Hình phạt

Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nhà nước nghiêm khắc mà Tòa án nhân danh Nhà nước áp dụng đối với người phạm tội nhằm mục đích trừng trị và giáo dục họ, qua đó nhằm giáo dục người khác tôn trọng phạm luật, tham gia tích cực đấu tranh phòng chống tội phạm. Bài viết này làm rõ những quy định của pháp luật hiện hành về hình phạt.

1. Khái niệm hình phạt

Điều 30 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 (BLHS) quy định về hình phạt như sau:

Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước được quy định trong Bộ luật này, do Tòa án quyết định áp dụng đối với người hoặc pháp nhân thương mại phạm tội nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, li ích của người, pháp nhân thương mại đó”.

2. Đặc điểm hình phạt

Dựa vào khái niệm, có thể rút ra hình phạt có một số đặc điểm sau:

+ Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất: Người bị kết án có thể bị hạn chế hoặc tước bỏ quyền tự do, quyền về tài sản,… thậm chí cả quyền sống. Đối với pháp nhân thương mại, tính nghiêm khắc của hình phạt thể hiện ở việc pháp nhân đó bị phạt tiền, đình chỉ hoạt động có thời hạn hoặc trong trường hợp đặc biệt còn có thể bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn. Bên cạnh đó, hình phạt cũng để lại hậu quả pháp lí là án tích cho người hoặc pháp nhân thương mại bị kết án trong thời hạn nhất định theo quy định của pháp luật.

+ Hình phạt được luật hình sự quy định và do Tòa án áp dụng: Tòa án là cơ quan duy nhất có quyền quyết định hình phạt đối với người phạm tội hoặc pháp nhân thương mại. Đồng thời Tòa án chỉ được áp dụng các hình phạt được luật quy định trong BLHS.

3. Các loại hình phạt đối với người phạm tội

Điều 32 BLHS quy định đối với người phạm tội có hình phạt chính và hình phạt bổ sung như sau:

+ Hình phạt chính bao gồm: Cảnh cáo; phạt tiền; cải tạo không giam giữ; trục xuất; tù có thời hạn; tù chung thân và tử hình.

+ Hình phạt bổ sung bao gồm: Cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định; Cấm cư trú; Quản chế; Tước một số quyền công dân; Tịch thu tài sản; Phạt tiền, khi không áp dụng là hình phạt chính; Trục xuất, khi không áp dụng là hình phạt chính.

Đối với mỗi tội phạm, người phạm tội chỉ bị áp dụng một hình phạt chính và có thể bị áp dụng một hoặc một số hình phạt bổ sung.

4. Các hình phạt đối với pháp nhân thương mại phạm tội

Theo quy định tại Điều 33 BLHS, đối với pháp nhân thương mại phạm tội có các hình phạt sau:

+ Hình phạt chính bao gồm: Phạt tiền; Đình chỉ hoạt động có thời hạn; đình chỉ hoạt động vĩnh viễn.

+ Hình phạt bổ sung bao gồm: Cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định; Cấm huy động vốn; Phạt tiền, khi không áp dụng là hình phạt chính.

Đối với mỗi tội phạm, pháp nhân thương mại phạm tội chỉ bị áp dụng một hình phạt chính và có thể bị áp dụng một hoặc một số hình phạt bổ sung.

 

 

Căn cứ miễn trách nhiệm hình sự

Miễn trách nhiệm hình sự là căn cứ quan trọng thể hiện chính sách khoan hồng, nhân đạo của Nhà nước đối với người phạm tội. Tuy nhiên để được miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cần có các căn cứ luật định. Bài viết dưới đây phân tích và làm rõ những căn cứ miễn trách nhiệm hình sự (TNHS).

1. Trường hợp đương nhiên được miễn TNHS

Đương nhiên được miễn TNHS là trường hợp, khi một người có hành vi phạm tội mà có các căn cứ thỏa mãn quy định này thì sẽ được xem xét miễn TNHS mà không cần có bất kỳ một điều kiện nào khác kèm theo. Theo quy định tại Điều 16, khoản 1 Điều 29 BLHS và khoản 2 Điều 155 BLTTHS năm 2015, miễn TNHS cho người phạm tội khi thuộc các căn cứ sau:

