Tội lây truyền HIV cho người khác

HIV là vi rút gây hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người. Việc lây truyền HIV cho người khác là hành vi của người biết mình đã bị nhiễm HIV nhưng vẫn làm cho vi rút HIV từ cơ thể mình xâm nhập vào cơ thể người khác một cách cố ý. Bài viết làm rõ những yếu tố cấu thành tội phạm của tội này.

Điều 148 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 (BLHS) quy định về tội lây truyền HIV cho người khác như sau:

1. Người nào biết mình bị nhiễm HIV mà cố ý lây truyền HIV cho người khác, trừ trường hợp nạn nhân đã biết về tình trạng nhiễm HIV của người bị HIV và tự nguyện quan hệ tình dục, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:

a) Đối với 02 người trở lên;

b) Đối với người dưới 18 tuổi, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 142 và Điều 145 của Bộ luật này;

c) Đối với phụ nữ mà biết là có thai;

d) Đối với thầy thuốc hoặc nhân viên y tế trực tiếp chữa bệnh cho mình;

đ) Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân”.

Các yếu tố cấu thành tội phạm:

+ Khách thể của tội phạm: Tội phạm xâm phạm đến sức khỏe của người khác.

+ Mặt khách quan của tội phạm: Người bị nhiễm HIV đã biết rõ mình bị nhiễm HIV nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi truyền HIV vào cơ thể người khác HIV là loại vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người. HIV có thể lây truyền quan hệ tình dục, qua dòng máu hoặc truyền từ mẹ sang con trong thời kỳ mang thai, sinh đẻ và cho con bú, dưới các hình thức được xác định là đường lây truyền HIV như: Quan hệ tình dục, cho máu hoặc qua các tác nhân trung gian khác (như kim tiêm, dao cạo râu…) của chính mình sử dụng dẫn đến truyền HIV cho người khác.

+ Mặt chủ quan của tội phạm: Người phạm tội thực hiện tội phạm với lỗi cố ý.

+ Chủ thể của tội phạm: Chủ thể của tội này là bất kỳ người nào bị nhiễm HIV có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và biết rõ mình bị nhiễm HIV. 

 

Phân biệt tội sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm với tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi

Tội sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm với tội dâm ô đều xâm phạm đến sức khỏe, danh dự và nhân phẩm, cùng có nạn nhân là người dưới 16 tuổi. Bài viết phân biệt hai tội này theo các tiêu chí dưới đây.

Nội dung

Tội sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi
Căn cứ pháp lý Điều 147 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Điều 146 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Khách thể Khách thể của tội phạm là quyền bất khả xâm phạm về tình dục, thân thể, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của người dưới 16 tuổi, sự phát triển bình thường về thể chất, tâm lý của trẻ em và trật tự trị an của xã hội.
Mặt khách quan Hành vi thuộc mặt khách quan của tội sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm là hành vi lôi kéo, dụ dỗ, ép buộc người dưới 16 tuổi trình diễn khiêu dâm hoặc trực tiếp chứng kiến việc trình diễn khiêu dâm dưới mọi hình thức.

Lôi kéo, dụ dỗ là hành vi dùng lời nói dịu ngọt và lợi lộc để khiến người khác nghe theo mình mà thực hiện trình diễn khiêu dâm hoặc chứng kiến trình diễn khiêu dâm.

Ép buộc là hành vi sử dụng lời nói hoặc vũ lực để bắt người dưới 16 tuổi thực hiện trình diễn khiêu dâm, hoặc chứng kiến trình diễn khiêu dâm.

Theo Điều 3 Nghị quyết số 06/2019/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định tại các Điều 141, 142, 143, 144, 145, 146, 147 của Bộ luật Hình sự và việc xét xử vụ án xâm hại tình dục người dưới 18 tuổi quy định:

Trình diễn khiêu dâm là hành vi dùng cử chỉ, hành động, lời nói, chữ viết, ký hiệu, hình ảnh, âm thanh nhằm kích thích tình dục người dưới 16 tuổi; phô bày bộ phận sinh dục, bộ phận nhạy cảm, khỏa thân, thoát y hoặc thực hiện các động tác mô phỏng hoạt động tình dục (bao gồm giao cấu, thủ dâm và các hành vi tình dục khác) dưới mọi hình thức.

Trực tiếp chứng kiến việc trình diễn khiêu dâm là trường hợp người dưới 16 tuổi trực tiếp chứng kiến người khác trình diễn khiêu dâm dưới mọi hình thức.

Các hình thức biểu hiện trình diễn khiêu dâm hoặc trực tiếp chứng kiến việc trình diễn khiêu dâm bao gồm:

a) Trực tiếp trình diễn khiêu dâm trước mặt người dưới 16 tuổi hoặc dụ dỗ người dưới 16 tuổi trực tiếp trình diễn khiêu dâm;

b) Chiếu trực tiếp cảnh trình diễn khiêu dâm có sự tham gia của người dưới 16 tuổi;

c) Dụ dỗ, lôi kéo, ép buộc người dưới 16 tuổi tự chụp, quay lại cảnh trình diễn khiêu dâm của mình sau đó phát tán;

d) Dụ dỗ, lôi kéo, ép buộc người dưới 16 tuổi khỏa thân và truyền tải trực tiếp âm thanh, hình ảnh qua internet (livestream);

đ) Trình chiếu các ấn phẩm đồi trụy có sử dụng người dưới 16 tuổi hoặc hình ảnh mô phỏng người dưới 16 tuổi (hoạt hình, nhân vật được tạo ra bằng công nghệ số);

e) Mô tả bộ phận sinh dục, bộ phận nhạy cảm của con người, trừ trường hợp hướng dẫn tại khoản 2 Điều 5 của Nghị quyết này;

g) Các hình thức biểu hiện khác của trình diễn khiêu dâm hoặc trực tiếp chứng kiến việc trình diễn khiêu dâm.

