Miễn hình phạt

Miễn hình phạt là trường hợp cụ thể khi Tòa án quyết định hình phạt, Tòa án quyết định miễn cho pháp nhân thương mại hoặc người phạm tội hình phạt mà đáng ra họ phải chịu theo quy định Bộ luật hình sự.

Điều 59 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 (BLHS) quy định về miễn hình phạt như sau: “Người phạm tội có thể được miễn hình phạt nếu thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 54 của Bộ luật này mà đáng được khoan hồng đặc biệt nhưng chưa đến mức được miễn trách nhiệm hình sự.”

Dẫn chiếu đến khoản 1, khoản 2 Điều 54 BLHS quy định:

1. Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật khi người phạm tội có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật này.

2. Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng không bắt buộc phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật đối với người phạm tội lần đầu là người giúp sức trong vụ án đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể”.

Như vậy, để được miễn hình phạt cần đảm bảo đủ hai điều kiện sau đây:

+ Thứ nhất, Người phạm tội có thể được miễn hình phạt nếu thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 54 BLHS.

+ Thứ hai, người phạm tội “đáng được khoan hồng đặc biệt nhưng chưa đến mức được miễn trách nhiệm hình sự”.

+ Thứ ba, phân loại tội phạm được miễn hình phạt: Theo quy định tại Điều 59, có thể thấy rằng, bất cứ tội gì cũng có thể được miễn hình phạt, không phân biệt tội đó là tội ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hay đặc biệt nghiêm trọng.

Hệ quả khi áp dụng quy định miễn hình phạt:

+ Người được miễn hình phạt được miễn cả hình phạt chính và hình phạt bổ sung (nếu có). Bởi hình phạt bổ sung là hình phạt chỉ có thể áp dụng kèm với hình phạt chính, có tác dụng củng cố, tăng cường hiệu quả của việc áp dụng hình phạt, giúp cho việc xử lý tội phạm được toàn diện và triệt để. Khi hình phạt chính được miễn thì việc thi hành hình phạt bổ sung là không hợp pháp và không cần thiết.

+ Khoản 2 Điều 69 BLHS 2015 quy định “người bị kết án do lỗi vô ý về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và người được miễn hình phạt không bị coi là có án tích”. Như vậy, người được miễn hình phạt được đương nhiên xóa án tích ngay tại thời điểm bản án có hiệu lực pháp luật hoặc sau khi đã chấp hành xong các nghĩa vụ khác trong bản án như nghĩa vụ bồi thường thiệt hại, nộp án phí. Đây là điểm đặc biệt mà chỉ có ở chế định miễn hình phạt và miễn trách nhiệm hình sự (TNHS).

+ Tại điểm c khoản 2 Điều 451 BLTTHS năm 2015 có quy định Tòa án có thể quyết định “miễn TNHS hoặc miễn hình phạt và áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh”. Như vậy, người được miễn hình phạt vẫn có thể bị áp dụng một số biện pháp tư pháp. Và trong thực tiễn xét xử cho thấy, người được miễn hình phạt có thể bị áp dụng một hoặc nhiều biện pháp tư pháp được quy định tại khoản 1  Điều 46 BLHS 2015 bao gồm: “a) Tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm; b) Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại, buộc công khai xin lỗi; c) Bắt buộc chữa bệnh”.

Phân biệt miễn hình phạt và miễn trách nhiệm hình sự

Miễn hình phạt và miễn trách nhiệm hình sự đều là chế định phản ánh chính sách khoan hồng, nhân đạo của luật hình sự Việt Nam. Tuy nhiên giữa miễn hình phạt và miễn trách nhiệm hình sự đều có những điểm giống và khác nhau. Bài viết dưới đây sẽ làm rõ về vấn đề này.

+ Giống nhau:

  • Đều là chế định phản ánh chính sách khoan hồng, nhân đạo của luật hình sự Việt Nam.
  • Không cách ly họ ra khỏi đời sống xã hội mà tạo điều kiện cho họ nhanh chóng tái hòa nhập cộng đồng, trở thành người có ích cho xã hội.
  • Đều chỉ áp dụng khi đáp ứng đủ các điều kiện luật định.
  • Người được miễn THNHS và miễn hình phạt đều không phải chịu hậu quả pháp lý bất lợi của việc phạm tội hoặc của việc quyết định hình phạt và án tích.