  • Người phạm tội tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội. Là trường hợp người phạm tội tự mình không thực hiện tội phạm đến cùng tuy không có gì ngăn cản.
  • Khi tiến hành điều tra, truy tố hoặc xét xử, do có sự thay đổi chính sách, pháp luật làm cho hành vi phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa.
  • Khi có quyết định đại xá.
  • Miễn TNHS khi bị hại hoặc người đại diện của bị hại rút đơn yêu cầu khởi tố vụ án. Quy định này không được thể hiện trong BLHS, và cũng không thể hiện rõ về việc miễn TNHS đối với trường hợp này trong BLTTHS. Tuy nhiên, xét về bản chất của quy phạm, thấy rõ khi vụ án được khởi tố và người thực hiện hành vi bị khởi tố, nghĩa là hành vi của họ đã cấu thành một tội phạm cụ thể; nhưng sau đó bị hại hoặc người đại diện của họ rút yêu cầu thì không tiếp tục giải quyết vụ án mà phải đình chỉ ngay.
  • Người đã nhận làm gián điệp, nhưng không thực hiện nhiệm vụ được giao và tự thú, thành khẩn khai báo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền, thì được miễn TNHS (quy định khoản 4 Điều 110 BLHS).

2.  Trường hợp có thể được miễn TNHS

Ngoài căn cứ được quy định cụ thể trong BLHS thì đòi hỏi phải có sự đánh giá một cách toàn diện tất cả các tình tiết của vụ án của cơ quan, người tiến hành tố tụng về trường hợp nào được miễn, trường hợp nào không được miễn.

  • Khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử do chuyển biến của tình hình mà người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa. 
  • Khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử, người phạm tội mắc bệnh hiểm nghèo dẫn đến không còn khả năng gây nguy hiểm cho xã hội nữa.
  • Trước khi hành vi phạm tội bị phát giác, người phạm tội tự thú, khai rõ sự việc, góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm, cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả của tội phạm và lập công lớn hoặc có cống hiến đặc biệt, được Nhà nước và xã hội thừa nhận.
  • Người thực hiện tội phạm nghiêm trọng do vô ý hoặc tội phạm ít nghiêm trọng gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm hoặc tài sản của người khác, đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả và được người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của người bị hại tự nguyện hòa giải và đề nghị miễn TNHS. Quy định này mở rộng căn cứ để xem xét miễn TNHS cho người phạm tội khi họ thỏa mãn các điều kiện: một là, phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng do vô ý hoặc ít nghiêm trọng; hai là, khách thể bị xâm hại là tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm hoặc tài sản; ba là, đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả; bốn là, người bị hại hoặc đại diện hợp pháp của người bị hại tự nguyện hòa giải và đề nghị miễn TNHS.
  • Người dưới 18 tuổi phạm tội thuộc một trong các trường hợp theo quy định và có nhiều tình tiết giảm nhẹ, tự nguyện khắc phục phần lớn hậu quả, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 29 BLHS, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự (khoản 2 Điều 91 BLHS).
  • Người nào trồng cây thuốc phiện, cây côca, cây cần sa hoặc các loại cây khác có chứa chất ma túy do Chính phủ quy định đã được giáo dục 2 lần và đã được tạo điều kiện ổn định cuộc sống hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc với số lượng từ 500 cây đến dưới 3.000 cây, nhưng đã tự nguyện phá bỏ, giao nộp cho cơ quan chức năng có thẩm quyền trước khi thu hoạch, thì có thể được miễn TNHS (quy định tại khoản 4 Điều 247 BLHS); người đưa hối lộ tuy không bị ép buộc nhưng đã chủ động khai báo trước khi bị phát giác, thì có thể được miễn TNHS (quy định tại khoản 7 Điều 364 BLHS); người môi giới hối lộ mà chủ động khai báo trước khi bị phát giác, thì có thể được miễn TNHS (quy định tại khoản 6 Điều 365 BLHS); người không tố giác nếu đã có hành động can ngăn người phạm tội hoặc hạn chế tác hại của tội phạm, thì có thể được miễn TNHS (quy định tại khoản 2 Điều 390 BLHS). Tất cả các quy định tại các tội phạm cụ thể này đều thể hiện rõ chính sách khoan hồng đặc biệt của Nhà nước ta đối với người phạm tội.

Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự

Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là thời hạn do Bộ luật hình sự quy định mà khi hết thời hạn đó thì người phạm tội không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

1. Quy định về thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự

Theo quy định tại Điều 27 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017 (BLHS) thì thời hiệu được xác định như sau:

  • 05 năm đối với các tội phạm ít nghiêm trọng (các tội phạm mà mức cao nhất của khung hình phạt do BLHS quy định đối với tội ấy là phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến ba năm).
  • 10 năm đối với các tội phạm nghiêm trọng (các tội phạm mà mức cao nhất của khung hình phạt BLHS quy định đối với tội ấy là từ trên 03 năm đến 07 năm tù).
  • 15 năm đối với các tội phạm rất nghiêm trọng (các tội phạm mà mức cao nhất của khung hình phạt do BLHS quy định đối với tội ấy là từ trên 07 năm đến 15 năm)
  • 20 năm đối với các tội đặc biệt nghiêm trọng (các tội phạm mà mức cao nhất của khung hình phạt do BLHS quy định đối với tội ấy là từ trên 15 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình).

Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được tính từ ngày tội phạm được thực hiện. Nếu các thời hạn trên đã hết mà các cơ quan nhà nước vì lý do nào đó mà không phát hiện được, hoặc phát hiện được nhưng bỏ qua không điều tra, truy tố, xét xử thì người phạm tội sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mà họ đã thực hiện.

Tuy nhiên thời hạn trên sẽ bị kéo dài theo khoản 2 Điều 27 BLHS nếu:

  • Nếu trong thời hạn quy định như đã phân tích ở trên, người phạm tội lại thực hiện hành vi phạm tội mới mà BLHS quy định mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy trên 01 năm tù, thì thời hiệu đối với tội cũ được tính lại kể từ ngày thực hiện hành vi phạm tội mới.
  • Nếu trong thời hạn quy định tại khoản 2 Điều 27 BLHS, người phạm tội cố tình trốn tránh và đã có quyết định truy nã, thì thời hiệu tính lại kể từ khi người đó ra đầu thú hoặc bị bắt giữ.

2. Những trường hợp không áp dụng thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự

Một số tội phạm do tính chất đặc biệt nguy hiểm cho xã hội nên Điều 28 BLHS quy định không áp dụng thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, bao gồm các tội:

  • Các tội xâm phạm an ninh quốc gia quy định tại Chương XIII BLHS;
  • Các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh quy định tại Chương XXVI; 
  • Tội tham ô tài sản thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 353; tội nhận hối lộ thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 354 của BLHS.

Trên đây là quy định của pháp luật hình sự về thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự. Nếu cần tư vấn thêm, vui lòng gọi qua hotline: 024 32000 536 để được tư vấn cụ thể.

 

 

Tuổi chịu trách nhiệm hình sự

Xác định độ tuổi của người phạm tội là một trong những yếu tố quan trọng để xác định họ có phải chịu trách nhiệm hình sự hay không. Bài viết dưới đây phân tích những quy định của pháp luật hiện hành về độ tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự.

Tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 12 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 (BLHS), cụ thể:

  • Người từ đủ 16 tui trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà BLHS có quy định khác.
  • Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều 123, 134, 141, 142, 143, 144, 150, 151, 168, 169, 170, 171, 173, 178, 248, 249, 250, 251, 252, 265, 266, 286, 287, 289, 290, 299, 303 và 304 của BLHS.
  • Ngoài ra, theo khoản 3 Điều 14 cũng quy định người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chuẩn bị phạm 4 tội sau đây thì phải chịu trách nhiệm hình sự bao gồm : Tội giết người (Điều 123); Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Điều 134); Tội cướp tài sản (Điều 168); Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản( Điều 169).

Như vậy, theo quy định trên thì những người dưới 14 tuổi sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự; Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng theo quy định của pháp luật và người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Phân biệt phòng vệ chính đáng và tình thế cấp thiết

Theo quy định của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 (BLHS), khi một người hoặc pháp nhân thương mại thực hiện hành vi nguy hiểm được luật hình sự bảo vệ thì phải chịu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, BLHS cũng loại trừ trách nhiệm đối với những trường hợp như phòng vệ chính đáng hay tình thế cấp thiết. Bài viết này là rõ những điểm giống và khác của BLHS về hai quy định này.

1.Giống nhau

– Thực hiện hành vi với mục đích đảm bảo lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác.

– Đều là tình tiết loại trừ tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi nên trong cả dân sự hay hình sự thì hai trường hợp này đều không khiến người gây thiệt hại bị truy cứu trách nhiệm.

– Ngoài ra, pháp luật dân sự cũng có quy định về loại trừ trách nhiệm dân sự cho 02 hành vi trên cũng như chủ thể thực hiện 02 hành vi cũng không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi thiệt hại xảy ra.

– Trường hợp chủ thể thực hiện hành vi vượt quá phòng vệ chính đáng hoặc tình thế cấp thiết thì đều phải chịu trách nhiệm hình sự/dân sự và phải bồi thường thiệt hại mình gây ra. 

2. Khác nhau

TIÊU CHÍ

PHÒNG VỆ CHÍNH ĐÁNG

TÌNH THẾ CẤP THIẾT

Khái niệm

Là hành vi của người vì bảo vệ quyền hoặc lợi ích chính đáng của mình, của người khác hoặc lợi ích của Nhà nước, của cơ quan, tổ chức mà chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên.

Là tình thế của người vì muốn tránh gây thiệt hại cho quyền, lợi ích hợp pháp của mình, của người khác hoặc lợi ích của Nhà nước, của cơ quan, tổ chức mà không còn cách nào khác là phải gây một thiệt hại nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn ngừa.