Tội phạm được coi là hoàn thành kể từ thời điểm có hành vi dụ dỗ, lôi kéo, ép buộc người dưới 16 tuổi trình diễn khiêu dâm hoặc trực tiếp chứng kiến việc trình diễn khiêu dâm xảy ra.

Hành vi thuộc mặt khách quan của tội phạm là hành vi dâm ô đối với người dưới 16 tuổi.

Theo Khoản 3 Điều 3 Nghị quyết số 06/2019/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định tại các Điều 141, 142, 143, 144, 145, 146, 147 của Bộ luật Hình sự và việc xét xử vụ án xâm hại tình dực người dưới 18 tuổi quy định:

Dâm ô là hành vi của những người cùng giới tính hoặc khác giới tính tiếp xúc về thể chất trực tiếp hoặc gián tiếp qua lớp quần áo vào bộ phận sinh dục, bộ phận nhạy cảm, bộ phận khác trên cơ thể của người dưới 16 tuổi có tính chất tình dục nhưng không nhằm quan hệ tình dục, gồm một trong các hành vi sau đây:

a) Dùng bộ phận sinh dục, bộ phận nhạy cảm tiếp xúc (ví dụ: đụng chạm, cọ xát, chà xát…) với bộ phận sinh dục, bộ phận nhạy cảm, bộ phận khác của người dưới 16 tuổi;

b) Dùng bộ phận khác trên cơ thể (ví dụ: tay, chân, miệng, lưỡi…) tiếp xúc (ví dụ: vuốt ve, sờ, bóp, cấu véo, hôn, liếm…) với bộ phận sinh dục, bộ phận nhạy cảm của người dưới 16 tuổi;

c) Dùng dụng cụ tình dục tiếp xúc (ví dụ: đụng chạm, cọ xát, chà xát…) với bộ phận sinh dục, bộ phận nhạy cảm của người dưới 16 tuổi;

d) Dụ dỗ, ép buộc người dưới 16 tuổi dùng bộ phận khác trên cơ thể của họ tiếp xúc (ví dụ: vuốt ve, sờ, bóp, cấu véo, hôn, liếm…) với bộ phận nhạy cảm của người phạm tội hoặc của người khác;

đ) Các hành vi khác có tính chất tình dục nhưng không nhằm quan hệ tình dục (ví dụ: hôn vào miệng, cổ, tai, gáy… của người dưới 16 tuổi).

Nạn nhân của tội phạm này là trẻ em – người dưới 16 tuổi.

Tội phạm được coi là hoàn thành kể từ thời điểm thực hiện hành vi dâm ô.

Chủ thể Chủ thể của tội là bất kì cá nhân nào từ đủ 18 tuổi trở lên, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự.

Tuy nhiên, Khoản 2 Điều 5 Nghị quyết số 06/2019/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định tại các Điều 141, 142, 143, 144, 145, 146, 147 của Bộ luật Hình sự và việc xét xử vụ án xâm hại tình dực người dưới 18 tuổi quy định loại trừ xử lý hình sự đối với trường hợp người làm công tác giáo dục, khám, chữa bệnh, chăm sóc y tế mô tả bộ phận sinh dục, bộ phận nhạy cảm của con người vì mục đích giáo dục, khám, chữa bệnh, chăm sóc y tế.

Chủ thể của tội phạm là người từ đủ 18 tuổi trở lên có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự.

Tuy nhiên, Khoản 1 Điều 5 Nghị quyết số 06/2019/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định tại các Điều 141, 142, 143, 144, 145, 146, 147 của Bộ luật Hình sự và việc xét xử vụ án xâm hại tình dực người dưới 18 tuổi quy định loại trừ xử lý hình sự nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Người trực tiếp chăm sóc, giáo dục người dưới 10 tuổi, người bệnh, người tàn tật, có hành vi tiếp xúc với bộ phận sinh dục, bộ phận nhạy cảm của họ nhưng không có tính chất tình dục (ví dụ: cha, mẹ tắm rửa, vệ sinh cho con dưới 10 tuổi; giáo viên mầm non tắm rửa, vệ sinh cho trẻ mầm non…);

b) Người làm công việc khám, chữa bệnh, chăm sóc y tế; người cấp cứu, sơ cứu người bị nạn có hành vi tiếp xúc với bộ phận sinh dục, bộ phận nhạy cảm, bộ phận khác của người dưới 16 tuổi nhưng không có tính chất tình dục (ví dụ: bác sĩ khám, chữa bệnh cho bệnh nhân; sơ cứu, cấp cứu người bị tai nạn, người bị đuối nước…).

Mặt chủ quan Lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý trực tiếp. Người phạm tội nhận biết rõ đối tượng là trẻ em dưới 16 tuổi và hành vi phạm tội nhằm mục đích để trẻ em phô bày thân thể chứ không nhằm mục đích giao câu hay quan hệ tình dục khác. Dấu hiệu mục đích này là dấu hiệu để phân biệt tội này với tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi hay dâm ô với người dưới 16 tuổi. Tuy nhiên người phạm tội nhận thức được hành vi của mình không nhằm mục đích giao cấu nhưng nhằm mục đích thỏa mãn thú tính, thỏa mãn dục vọng của người phạm tội, biết được hành vi của mình có thể gây hậu quả xâm hại đến đứa trẻ nhưng vẫn mong muốn hậu quả xảy ra.

 

Lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý trực tiếp. Người phạm tội nhận biết rõ đối tượng là trẻ em dưới 16 tuổi và hành vi phạm tội không nhằm mục đích giao cấu hoặc quan hệ tình dục khác đối với người dưới 16 tuổi. Dấu hiệu mục đích này là dấu hiệu để phân biệt tội dâm ô với tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi. Tuy nhiên người phạm tội nhân thức được hành vi của mình không nhằm mục đích giao cấu nhưng nhằm mục đích thỏa mãn thú tính, thỏa mãn dục vọng của người phạm tội, biết được hành vi của mình có thể gây hậu quả xâm hại đến đứa trể nhưng vẫn mong muốn hậu quả xảy ra.

