

Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh

Giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh là hành vi của một người không tự kìm chế được mình trước hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân đối với chính mình hoặc đối với người thân thích của mình nên đã giết chết nạn nhân.

Điều 125 BLHS 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định về tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh như sau:

“Điều 125. Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh

1. Người nào giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân đối với người đó hoặc đối với người thân thích của người đó, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

2. Phạm tội đối với 02 người trở lên, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm”.

Các yếu tố cấu thành tội phạm:

+ Mặt khách thể của tội phạm: Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh xâm phạm quyền sống của con người.

+ Chủ thể của tội phạm: Là bất kỳ người nào từ đủ 16 tuổi trở lên có năng lực TNHS. Người phạm tội khi thực hiện hành vi giết người ở trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh, mất khả năng kiểm soát nhưng chưa đến mức mất toàn bộ khả năng điều khiển hành vi.

+ Mặt khách quan của tội phạm: Người phạm tội thực hiện hành vi giết người trong điều kiện khách quan là hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân gây ra đối với người phạm tội hoặc đối với thân nhân của người phạm tội làm cho người phạm tội rơi vào trạng thái tinh thần bị kích động mạnh.

+ Mặt chủ quan của tội phạm: Người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý gián tiếp trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh.

Tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân

Tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân là tội khi người nào đó có các hành vi chống chính quyền nhân dân xâm phạm tới người hay tài sản theo quy định của pháp luật và gây ra những hậu quả nghiêm trọng.

Điều 113. Tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân

1. Người nào nhằm chống chính quyền nhân dân mà xâm phạm tính mạng của cán bộ, công chức hoặc người khác hoặc phá hủy tài sản của Cơ quan, tổ chức, cá nhân, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 15 năm:

a) Thành lập, tham gia tổ chức khủng bố, tổ chức tài trợ khủng bố;

b) Cưỡng ép, lôi kéo, tuyển mộ, đào tạo, huấn luyện phần tử khủng bố; chế tạo, cung cấp vũ khí cho phần tử khủng bố;

c) Xâm phạm tự do thân thể, sức khỏe của cán bộ, công chức hoặc người khác; chiếm giữ, làm hư hại tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân;

d) Tấn công, xâm hại, cản trở, gây rối loạn hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử của cơ quan, tổ chức, cá nhân.

3. Phạm tội trong trường hợp đe dọa thực hiện một trong các hành vi quy định tại khoản 1 Điều này hoặc có hành vi khác uy hiếp tinh thần của cán bộ, công chức hoặc người khác, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm.

4. Khủng bố cá nhân, tổ chức nước ngoài hoặc các tổ chức quốc tế nhằm gây khó khăn cho quan hệ quốc tế của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thì cũng bị xử phạt theo Điều này.

5. Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm”.

Cấu thành tội phạm của tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân:

+ Khách thể của tội phạm: Xâm phạm sự vững mạnh của chính quyền nhân dân, xâm phạm an ninh đối nội, xâm phạm an toàn đối ngoại qua việc xâm phạm tính mạng, sức khỏe, tự do thân thể con người.

+ Mặt khách quan của tội phạm: Người phạm tội có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, tự do thân thể của cán bộ, công chức hoặc công dân như giết người, cố ý gây thương tích, bắt giữ, đe dọa giết người hoặc có hành vi đe dọa xâm phạm tính mạng như dọa giết hoặc có hành vi khác như uy hiếp tinh thần như dọa đốt nhà, dọa tố cáo một điều gì đó…

+ Mặt chủ quan của tội phạm: Người phạm tội thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp và mục đích là làm suy yếu chính quyền nhân dân.

+ Chủ thể của tội phạm: Chủ thể là người có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự,  từ đủ 16 tuổi trở lên.

0988873883