Nguồn nguy hiểm dẫn đến hành vi

Nguồn nguy hiểm dẫn đến phòng vệ chính đáng là những hành vi nguy hiểm của con người xâm phạm đến lợi ích chính đáng của Nhà nước, của tập thể, quyền và lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác.

Nguồn nguy hiểm có thể do hành vi của con người gây ra.

Ngoài ra, nguồn nguy hiểm dẫn đến tình thế cấp thiết có thể còn là sự nguy hiểm do: thiên tai, do súc vật, do sự cố kỹ thuật,… gây ra.

Phương thức thực hiện

Chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm (chống trả lại một cách cần thiết nguồn nguy hiểm).

Gây một thiệt hại khác nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn ngừa từ nguồn nguy hiểm.

Thiệt hại xảy ra

Người phòng vệ chính đáng được gây thiệt hại cho chính người có hành vi xâm phạm đến lợi ích hợp pháp ở mức độ cần thiết (không bắt buộc phải nhỏ hơn thiệt hại do hành vi xâm phạm gây ra). Đây là mức độ đủ khả năng loại trừ hành vi xâm phạm của người tấn công. Mức độ cần thiết có thể là ngang bằng hoặc mức độ thiệt hại lớn hơn so với thiệt hại do hành vi tấn công gây ra miễn là cần thiết để loại trừ hành vi tấn công chứ không quá mức, quá đáng.

Để đánh giá mức độ cần thiết cần căn cứ tương quan lực lượng giữa bên tấn công và bên phòng chính đáng, căn cứ vào công cụ phương tiện được dùng, vào mỗi quyết tâm của bên tấn công.

Mức độ thiệt hại do người thực hiện hành vi trong tình thế cấp thiết gây ra bắt buộc phải nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn ngừa. Người khắc phục tình trạng nguy hiểm trong tình thế cấp thiết phải lựa chọn cách khắc phục sự nguy hiểm, cân nhắc đánh giá thiệt hại do chính mình gây ra.

Đối tượng của hành vi

Người phòng vệ chính đáng gây ra thiệt hại cần thiết cho chính người đang có hành vi xâm phạm lợi ích hợp pháp chứ không gây thiệt hại cho người khác.

Đây là căn cứ loại trừ được nguồn gốc nguy hiểm, bảo vệ được lợi ích hợp pháp, chống tình trạng lợi dụng danh nghĩa phòng vệ chính đáng để vi phạm pháp luật gây thiệt hại cho xã hội.

Trong tình thế cấp thiết đối tượng bị hành vi khắc phục tình trạng nguy hiểm thiệt hại là một lợi ích.

Tuy nhiên, pháp luật không cho phép gây thiệt hại tính mạng, sức khỏe người khác để khắc phục tình trạng nguy hiểm trong tình thế cấp thiết.

Ưu tiên lựa chọn thực hiện

Không bắt buộc là lựa chọn cuối cùng của người phòng vệ chính đáng.

Phải là lựa chọn cuối cùng (không còn cách nào khác để ngăn chặn thiệt hại xảy ra). 

Những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự

Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 (BLHS) đã quy định những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự tại các điều từ Điều 20 đến Điều 26. Bài viết dưới đây phân tích các quy định này nhằm giúp cho bạn đọc biết rõ các trường hợp mặc dù có hành vi gây hậu quả cho xã hội nhưng được loại trừ trách nhiệm hình sự.

1.Sự kiện bất ngờ (Điều 20 BLHS)

Người thực hiện hành vi gây hậu quả nguy hại cho xã hội trong trường hợp không thể thấy trước hoặc không buộc phải thấy trước hậu quả của hành vi đó, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự”. Trong trường hợp này, bản chất của sự kiện bất ngờ là trường hợp người thực hiện hành vi không có lỗi, họ không có sự lựa chọn khi thực hiện hành vi gây thiệt hại, cũng như họ không thể thấy trước được hậu quả do hoàn cảnh khách quan, đồng thời họ không có nghĩa vụ phải thấy trước hậu quả đó. 

2. Tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự (Điều 21 BLHS)

Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần, một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự”. Tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự là trường hợp người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi do đang trong tình trạng mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác. Để xác định việc mất khả năng nhận thức hành vi hoặc mất khả năng điều khiển hành vi nguy hiểm cho xã hội phải có kết luận giám định và hậu quả cũng như tính chất của hành vi nguy hiểm cho xã hội.

3. Phòng vệ chính đáng (Điều 22 BLHS)

Phòng vệ chính đáng là hành vi của người vì bảo vệ quyền hoặc lợi ích chính đáng của mình, của người khác hoặc lợi ích của Nhà nước, của cơ quan, tổ chức mà chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên. Phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm”.