 

Hình phạt Điều 146 Bộ luật hình sự quy định 04 khung hình phạt áp dụng đối với người phạm tội sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm

-Khung hình phạt phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm trong trường hợp người nào đủ 18 tuổi trở lên mà lôi kéo, dụ dỗ, ép buộc người dưới 16 tuổi trình diễn khiêu dâm hoặc trực tiếp chứng kiến việc trình diễn khiêu dâm dưới mọi hình thức.

– Khung hình phạt phạt tù từ 03 năm đến 07 năm khi người phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây: Phạm tội có tổ chức; phạm tội 02 lần trở lên; đối với 02 người trở lên; đối với người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh; có mục đích thương mại; gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%; tái phạm nguy hiểm.

– Khung hình phạt phạt tù từ 07 năm đến 12 năm khi người phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây: gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên; làm nạn nhân tự sát.

– Khung hình phạt bổ sung, người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Điều 146 Bộ luật hình sự quy định 04 khung hình phạt về tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi như sau:

– Khung hình phạt phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm trong trường hợp người nào đủ 18 tuổi trở lên mà có hành vi dâm ô đối với người dưới 16 tuổi không nhằm mục đích giao cấu hoặc không nhằm thực hiện các hành vi quan hệ tình dục khác.

– Khung hình phạt phạt tù từ 03 năm đến 07 năm khi người phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây: Phạm tội có tổ chức; phạm tội 02 lần trở lên; đối với 02 người trở lên; đối với người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh; gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% tái phạm nguy hiểm.

– Khung hình phạt phạt tù từ 07 năm đến 12 năm khi người phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây: gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên; làm nạn nhân tự sát.

– Khung hình phạt bổ sung, Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

 

Phân biệt các tội hiếp dâm, cưỡng dâm, dâm ô, giao cấu theo Bộ luật hình sự 2015

Hiếp dâm, cưỡng dâm, dâm ô hay giao cấu đều là những tội phạm xâm phạm đến sức khỏe, danh dự và nhân phẩm của con người. Việc phân biệt các tội này nhằm xác định tội phạm giúp định tội chính xác nhất.

 

Hiếp dâm

Cưỡng dâm

Dâm ô

Giao cấu

Khái niệm

Dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác trái với ý muốn của nạn nhân. Dùng mọi thủ đoạn khiến người lệ thuộc mình hoặc người đang ở trong tình trạng quẫn bách phải miễn cưỡng giao cấu hoặc miễn cưỡng thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác. BLHS 2015 vẫn chưa làm rõ khái niệm dâm ô so với BLHS 1999. Theo đó, hành vi dâm ô này phải “Không nhằm mục đích giao cấu hoặc không nhằm thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác”. Giao cấu hoặc  thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 142 và Điều 144, đề phòng những trường hợp cũng là hành vi đó nhưng có thêm những dấu hiệu có thể định tội Hiếp dâm người dưới 16 tuổi hoặc Cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi.

Độ tuổi người phạm tội

Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm Đủ 18 tuổi  trở lên Đủ 18 tuổi trở lên

Độ tuổi bị hại

Chia làm các mức  với trách nhiệm khác nhau:

– Dưới 16 tuổi

– Từ đủ 16 tuổi

đến dưới 18 tuổi

– Từ đủ 18 tuổi

trở lên

Chia làm các mức với trách nhiệm khác nhau:

– Dưới 16 tuổi

– Từ đủ 16 tuổi

đến dưới 18 tuổi

– Từ đủ 18 tuổi

trở lên

Dưới 16 tuổi – Từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi

Hành vi

– Dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác

– Trái với ý muốn nạn nhân.

Dùng mọi thủ đoạn khiến nạn nhân miễn cưỡng giao cấu hoặc miễn cưỡng thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác. (không là vũ lực, VD: lợi dụng hoàn cảnh đang nợ tiền của nạn nhân, ép buộc nạn nhân giao cấu để trừ nợ) – Dùng thủ đoạn có tính chất loạn dâm dục.

– Không nhằm mục đích giao cấu hoặc không nhằm thực hiện các hành vi quan hệ tình dục khác.

Giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác

Hình phạt

– Phạt tù từ 02 năm đến chung thân, tử hình, tùy theo mức độ vi phạm.

–  Phạm tội đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm.

– Hiếp dâm người dưới 16 tuổi phạt tù từ 7 năm đến chung thân, hay tử hình tùy theo mức độ vi phạm.

– Phạt tù từ 1 năm đến 20 năm hoặc chung thân

–  Cưỡng dâm người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm

– Cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi phạt tù từ 05 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân tùy vào mức độ vi phạm mà có khung hình phạt cụ thể.

Dâm ô với người dưới 16 tuổi  thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm, Tùy theo mức độ vi phạm mà khung hình phạt từ 3 năm đến 12 năm Giao cấu với người  từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi thì phạt tù từ 1 năm đến 15 năm

Căn cứ

Điều 141, 142 BLHS

Điều 143, 144 BLHS

Điều 146 BLHS

Điều 145 BLHS

Phân biệt tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi với tội dâm ô người dưới 16 tuổi

Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi với tội dâm ô người dưới 16 tuổi có những điểm giống và khác nhau. Việc phân biệt hai tội này nhằm giúp cho các độc giả có thể nắm rõ nhất các dấu hiệu pháp lý để định tội chính xác nhất.

Nội dung

Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi

Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi

Căn cứ pháp lý Điều 142 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017 (BLHS). Điều 146 BLHS.
Khách thể Khách thể của tội phạm là quyền bất khả xâm phạm về thân thể, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của người dưới 16 tuổi và trật tự an ninh xã hội.
Mặt khách quan Hành vi thuộc mặt khách quan của tội phạm hiếp dâm người dưới 16 tuổi gồm dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác trái ý muốn của người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi và hành vi giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người dưới 13 tuổi.