+ Khác nhau: 

STT MIỄN TNHS MIỄN  HÌNH PHẠT
Khái niệm Miễn trách nhiệm hình sự là việc ko bắt buộc người phạm tội phải chịu TNHS về tội mà họ đã thực hiện Miễn hình phạt là ko buộc người bị kết án phải chịu hình phạt về tội họ đã thực hiện.
Điều kiện + Người phạm tội được miễn TNHS khi có một trong những căn cứ sau đây:
a) Khi tiến hành điều tra, truy tố hoặc xét xử, do có sự thay đổi chính sách, pháp luật làm cho hành vi phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa;
b) Khi có quyết định đại xá.
+ Người phạm tội có thể được miễn TNHS khi có một trong các căn cứ sau:
a) Khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử do chuyển biến của tình hình mà người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa;
b) Khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử, người phạm tội mắc bệnh hiểm nghèo dẫn đến không còn khả năng gây nguy hiểm cho xã hội nữa;
c) Người phạm tội tự thú, khai rõ sự việc, góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm, cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả của tội phạm và lập công lớn hoặc có cống hiến đặc biệt, được Nhà nước và xã hội thừa nhận.
+ Người thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng do vô ý gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm hoặc tài sản của người khác và được người bị hại hoặc người đại diện của người bị hại tự nguyện hòa giải và đề nghị miễn trách nhiệm hình sự, thì có thể được miễn TNHS.
Người phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại k1,2 Đ54 BLHS năm 2015, đáng được khoan hồng đặc biệt nhưng chưa đến mức được miễn TNHS.
Theo quy định khoản 1,2 Điều 54 “1. Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật khi người phạm tội có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật này.
2. Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng không bắt buộc phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật đối với người phạm tội lần đầu là người giúp sức trong vụ án đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể.”
Thẩm quyền áp dụng Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án Tòa án
Hậu quả pháp lý – Không có án tích.
– Có tính khoan hồng cao hơn so với miễn hình phạt.
Có án tích nhưng thuộc trường hợp đương nhiên được xóa án tích.
Đối tượng Đối tượng của MTNHS có thể là người đã bị kết án hoặc chưa bị kết án.
 
Người đã bị kết án bằng một bản án có hiệu lực pháp luật.
Các trường hợp được miễn TNHS và miễn hình phạt. – Các TH miễn TNHS bao gồm tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội Điều 16; người chưa thành niên phạm tội ít nghiêm trọng hoặc nghiêm trọng, gây hại ko lớn, có nhiều tình tiết giảm nhẹ…Điều 91; người đã nhận làm gián điệp, nhưng ko thực hiện nhiệm vụ đc giao và tự thú, thành khẩn khai báo Điều 110; người không tố giác có hành động can ngăn người phạm tội hoặc hạn chế tác hại của tội phạm khoản 3 Điều 390. Miễn hình phạt chỉ đc quy định ở 2 điều luật đó là Điều 59 và khoản 3 Điều 390 tội không tố giác tội phạm.

Quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt

Khi quyết định hình phạt đối với người chuẩn bị phạm tội hoặc phạm tội chưa đạt, Tòa án cần dựa vào những căn cứ luật định để ra bản án đúng tội, đúng pháp luật. Bài viết dưới đây phân tích những quy định của pháp luật khi quyết định hình phạt đối với hai trường hợp này.

Điều 57 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 (BLHS) quy định về quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt như sau:

“1. Đối với hành vi chuẩn bị phạm tội và hành vi phạm tội chưa đạt, hình phạt được quyết định theo các điều của Bộ luật này về các tội phạm tương ứng tùy theo tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, mức độ thực hiện ý định phạm tội và những tình tiết khác khiến cho tội phạm không thực hiện được đến cùng.

  1. Đối với trường hợp chuẩn bị phạm tội, hình phạt được quyết định trong phạm vi khung hình phạt được quy định trong các điều luật cụ thể.
  2. Đối với trường hợp phạm tội chưa đạt, nếu điều luật được áp dụng có quy định hình phạt cao nhất là tù chung thân hoặc tử hình thì áp dụng hình phạt tù không quá 20 năm; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt không quá ba phần tư mức phạt tù mà điều luật quy định”

Như vậy có thể thấy thì hành vi chuẩn bị phạm tội, hình phạt được quyết định theo các điều của Bộ luật hình sự về các tội phạm tương ứng tùy theo tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, mức độ thực hiện ý định phạm tội và những tình tiết khác khiến cho tội phạm không thực hiện được đến cùng. Quy định này được coi như là một căn cứ quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt, trong đó chúng ta thấy có những nội dung có tính chất đặc thù cho trường hợp chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt như: “mức độ thực hiện ý định phạm tội và những tình tiết khác khiến cho tội phạm không thực hiện được đến cùng”.

Đối với trường hợp chuẩn bị phạm tội, nếu điều luật được áp dụng có quy định hình phạt cao nhất là tù chung thân hoặc tử hình, thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng là không quá hai mươi năm tù.

Nếu điều luật được áp dụng có quy định là tù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất đối với người chuẩn bị phạm tội không quá một phần hai mức phạt tù mà điều luật quy định…

Quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng

Đối với các trường hợp phạm tội thông thường, Tòa án khi quyết định hình phạt phải căn cứ theo quy định tại điều 50 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 (BLHS). Tuy nhiên, trong một số trường hợp đặc biệt Tòa án có thể quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng. Bài viết dưới đây sẽ làm rõ vấn đề này.

Điều 54 BLHS quy định vấn đề quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt áp dụng như sau:

“Điều 54. Quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng

1. Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật khi người phạm tội có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật này.

2. Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng không bắt buộc phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật đối với người phạm tội lần đầu là người giúp sức trong vụ án đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể.