Theo đó, một hành vi được coi là phòng vệ chính đáng khi thoả mãn đồng thời hai dấu hiệu: một là có hành vi tấn công đang hiện hữu, xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, của tập thể, tổ chức, quyền và lợi ích chính đánh của người phòng vệ hoặc của người khác”, hai là hành vi phòng vệ gây thiệt hại cho người xâm phạm là cần thiết việc quy định hai dấu hiệu này để xác định giới hạn của phòng vệ chính đáng bởi tại khoản 2 của điều luật quy định “Vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng là hành vi chống trả rõ ràng quá mức cần thiết, không phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi xâm hại. Người có hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật này”. Tuy nhiên, nếu người thực hiện hành vi vượt quá giới hạn của phòng vệ chính đáng sẽ là tình tiết giảm nhẹ theo Điều 51 BLHS.

4. Tình thế cấp thiết (Điều 23 BLHS)

Tình thế cấp thiết là tình thế của người vì muốn tránh gây thiệt hại cho quyền, lợi ích hợp pháp của mình, của người khác hoặc lợi ích của Nhà nước, của cơ quan, tổ chức mà không còn cách nào khác là phải gây một thiệt hại nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn ngừa. Hành vi gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết không phải là tội phạm”.

Theo đó, để được xem là tình thế cấp thiết cần phải có đầy đủ ba dấu hiệu:

  • Phải có sự đe dọa hiện hữu và thực tế xâm phạm đối với lợi ích được pháp luật bảo vệ;
  • Hành vi gây thiệt hại là biện pháp duy nhất để khắc phục sự nguy hiểm;
  • Thiệt hại trong tình thế cấp thiết gây ra phải nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn ngừa.

Tương tự phòng vệ chính đáng, tình thế cấp thiết xác định ba dấu hiệu để nhận biết trường hợp vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết theo khoản 2 Điều 23 thì sẽ chịu trách nhiệm hình sự, cũng như được xem xét sẽ là tình tiết giảm nhẹ theo Điều 51 BLHS.

5. Gây thiệt hại trong khi bắt giữ người phạm tội (Điều 24 BLHS)

“Hành vi của người để bắt giữ người thực hiện hành vi phạm tội mà không còn cách nào khác là buộc phải sử dụng vũ lực cần thiết gây thiệt hại cho người bị bắt giữ thì không phải là tội phạm”.

Để được coi là gây thiệt hại trong bắt giữ người phạm tội là một trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự, phải thỏa mãn các ba dấu hiệu sau:

  • Hành vi bắt giữ phải thuộc về các chủ thể có thẩm quyền bắt giữ người phạm tội;
  • Hành vi dùng vũ lực gây thiệt hại cho người bị bắt giữ phải là biện pháp cuối cùng, không còn cách nào khác để bắt giữ người phạm tội;
  • Hành vi dùng vũ lực gây thiệt hại cho người bị bắt giữ phải là cần thiết.

Tuy nhiên, tại khoản 2 cũng quy định tình trạng vượt quá mức cần thiết và tình tiết giảm nhẹ được áp dụng tại Điều 51 BLHS.

6. Rủi ro trong nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ (Điều 25 BLHS)

“Hành vi gây ra thiệt hại trong khi thực hiện việc nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ mới mặc dù đã tuân thủ đúng quy trình, quy phạm, áp dụng đầy đủ biện pháp phòng ngừa thì không phải là tội phạm.

Người nào không áp dụng đúng quy trình, quy phạm, không áp dụng đầy đủ biện pháp phòng ngừa mà gây thiệt hại thì vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự”.

Theo đó: 

  • Hành vi gây thiệt hại trong nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ phải nhằm mục đích đem lại lợi ích cho xã hội;
  • Lĩnh vực của hành vi gây thiệt hại chỉ giới hạn trong nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ;
  • Người gây ra thiệt hại đã tuân thủ đúng quy trình, quy phạm, áp dụng đầy đủ biện pháp phòng ngừa.

7. Thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc của cấp trên (Điều 26 BLHS)

Điều 26 BLHS quy định:”Hành vi gây thiệt hại trong khi thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc của cấp trên trong lực lượng vũ trang nhân dân để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh nếu đã thực hiện đầy đủ quy trình báo cáo người ra mệnh lệnh nhưng người ra mệnh lệnh vẫn yêu cầu chấp hành mệnh lệnh đó”.