Dùng vũ lực

Hành vi dùng vũ lực trong tội hiếp dâm cũng tương tự với hành vi dùng vũ lực ở một số tội phạm khác mà người phạm tội có dùng vũ lực, nhưng ở tội hiếp dâm, hành vi dùng vũ lực là nhằm giao cấu với người dưới 16 tuổi bị tấn công. Hành vi này, thông thường là làm thế nào để buộc nạn nhân phải để cho kẻ tấn công giao cấu như: Vật lộn, giữ chân tay, bịt mồm, bóp cổ, đánh đấm, trói v.v… Những hành vi này chủ yếu làm tê liệt sự kháng cự của người bị hại để người phạm tội  thực hiện được việc giao cấu.

Đe dọa dùng vũ lực

Đe dọa dùng vũ lực là hành vi của một người dùng lời nói hoặc hành động uy hiếp tinh thần của người dưới 16 tuổi, làm cho người bị đe dọa sợ hãi như: doạ giết, dọa đánh, dọa bắn… làm cho người bị hại sợ hãi phải để cho người phạm tội giao cấu trái với ý muốn của mình. Người phạm tội có thể đe dọa dùng vũ lực trực tiếp với nạn nhân như dọa giết nạn nhân,… nhưng cũng có thể đe dọa sẽ dùng vũ lực với người thân thích, người mà nạn nhân quan tâm như đe dọa sẽ giết cha mẹ của nạn nhân nếu nạn nhân ko để cho hắn hiếp dâm,…

Lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân

Theo Khoản 7 Điều 2 Nghị quyết số 06/2019/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định tại các Điều 141, 142, 143, 144, 145, 146, 147 của Bộ luật Hình sự và việc xét xử vụ án xâm hại tình dực người dưới 18 tuổi quy định:

Lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân là là việc người phạm tội lợi dụng tình trạng người bị hại lâm vào một trong những hoàn cảnh sau đây để giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác:

a) Người bị hại không thể chống cự được (ví dụ: người bị hại bị tai nạn, bị ngất, bị trói, bị khuyết tật… dẫn đến không thể chống cự được);

b) Người bị hại bị hạn chế hoặc bị mất khả năng nhận thức, khả năng điều khiển hành vi (ví dụ: người bị hại bị say rượu, bia, thuốc ngủ, thuốc gây mê, ma túy, thuốc an thần, thuốc kích thích, các chất kích thích khác, bị bệnh tâm thần hoặc bị bệnh khác… dẫn đến hạn chế hoặc mất khả năng nhận thức, khả năng điều khiển hành vi).

Hành vi dùng thủ đoạn khác

Theo Khoản 8 Điều 2 Nghị quyết số 06/2019/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định tại các Điều 141, 142, 143, 144, 145, 146, 147 của Bộ luật Hình sự và việc xét xử vụ án xâm hại tình dực người dưới 18 tuổi quy định:

Thủ đoạn khác bao gồm các thủ đoạn như đầu độc nạn nhân; cho nạn nhân uống thuốc ngủ, thuốc gây mê, uống rượu, bia hoặc các chất kích thích mạnh khác làm nạn nhân lâm vào tình trạng mất khả năng nhận thức, khả năng điều khiển hành vi để giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác; hứa hẹn cho tốt nghiệp, cho đi học, đi thi đấu, đi biểu diễn ở nước ngoài để giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác.

Giao cấu trái với ý muốn của nạn nhân

Theo Khoản 1 Điều 2 Nghị quyết số 06/2019/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định tại các Điều 141, 142, 143, 144, 145, 146, 147 của Bộ luật Hình sự và việc xét xử vụ án xâm hại tình dực người dưới 18 tuổi quy định:

Giao cấu là hành vi xâm nhập của bộ phận sinh dục nam vào bộ phận sinh dục nữ, với bất kỳ mức độ xâm nhập nào.

Giao cấu với người dưới 10 tuổi được xác định là đã thực hiện không phụ thuộc vào việc đã xâm nhập hay chưa xâm nhập.

Giao cấu trái với ý muốn của nạn nhân là hành vi xâm nhập của bộ phận sinh dục nam vào bộ phận sinh dục nữ, với bất kỳ mức độ xâm nhập nào, không được sự đồng ý của nạn nhân. Muốn đánh giá thái độ của nạn nhân phải căn cứ vào diễn biến quá trình phạm tội và sự chống trả, phản ứng của nạn nhân.

Thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác

Theo Khoản 3 Điều 2 Nghị quyết số 06/2019/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định tại các Điều 141, 142, 143, 144, 145, 146, 147 của Bộ luật Hình sự và việc xét xử vụ án xâm hại tình dực người dưới 18 tuổi quy định:

Đây là hành vi của những người cùng giới tính hay khác giới tính sử dụng bộ phận sinh dục nam, bộ phận khác trên cơ thể (ví dụ: ngón tay, ngón chân, lưỡi…), dụng cụ tình dục xâm nhập vào bộ phận sinh dục nữ, miệng, hậu môn của người khác với bất kỳ mức độ xâm nhập nào, bao gồm một trong các hành vi sau đây:

a) Đưa bộ phận sinh dục nam xâm nhập vào miệng, hậu môn của người khác;

b) Dùng bộ phận khác trên cơ thể (ví dụ: ngón tay, ngón chân, lưỡi…), dụng cụ tình dục xâm nhập vào bộ phận sinh dục nữ, hậu môn của người khác.

Tất cả những hành vi trên đều phải trái ý muốn của người bị hại. Trái với ý muốn của nạn nhân là người bị hại không đồng ý, phó mặc hoặc không có khả năng biểu lộ ý chí của mình đối với hành vi quan hệ tình dục cố ý của người phạm tội. Chỉ khi nào chứng minh việc giao cấu đó là trái với ý muốn của người bị hại thì người có hành vi giao cấu mới bị coi là phạm tội hiếp dâm. Tuy nhiên, dấu hiệu trái với ý muốn của người bị hại chỉ là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội hiếp dâm đối với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, còn đối với trường hợp người bị hại chưa đủ 13 tuổi thì dù có trái ý muốn hay không, người có hành vi giao cấu với họ đều là phạm tội hiếp dâm và người phạm tội sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điểm b Khoản 1 Điều 142 Bộ luật hình sự.

Tội phạm được coi là hoàn thành từ thời điểm có hành động giao cấu, không cần căn cứ là đã giao cấu xong hay chưa. Nếu người phạm tội mới chỉ có hành vi dùng bạo lực hoặc thủ đoạn khác nhưng chưa kịp giao cấu mà bị ngăn chặn thì phạm tội chưa đạt. Nếu nửa chừng chấm dứt tội phạm thì người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi thực tế đã gây ra như gây thương tích cho người dưới 16 tuổi, làm nhục người khác…

Hành vi thuộc mặt khách quan của tội phạm là hành vi dâm ô đối với người dưới 16 tuổi.

Dâm ô là hành vi của những người cùng giới tính hoặc khác giới tính tiếp xúc về thể chất trực tiếp hoặc gián tiếp qua lớp quần áo vào bộ phận sinh dục, bộ phận nhạy cảm, bộ phận khác trên cơ thể của người dưới 16 tuổi có tính chất tình dục nhưng không nhằm quan hệ tình dục, gồm một trong các hành vi sau đây:

a) Dùng bộ phận sinh dục, bộ phận nhạy cảm tiếp xúc (ví dụ: đụng chạm, cọ xát, chà xát…) với bộ phận sinh dục, bộ phận nhạy cảm, bộ phận khác của người dưới 16 tuổi;

b) Dùng bộ phận khác trên cơ thể (ví dụ: tay, chân, miệng, lưỡi…) tiếp xúc (ví dụ: vuốt ve, sờ, bóp, cấu véo, hôn, liếm…) với bộ phận sinh dục, bộ phận nhạy cảm của người dưới 16 tuổi;

c) Dùng dụng cụ tình dục tiếp xúc (ví dụ: đụng chạm, cọ xát, chà xát…) với bộ phận sinh dục, bộ phận nhạy cảm của người dưới 16 tuổi;

d) Dụ dỗ, ép buộc người dưới 16 tuổi dùng bộ phận khác trên cơ thể của họ tiếp xúc (ví dụ: vuốt ve, sờ, bóp, cấu véo, hôn, liếm…) với bộ phận nhạy cảm của người phạm tội hoặc của người khác;

đ) Các hành vi khác có tính chất tình dục nhưng không nhằm quan hệ tình dục (ví dụ: hôn vào miệng, cổ, tai, gáy… của người dưới 16 tuổi).

Tội phạm được coi là hoàn thành kể từ thời điểm thực hiện hành vi dâm ô.

 

Chủ thể Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi được thực hiện bởi bất kỳ người nào từ đủ 14 tuổi trở lên có năng lực trách nhiệm hình sự. Chủ thể của tội phạm là người từ đủ 18 tuổi trở lên có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự.

Tuy nhiên, những trường hợp sau được loại trừ xử lý hình sự:

a) Người trực tiếp chăm sóc, giáo dục người dưới 10 tuổi, người bệnh, người tàn tật, có hành vi tiếp xúc với bộ phận sinh dục, bộ phận nhạy cảm của họ nhưng không có tính chất tình dục (ví dụ: cha, mẹ tắm rửa, vệ sinh cho con dưới 10 tuổi; giáo viên mầm non tắm rửa, vệ sinh cho trẻ mầm non…);

b) Người làm công việc khám, chữa bệnh, chăm sóc y tế; người cấp cứu, sơ cứu người bị nạn có hành vi tiếp xúc với bộ phận sinh dục, bộ phận nhạy cảm, bộ phận khác của người dưới 16 tuổi nhưng không có tính chất tình dục (ví dụ: bác sĩ khám, chữa bệnh cho bệnh nhân; sơ cứu, cấp cứu người bị tai nạn, người bị đuối nước…).

Mặt chủ quan Tội phạm được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Người phạm tội nhận thức được hành vi mình làm là gì, biết trước được hậu quả sẽ xâm hại tình dục đối với người dưới 16 tuổi và mong muốn hậu quả giao cấu với người dưới 16 tuổi xảy ra. Người phạm tội thực hiện hành vi này với mong muốn thỏa mãn nhu cầu sinh lý của mình và lựa chọn nạn nhân là người dưới 16 tuổi, còn non nớt, dễ bị dụ dỗ, khống chế, sau khi thực hiện xong hành vi cũng dễ dọa nạt, không cho nạn nhân tố giác mình. Lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý trực tiếp. Người phạm tội nhận biết rõ đối tượng là trẻ em dưới 16 tuổi và hành vi phạm tội không nhằm mục đích giao cấu hoặc quan hệ tình dục khác đối với người dưới 16 tuổi. Dấu hiệu mục đích này là dấu hiệu để phân biệt tội dâm ô với tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi. Tuy nhiên người phạm tội nhân thức được hành vi của mình không nhằm mục đích giao cấu nhưng nhằm mục đích thỏa mãn thú tính, thỏa mãn dục vọng của người phạm tội, biết được hành vi của mình có thể gây hậu quả xâm hại đến đứa trẻ nhưng vẫn mong muốn hậu quả xảy ra.
Hình phạt Điều 142 BLHS quy định 4 khung hình phạt đối với người phạm tội như sau:

– Khung hình phạt phạt tù từ 07 năm đến 15 năm đối với người dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi trái với ý muốn của họ hoặc giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người dưới 13 tuổi.

– Khung hình phạt phạt tù từ 12 năm đến 20 năm đối với người phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây: Có tính chất loạn luân; làm nạn nhân có thai; gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%; đối với người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh; phạm tội 02 lần trở lên; đối với 02 người trở lên; tái phạm nguy hiểm.

– Khung hình phạt phạt tù 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình đối với người phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây: Có tổ chức; nhiều người hiếp một người; đối với người dưới 10 tuổi; gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên; biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội; làm nạn nhân chết hoặc tự sát.