Các điều kiện để được coi là thi hi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc cấp trên gồm có bốn điều kiện sau:

  • Mệnh lệnh mà người có hành vi gây thiệt hại thi hành phải là mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc cấp trên thuộc lực lượng vũ trang nhân dân;
  • Mục đích của việc thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc cấp trên thuộc lực lượng vũ trang phải nhằm mục đích thực hiện các nhiệm vụ quốc phòng, an ninh;
  • Người có hành vi gây thiệt hại đã thực hiện đầy đủ quy trình báo cáo người ra mệnh lệnh nhưng người ra mệnh lệnh vẫn yêu cầu chấp hành mệnh lệnh đó;
  • Việc thi hành mệnh lệnh này không thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 – Điều 421, khoản 2 – Điều 422, khoản 2 – Điều 423 BLHS.

Trong trường hợp này, người thực hiện hành vi gây thiệt hại này sẽ không phải chịu trách nhiệm hình sự, tuy nhiên, đối với người ra mệnh lệnh nói trên sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.

 

Phân biệt che giấu tội phạm và không tố giác tội phạm

Không tố giác tội phạm và che giấu tội phạm là hai hành vi khác nhau, tuy nhiên rất dễ bị nhầm lẫn. Bài viết dưới đây sẽ làm rõ những vấn đề xung quanh hai khái niệm này theo Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017.

1.Thế nào là che dấu tội phạm và không tố giác tội phạm

  • Che giấu tội phạm: theo quy định của Bộ luật Hình sự “Người nào không hứa hẹn trước, nhưng sau khi biết tội phạm được thực hiện đã che giấu người phạm tội, dấu vết, tang vật của tội phạm hoặc có hành vi khác cản trở việc phát hiện, điều tra, xử lý người phạm tội, thì phải chịu trách nhiệm hình sự về tội che giấu tội phạm trong những trường hợp mà Bộ luật này quy định”.
  • Không tố giác tội phạm, được hiểu là hành vi không báo cho cơ quan có thẩm quyền về một trong các tội phạm được Bộ luật Hình sự quy định (tại Điều 390) mà mình biết rõ là đang được chuẩn bị, đang hoặc đã được thực hiện.

2. Sự giống nhau giữa che giấu tội phạm và không che giấu tội phạm

– Chủ thể thực hiện do lỗi cố ý, họ đều biết về tội phạm được thực hiện nhưng lại cố tình che giấu hoặc không báo cho cơ quan có chức năng.

– Cùng có trường hợp chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu che giấu hoặc không tố giác các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng khác, đó là:

  • Ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột của người phạm tội
  • Vợ hoặc chồng của người phạm tội

3. Phân biệt che giấu tội phạm và không che giấu tội phạm

STT Tiêu chí Che giấu tội phạm Không tố giác tội phạm
1 Cơ sở pháp lý Điều 18, Điều 389 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 Điều 19, 390 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017
2 Ý thức của người phạm tội Người che giấu tội phạm không hứa hẹn trước, không biết trước việc phạm tội Người thực hiện hành vi biết rõ tội phạm đang được chuẩn bị, đang được thực hiện hoặc đã được thực hiện 
3 Thời điểm phát hiện Sau khi tội phạm được thực hiện mới biết Trong cả quá trình, có thể trước, trong hoặc sau khi tội phạm được thực hiện
4 Cách thức thực hiện – Che giấu dấu vết, tang vật của tội phạm– Cản trở việc phát hiện, điều tra, xử lý người phạm tội – Không tố giác với cơ quan chức năng
5 tình tiết tăng nặng  Đây là tình tiết tăng nặng  không quy định là tình tiết tăng nặng
6 Hình phạt – Xuất hiện trong các tội giết người, tội hủy hoại, cố ý làm hư hỏng tài sản– Bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 05 năm – Bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm– Nếu có hành động can ngăn hoặc hạn chế tác hại của tội phạm, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt
7 đối tượng không phải chịu trách nhiệm hình sự – Ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội – Ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội– Người bào chữa

Phân biệt chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt và tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội

Việc xác định một người nào đó chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt hay tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội là rất quan trọng vì nó quyết định tới việc người nào đó có phải chịu trách nhiệm hình sự hay không, nếu phải chịu thì chịu ở mức độ nào. Thế nhưng, những khái niệm trên lại rất dễ bị nhầm lẫn. Vậy, làm sao để có thể dễ dàng phân biệt cái khái niệm trên một cách chính xác. Bài viết dưới đây sẽ phân tích làm rõ những quy định này

Tiêu chí phân biệt Chuẩn bị phạm tội Phạm tội chưa đạt Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội
Khái niệm Chuẩn bị phạm tội là tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện hoặc tạo ra những điều kiện khác để thực hiện tội phạm hoặc thành lập, tham gia nhóm tội phạm,

 Trừ trường hợp thành lập hoặc tham gia nhóm tội phạm quy định tại Điều 109 (Tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân), điểm a khoản 2 Điều 113 (Tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân) hoặc điểm a khoản 2 Điều 299 (Tội khủng bố) của Bộ luật Hình sự.