– Khung hình phạt bổ sung, người phạm tội có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Điều 146 BLHS quy định 04 khung hình phạt về tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi như sau:

– Khung hình phạt phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm trong trường hợp người nào đủ 18 tuổi trở lên mà có hành vi dâm ô đối với người dưới 16 tuổi không nhằm mục đích giao cấu hoặc không nhằm thực hiện các hành vi quan hệ tình dục khác.

– Khung hình phạt phạt tù từ 03 năm đến 07 năm khi người phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây: Phạm tội có tổ chức; phạm tội 02 lần trở lên; đối với 02 người trở lên; đối với người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh; gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% tái phạm nguy hiểm.

– Khung hình phạt phạt tù từ 07 năm đến 12 năm khi người phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây: gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên; làm nạn nhân tự sát.

– Khung hình phạt bổ sung, Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Tội hiếp dâm

Một người khi có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ khi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác trái với ý muốn của nạn nhân thì phạm tội hiếp dâm theo quy định tại Điều 141 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017 (BLHS).

Điều 141 BLHS quy định như sau:

Điều 141. Tội hiếp dâm

1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác trái với ý muốn của nạn nhân, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Có tổ chức;

b) Đối với người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh;

c) Nhiều người hiếp một người;

d) Phạm tội 02 lần tr lên;

đ) Đối với 02 người trở lên;

e) Có tính chất loạn luân;

g) Làm nạn nhân có thai;

h) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;

i) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61 % trở lên;

b) Biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội;

c) Làm nạn nhân chết hoặc tự sát.

4. Phạm tội đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm.

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 Điều này, thì bị xử phạt theo mức hình phạt quy định tại các khoản đó.

5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”.

Các yếu tố cấu thành tội phạm:

+ Khách thể của tội phạm: Tội phạm xâm phạm quan hệ nhân thân của nạn nhân gồm sức khỏe, danh dự và nhân phẩm.

+ Chủ thể của tội phạm: Có thể là nam giới hoặc nữ giới bởi xử lý cả các hành vi quan hệ tình dục khác. Như vậy người đủ năng lực trách nhiệm hình sự, dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc bằng thủ đoạn khác giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác trái với ý muốn của nạn nhân thì đều có thể trở thành chủ thể của tội phạm đối với tội hiếp dâm.

+ Mặt khách quan của tội phạm: Người phạm tội có hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác trái với ý muốn của nạn nhân. 

+ Mặt chủ quan của tội phạm: Người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý.

 

 

Tội hành hạ người khác

Hành hạ người khác là một trong những tội thuộc chương XIV Phần thứ hai Bộ luật hình sự, tức là thuộc nhóm các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người. Bài viết phân tích tội hành hạ người khác và các yếu tố cấu thành tội phạm của tội này.

Điều 140 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 (BLHS) quy định về tội phạm như sau:

Điều 140. Tội hành hạ người khác

1. Người nào đối xử tàn ác hoặc làm nhục người lệ thuộc mình nếu không thuộc các trường hợp quy định tại Điều 185 của Bộ luật này, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 03 năm:

a) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, m đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

b) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 31% tr lên;

c) Đối với 02 người trở lên”.

Các yếu tố cấu thành tội phạm:

+ Mặt khách quan của tội phạm: Người phạm tội có hành vi đối xử tàn ác đối với người lệ thuộc mình, cụ thể: Đối xử tàn ác, được hiểu là hành vi gây ra sự đau đớn về thể xác (và tinh thần) đối với nạn nhân dưới các hình thức như đánh đập, bỏ đói, có hoặc không kèm theo việc chửi mắng thậm tệ. Việc đối xử tàn ác phải chưa đạt đến mức độ nghiêm trọng để truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe.

+ Khách thể của tội phạm: Hành vi phạm tội nêu trên xâm phạm đến sức khỏe của người khác (gồm sức khỏe thể chất và sức khỏe tâm thần).

+ Mặt chủ quan của tội phạm:

Người phạm tội thực hiện tội phạm này với lỗi cố ý.

+ Chủ thể của tội phạm: Chủ thể của tội này là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự và phải có mối quan hệ lệ thuộc với nạn nhân.

Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác được quy định tại Điều 138 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 (BLHS) như sau:

Điều 138. Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

1. Người nào vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ từ 01 năm đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm:

a) Đối với 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên.

3. Phạm tội đối với 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên, thì bị phạt cải tạo không giam giữ từ 02 năm đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 03 năm”.

Các yếu tố cấu thành tội phạm:

+ Khách thể của tội phạm: Hành vi phạm tội xâm phạm đến sức khỏe của người khác.

+ Mặt khách quan của tội phạm:

-Về hành vi:

  • Đối  với tội cố ý gây thương tích. Được thể hiện qua hành vi dùng vũ lực (có sử dụng hung khí hoặc không sử dụng hung khí) hoặc thủ đoạn khác tác động lên cơ thể người khác gây tổn thương cho họ. 
  • Đối với tội cố ý gây tổn hại cho sức khỏe của người khác. Được thể hiện qua hành vi dùng thủ đoạn tác động vào cơ thể nạn nhân làm cho một số bộ phận cơ thể nạn nhân bị mất hoặc bị suy giảm chức năng (như đánh vào huyệt gây liệt bán thân, cho uống thuốc độc gây tổn hại nội tạng, tạt axit gây mù mắt…) mặc dù các bộ phận (cơ quan) của cơ thể vẫn còn nguyên vẹn.
    Tổn hại gồm tổn hại đối với cơ thể và tổn hại đối với thần kinh (sức khỏe tâm thần).

– Về hậu quả:

 Hành vi nêu trên đã gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác với tỷ lệ thương tật từ 31% trở lên. Đây là dấu hiệu cấu thành cơ bản của tội này.

+ Chủ thể của tội phạm: Chủ thể của tội phạm này là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự.

+ Mặt chủ quan của tội phạm: Người phạm tội thực hiện tội phạm này với lỗi vô ý.