Phạm tội chưa đạt là cố ý thực hiện tội phạm nhưng không thực hiện được đến cùng vì những nguyên nhân ngoài ý muốn của người phạm tội.

 

 

Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội là tự mình không thực hiện tội phạm đến cùng, tuy không có gì ngăn cản.

 

 

Cơ sở pháp lý Điều 14 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017. Điều 15 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017. Điều 16 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017.
Hành vi Chủ thể chưa bắt tay vào việc thực hiện hành vi phạm tội được quy định trong mặt khách quan của cấu thành tội phạm (chưa xâm phạm đến các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ), mà chỉ mới thực hiện những hành vi tạo ra các điều kiện thuận lợi, cần thiết cho việc thực hiện tội phạm về sau. – Chủ thế đã bắt tay vào việc thực hiện tội phạm, các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ đã bắt đầu bị xâm hại, đã gây ra hậu quả cho xã hội.

– Người phạm tội không tiếp tục thực hiện tội phạm nữa do nguyên nhân khách quan tác động (chứ không phải do chủ quan như tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội) mà họ không thực hiện được tội phạm đến cùng.

– Người phạm tội tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội là xuất phát từ ý muốn chủ quan của bản thân họ quyết định không tiếp tục thực hiện tội phạm nữa.

– Ngoài ra, điều kiện khách quan không có gì ngăn cản việc thực hiện hành vi phạm tội, nếu người phạm tội muốn thực hiện tội phạm, họ hoàn toàn có thể tiến hành được.

Hậu quả pháp lý Người chuẩn bị phạm tội chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự đối với một số tội sau:

Điều 108 (Tội phản bội Tổ quốc), 109 (Tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân), 110 ( Tội gián điệp), 111 (Tội xâm phạm an ninh lãnh thổ), 112 (Tội bạo loạn ), 113 (Tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân), 114 (Tội phá hoại cơ sở vật chất – kỹ thuật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam), 115 (Tội phá hoại việc thực hiện các chính sách kinh tế – xã hội), 116 ( Tội phá hoại chính sách đoàn kết), 117 (Tội làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam), 118 (Tội phá rối an ninh), 119 (Tội chống phá cơ sở giam giữ), 120 (Tội tổ chức, cưỡng ép, xúi giục người khác trốn đi nước ngoài hoặc trốn ở lại nước ngoài nhằm chống chính quyền nhân dân), 121 (Tội trốn đi nước ngoài hoặc trốn ở lại nước ngoài nhằm chống chính quyền nhân dân), 123 (Tội giết người), 134 (Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác ), 168 (Tội cướp tài sản), 169 (Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản), 207 (Tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả), 299 (Tội khủng bố), 300 (Tội tài trợ khủng bố), 301 (Tội bắt cóc con tin), 302 ( Tội cướp biển), 303 (Tội phá hủy công trình, cơ sở, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia) và 324 (Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự) của Bộ luật Hình sự thì phải chịu trách nhiệm hình sự.

Người phạm tội chưa đạt phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm chưa đạt. Người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự về tội định phạm; nếu hành vi thực tế đã thực hiện có đủ yếu tố cấu thành của một tội khác, thì người đó phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này.

Các trường hợp được hoãn phiên tòa hình sự

Theo quy định tại Điều 294 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, các trường hợp được phép hoãn phiên tòa xét xử gồm:

– Cần phải xác minh, thu thập bổ sung chứng cứ, tài liệu, đồ vật mà không thể thực hiện ngay tại phiên tòa

– Cần tiến hành giám định bổ sung, giám định lại;

– Cần định giá tài sản, định giá lại tài sản

– Có một trong các căn cứ sau đây:

+ Phải thay đổi Kiểm sát viên tại phiên tòa

+ Phải thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm tại phiên tòa

+ Không có Thẩm phán, Hội thẩm dự khuyết để thay thế hoặc phải thay đổi chủ tọa phiên tòa mà không có Thẩm phán để thay thế.

+ Kiểm sát viên bị thay đổi hoặc không thể tiếp tục thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử mà không có Kiểm sát viên dự khuyết để thay thế

+ Bị cáo vắng mặt vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan

+ Người bào chữa được chỉ định vắng mặt

+ Người phiên dịch, người dịch thuật vắng mặt mà không có người khác thay thế

Ngoài ra, Hội đồng xét xử có thể căn cứ vào từng trường hợp cụ thể để hoãn phiên tòa nếu các thành phần sau đây vắng mặt:

– Bị hại, đương sự hoặc người đại diện của họ

– Người làm chứng về những vấn đề quan trọng của vụ án

– Người giám định, người định giá tài sản
 

hoãn phiên tòa hình sự

Thủ tục hoãn phiên tòa xét xử hình sự

Cũng tại Điều 297 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, thời gian hoãn phiên tòa không được quá 30 ngày kể từ ngày ra quyết định hoãn phiên tòa.