 

 

Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh

Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh là một trường hợp của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác. Tội này được quy định tại Điều 135 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 (BLHS).

Điều 135 BLHS quy định:

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân đối với người đó hoặc đối với người thân thích của người đó, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 31% trở lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên hoặc dẫn đến chết người”.

Các yếu tố cấu thành tội phạm:

+ Khách thể của tội phạm:

Tội phạm xâm phạm vào quyền được bảo hộ về sức khỏe của con người.

+ Mặt khách quan của tội phạm:

Hành vi khách quan của tội phạm này là hành vi (cố ý) gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người đã có hành vi trái pháp luật nghiêm trọng đối với người phạm tội hoặc người thân thích của người phạm tội. Hậu quả của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh là thiệt hại về vật chất – hậu quả thương tích hoặc gây tổn hại đáng kể cho sức khỏe của người đã có hành vi trái pháp luật nghiêm trọng đối với người phạm tội hoặc người thân thích của người phạm tội. Hành vi trái pháp luật của nạn nhân phải có mối quan hệ nhân quả với trạng thái tinh thần bị kích động mạnh ở người phạm tội.

+ Mặt chủ quan của tội phạm: Tội phạm được thực hiện dưới hình thức lỗi cố ý.

+ Chủ thể của tội phạm: Là người đang bị kích động mạnh về tinh thần, có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.

Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác được quy định tại Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 (BLHS), có hiệu lực từ ngày 01/01/2018.

Điều 134 BLHS quy định như sau:

Điều 134. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy him hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;

b) Dùng a-xít nguy him hoặc hóa chất nguy hiểm;

c) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, thầy giáo, cô giáo của mình, người nuôi dưỡng, chữa bệnh cho mình;

đ) Có tổ chức;

e) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

g) Trong thời gian đang bị giữ, tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành án phạt tù, đang chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng hoặc đang chấp hành biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng hoặc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc;

h) Thuê gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do được thuê;

i) Có tính chất côn đồ;

k) Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm:

a) Gây thương tích hoặc gây tn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31 % đến 60%;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 11% đến 30%;

c) Phạm tội 02 lần tr lên;

d) Tái phạm nguy hiểm;

đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tn thương cơ thể 61% trở lên, nếu không thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 4 Điều này;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mi người từ 31% đến 60%;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tn thương cơ thể từ 31 % đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này;

d) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 14 năm:

a) Làm chết người;

b) Gây thương tích làm biến dạng vùng mặt của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;

d) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tn thương cơ thể 61 % trở lên nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này;

đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.

5. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Làm chết 02 người tr lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.

6. Người nào chuẩn bị vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm, a-xít nguy hiểm, hóa chất nguy hiểm hoặc thành lập hoặc tham gia nhóm tội phạm nhằm gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm”.

Các yếu tố cấu thành tội phạm:

+ Khách thể của tội phạm: Tội phạm xâm phạm đến quyền bất khả xâm phạm về sức khỏe của con người. Quyền này được hiến pháp và pháp luật bảo vệ, đòi hỏi các cá nhân và các chủ thể khác trong xã hội phải tôn trọng. 

+ Mặt khách quan của tội phạm: 

Thể hiện ở hành vi tác động vào cơ thể của người khác làm cho người đó bị thương hoặc bị tổn hại sức khỏe như đâm, chém, đấm đá, đốt cháy…các hành vi tương tự giết người, nhưng tính chất và mức độ nguy hiểm thấp hơn, nạn nhân chỉ bị thương hoặc bị tổn hại đến sức khỏe.

Các hành vi chỉ bị truy cứu trách nhiệm về tội này, nếu gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho người khác với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% trở lên hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp từ điểm a đến điểm k khoản 1.

Đối với khoản 1 chỉ khởi tố khi có yêu cầu của người bị hại.

+ Chủ thể của tội phạm:

 Bất kỳ người nào từ đủ 16 tuổi trở lên (khoản 1 và  2) hoặc từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi trở lên (khoản 3 và 4) có năng lực trách nhiệm hình sự.

+ Mặt chủ quan của tội phạm: 

Lỗi cố ý

Điều chỉnh giấy chứng nhận đầu tư như thế nào?

Các bước thực hiện Thủ tục điều chỉnh giấy chứng nhận đầu tư

Bước 1: Thực hiện thủ tục điều chỉnh và cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư theo thủ tục đầu tư

Trước khi nộp hồ sơ, nhà đầu tư không bắt buộc nhưng được khuyến khích kê khai trực tuyến thông tin về dự án đầu tư tại Hệ thống thông tin quốc gia về đầu tư nước ngoài (dautunuocngoai.gov.vn hoặc fdi.gov.vn). Trong vòng 15 ngày làm việc kể từ ngày kê khai trực tuyến, nhà đầu tư phải nộp  bộ hồ sơ  điều chỉnh Giấy chứng nhận dự án đầu tư tới Cơ quan đăng ký đầu tư.

Tùy theo dự án đầu tư mà hồ sơ điều chỉnh Giấy chứng nhận dự án đầu tư bao gồm:

Đối với sự án đầu tư không phải xin cấp quyết đinh chủ trương đầu tư

  • Văn bản đề nghị điều chỉnh Giấy chứng nhận đầu tư;
  • Báo cáo tình hình triển khai dự án đầu tư đến thời điểm đề nghị điều chỉnh dự án đầu tư;
  • Quyết định về việc điều chỉnh dự án đầu tư của nhà đầu tư;
  • Đề xuất dự án đầu tư bao gồm các nội dung: nhà đầu tư thực hiện dự án, mục tiêu đầu tư, quy mô đầu tư, vốn đầu tư và phương án huy động vốn, địa điểm, thời hạn, tiến độ đầu tư, nhu cầu về lao động, đề xuất hưởng ưu đãi đầu tư, đánh giá tác động, hiệu quả kinh tế – xã hội của dự án (đối với dự án chưa được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư và Đăng ký doanh nghiệp);
  • 01 bản sao y chứng thực Giấy chứng nhận đầu tư;
  • Bản gốc GCN đăng ký đầu tư;
  • 01 bản sao y chứng thực Giấy chứng nhận đăng ký thuế (đối với dự án chưa được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư và Đăng ký doanh nghiệp);
  • 01 bản sao y chứng thực Giấy chứng nhận đăng ký Doanh nghiệp;
  • Báo cáo đầu tư (Báo cáo doanh nghiệp nộp online trên trang dautunuocngoai.gov.vn)
  • Tài liệu xác nhận đã góp đủ vốn đến thời điểm điều chỉnh: 01 bản so y chứng thực Báo cáo tài chính kiểm toán gần với thời điểm điều chỉnh nhất hoặc Xác nhận của ngân hàng về việc nhà đầu tư đã góp đủ vốn.

Đối với những nội dung thay đổi cụ thể cần cung cấp thêm:

  • Trường hợp thay đổi trụ sở cần cung cấp: Giấy tờ về trụ sở bao gồm: Hợp đồng thuê trụ sở, bản công chứng Giấy tờ chứng minh quyền cho thuê của bên cho thuê (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy phép xây dựng, Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh có chức năng kinh doanh bất động sản của bên cho thuê hoặc các giấy tờ tương đương);
  • Trường hợp thay đổi vốn đầu tư cần cung cấp: Xác nhận ngân hàng đối với tài khoản vốn chứng minh công ty đã góp đủ vốn (nếu Báo cáo tài chính không thể hiện công ty đã góp đủ vốn); xác nhận ngân hàng hoặc tài liệu chứng minh phần vốn góp tăng thêm;
  • Trường hợp thay đổi người đại diện theo pháp luật cần cung cấp: Hộ chiếu công chứng, xác nhận cư trú/ thẻ tạm trú công chứng của đại diện theo pháp luật mới;
  • Trường hợp thay đổi thông tin nhà đầu tư, người đại diện của nhà đầu tư: bản công chứng: Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh mới, hộ chiếu mới hoặc văn bản thể hiện thông tin mới/ chứng minh sự thay đổi thông tin;
  • Giải trình về sử dụng công nghệ đối với dự án quy định tại điểm b khoản 1 Điều 32 của Luật này gồm các nội dung: tên công nghệ, xuất xứ công nghệ, sơ đồ quy trình công nghệ; thông số kỹ thuật chính, tình trạng sử dụng của máy móc, thiết bị và dây chuyền công nghệ chính;
  • Hợp đồng BCC đối với dự án đầu tư theo hình thức hợp đồng BCC.

Đối với các dự án thuộc diện phải quyết định chủ trương đầu tư

Khi điều chỉnh dự án đầu tư liên quan đến mục tiêu, địa điểm đầu tư, công nghệ chính, tăng hoặc giảm vốn đầu tư trên 10% tổng vốn đầu tư, thời hạn thực hiện, thay đổi nhà đầu tư hoặc thay đổi điều kiện đối với nhà đầu tư (nếu có), cơ quan đăng ký đầu tư thực hiện thủ tục quyết định chủ trương đầu tư trước khi điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư.

Cơ quan đăng ký đầu tư in giấy biên nhận hồ sơ từ Hệ thống và giao cho nhà đầu tư khi nộp hồ sơ.

Trường hợp hồ sơ không hợp lệ, Cơ quan đăng ký đầu tư thông báo nội dung không hợp lệ bằng văn bản cho nhà đầu tư trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ để nhà đầu tư sửa đổi hoặc bổ sung.

Trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ theo quy định tại khoản 2 Điều này, cơ quan đăng ký đầu tư điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư; trường hợp từ chối điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư phải thông báo bằng văn bản cho nhà đầu tư và nêu rõ lý do.

Bước 2: Thay đổi nội dung liên quan trên Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp và Đăng Thông tin đăng ký doanh nghiệp trên Cổng thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia

Trường hợp việc điều chỉnh Giấy chứng nhận đầu tư làm thay đổi thông tin liên quan ở Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp thì nhà đầu tư phải làm thủ tục thay đổi đăng ký doanh nghiệp theo quy định của Luật doanh nghiệp năm 2020.

Một số lưu ý:

  • Trường hợp đề xuất của nhà đầu tư về việc điều chỉnh nội dung Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư dẫn đến dự án đầu tư thuộc diện phải quyết định chủ trương đầu tư, cơ quan đăng ký đầu tư thực hiện thủ tục quyết định chủ trương đầu tư trước khi điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư.
  • Đối với doanh nghiệp chưa thực hiện thủ tục tách giấy chứng nhận Đăng ký doanh nghiệp phải thực hiện tách Giấy chứng nhận đầu tư thành Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư và Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp và cấp lại con dấu mới, công bố mẫu dấu theo quy định
  • Đối với các ngành nghề kinh doanh mới điều chỉnh là ngành nghề kinh doanh có điều kiện đề nghị doanh nghiệp đảm bảo các điều kiện trong quá trình hoạt động.

Cơ quan có thẩm quyền điều chỉnh Giấy chứng nhận đầu tư

Cơ quan có thẩm quyền điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư (cơ quan đăng ký đầu tư) bao gồm các cơ quan sau:

  1. Ban Quản lý khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế tiếp nhận, điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đối với các dự án đầu tư trong khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế.
  2. Sở Kế hoạch và Đầu tư:
  • Sở Kế hoạch và Đầu tư nơi nhà đầu tư đặt hoặc dự kiến đặt trụ sở chính hoặc văn phòng điều hành để thực hiện dự án đầu tư tiếp nhận, điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đối với dự án đầu tư sau đây:
  • Dự án đầu tư thực hiện trên địa bàn nhiều tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.
  • Dự án đầu tư thực hiện ở trong và ngoài khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao và khu kinh tế.

Sở kế hoạch và Đầu tư tiếp nhận, điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đối với các dự án đầu tư ngoài khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế, trừ trường hợp trên.

0988873883