Đáng lưu ý là nếu đã hoãn phiên tòa thì vụ án phải được xét xử lại từ đầu.

Ngoài ra, về khi Hội đồng xét xử ra quyết định hoãn phiên tòa thì phải được lập thành văn bản, bắt buộc có các nội dung sau đây:

– Ngày, tháng, năm ra quyết định

– Tên Tòa án và họ tên Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký Tòa án

– Họ tên Kiểm sát viên thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa

– Vụ án được đưa ra xét xử

– Lý do của việc hoãn phiên tòa

– Thời gian, địa điểm mở lại phiên tòa

Khi đó, Hội đồng xét xử phải thông báo cho những người tham gia tố tụng có mặt tại phiên tòa. Trong thời gian 02 ngày kể từ ngày ra quyết định, phải gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp và những người vắng mặt tại phiên tòa.

Phân biệt tội cướp tài sản và tội cướp giật tài sản

Trong thời gian qua, tội phạm cướp giật tài sản và cướp tài sản có dấu hiệu gia tăng, đe dọa đến an ninh, an toàn xã hội. Đây cũng là hai loại tội phạm khiến nhiều người nhầm lẫn nhất. Vậy Tội cướp tài sản và cướp giật tài sản có gì giống và khác nhau?. Bài viết sẽ làm rõ về vấn đề này.

Cướp tài sản và cướp giật tài sản đều là hành vi vi phạm pháp luật và nằm trong nhóm các tội xâm phạm quyền sở hữu được quy định tại Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Cướp tài sản là hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác. Cướp giật tài sản là việc lợi dụng sơ hở, dùng thủ đoạn tinh vi nhanh chóng chiếm đoạt tài sản.
Cả hai tội này đều được thực hiện do lỗi cố ý trực tiếp, mục đích chiếm đoạt tài sản là dấu hiệu bắt buộc. Tuy nhiên, giữa Tội cướp tài sản và Tội cướp giật tài sản sẽ một số đặc điểm khác nhau như sau: 
Tội cướp tài sản Tội cướp giật tài sản

Hành vi

– Dùng vũ lực: là việc người phạm tội dùng các hành động như đấm, đá, bóp cổ, đâm, chém… tác động vào cơ thể nạn nhân. Tuy nhiên, hậu quả của hành vi dùng vũ lực này có thể khiến cho nạn nhân bị thương tích, bị tổn hại sức khỏe hoặc bị chết ngoài ý muốn của người phạm tội. 

– Đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc: là hành vi dùng lời nói hoặc hành động nhằm đe dọa nạn nhân nếu không đáp ứng yêu cầu sẽ tấn công bằng vũ lực. Các hành vi khác là những hành vi không phải dùng vũ lực và đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc, như: dùng thuốc mê, ête, thuốc ngủ… làm cho nạn nhân lâm vào trạng thái hôn mê, không còn khả năng chống cự.

– Có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản.

Người phạm tội không dùng vũ lực, không đe dọa dùng vũ lực cũng không làm cho nạn nhân lâm vào tình trạng không thể chống cự mà lợi dụng sơ hở của người quản lý tài sản, bằng thủ đoạn tinh vi để nhanh chóng chiếm đoạt tài sản.

Đặc trưng của tội phạm này là công khai chiếm đoạt tài sản. Ví dụ như giật túi xách, điện thoại của người đi đường rồi bỏ chạy.

Khách thể bị xâm phạm

– Xâm phạm quyền sở hữu đối với tài sản;

– Xâm phạm quyền nhân thân.

Xâm phạm quyền sở hữu đối với tài sản

Hình phạt

Khung hình phạt nặng hơn, người chuẩn bị phạm tội cũng có thể bị xử lý hình sự.

Cụ thể Điều 168 Bộ luật Hình sự quy định:

1. Người nào dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30%;

d) Sử dụng vũ khí, phương tiện hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác;

đ) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

e) Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu hoặc người không có khả năng tự vệ;

g) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

h) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;

c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 18 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 31% trở lên;

c) Làm chết người;

d) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.

5. Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

6. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Khung hình phạt nhẹ hơn, không có quy định với người chuẩn bị phạm tội.

Điều 171 Bộ luật Hình sự quy định:

1. Người nào cướp giật tài sản của người khác, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

d) Dùng thủ đoạn nguy hiểm;

đ) Hành hung để tẩu thoát;

e) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30%;

g) Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu hoặc người không có khả năng tự vệ;

h) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

i) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;

c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 31% trở lên;

c) Làm chết người;

d) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng.

 

0988873883