3. Trong trường hợp có đủ các điều kiện quy định tại khoản 1 hoặc khoản 2 Điều này nhưng điều luật chỉ có một khung hình phạt hoặc khung hình phạt đó là khung hình phạt nhẹ nhất, thì Tòa án có thể quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn. Lý do của việc giảm nhẹ phải được ghi rõ trong bản án.”

1. Các trường hợp được áp dụng mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt

Quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng gồm 02 trường hợp:

Thứ nhất, theo khoản 1 Điều 54, Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật khi người phạm tội có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật này.

Đầu tiên là số lượng tình tiết giảm nhẹ ít nhất phải từ 2 trở lên và tình tiết đó phải là những tình tiết đã được nhà làm luật chỉ định rõ tại khoản 1 Điều 51. Vì vậy, những tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51, có ghi trong bản án cũng không được áp dụng  để quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt. Tiếp theo, hải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật. Như vậy, không thể áp dụng khung liền kề nặng hơn của Điều luật, cũng không thể nhảy cóc,không thể áp dụng khung hình phạt liền kề của khung kế tiếp.

Thứ hai, theo khoản 2 Điều 54, đối với người phạm tội lần đầu là người giúp sức trong vụ án đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể. Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng không bắt buộc phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật.

Đối tượng người giúp sức phạm tội lần đầu trong vụ án đồng phạm có mức độ gây thiệt hại cho xã hội đã ít hơn nhiều so với vai trò chủ mưu, cầm đầu, tổ chức, thực hành, thêm vào đó sự giúp sức này đóng góp không đáng kể, tức mức độ gây nguy hiểm cho xã hội đã ít lại càng ít.

Việc quy định “có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng không bắt buộc phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật” cho thấy sự nhân đạo trong chính sách của Nhà nước về xử lý người phạm tội.

Đặc biệt, khoản 3 Điều 54, các nhà làm luật đã dự tính đến trường hợp điều luật chỉ có một khung hình phạt hoặc khung hình phạt đó là khung hình phạt nhẹ nhất,  và người phạm tội có đủ các điều kiện quy định tại khoản 1 hoặc khoản 2 Điều này. Trong trường hợp đó, Tòa án có thể quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn. Lý do của việc giảm nhẹ phải được ghi rõ trong bản án.

Tái phạm nguy hiểm

Theo quy định tại khoản 2 Điều 53 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 (BLHS) thì những trường hợp sau đây được coi là tái phạm nguy hiểm:

– Đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý.

– Đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý.

Theo đó, người nào đã bị kết án 2 lần về tội phạm độc lập do BLHS, trong lần kết án thứ 2 trước đó, người này đã bị áp dụng tình tiết tái phạm mà hành vi phạm tội này chưa được xóa án tích nay lại phạm tội mới do lỗi cố ý khi đó, không phân biệt tội mới mà người này thực hiện là loại tội nào, hành vi mới của họ sẽ bị coi là tái phạm nguy hiểm.

Theo đó, mặc dù có thể căn cứ vào tính chất đã kết án hoặc chưa để phân biệt đâu là tái phạm đâu là phạm tội nhiều lần, tuy nhiên còn phải căn cứ thêm vào nhiều trường hợp pháp luật quy định khác. Cụ thể như khoản 7 Điều 91 Bộ luật Hình sự 2015 quy định rằng án đã tuyên đối với người chưa đủ 16 tuổi thì sẽ không được xem như là đã kết án để xác định hành vi phạm tội tiếp theo của họ xem xét như là tái phạm. Cho nên để có thể đảm bỏa việc xác định đúng hành vi của người phạm tội là gì, cần xem xét đủ các yếu tố về khách thể, chủ thể để áp dụng đúng quy định dành riêng cho từng đối tượng.

Tái phạm

Tái phạm theo quy định tại Điều 53 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017 (BLHS) là trường hợp đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý hoặc thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do vô ý.

Tái phạm có các đặc điểm sau:

– Đã bị kết án: được xem là đã bị kết án khi người phạm tội đã bị tuyên một bản án có hiệu lực pháp luật của tòa án. Điều đó có nghĩa là người bị Tòa án xử phạt với bất cứ hình phạt chính nào (cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ…).

– Chưa được xóa án tích: việc xóa án tích được xác định theo quy định tại Điều 69, Điều 70, Điều 71 BLHS theo đó, tình tiết “chưa được xóa án tích” được xác định như sau: người bị kết án đương nhiên được xóa án tích, nếu từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc hết thời gian thử thách án treo, người đó đã chấp hành xong hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án, thực hiện hành vi phạm tội trong thời hạn sau:

  • 01 năm trong trường hợp bị phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, phạt từ nhưng được hưởng án treo;
  • 02 năm trong trường bị phạt tù đến 05 năm;
  • 03 năm trong trường hợp bị phạt từ từ 05 đến 15 năm.

Trong trường hợp người bị kết án đang chấp hành hình phạt bổ sung là cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, tước một số quyền công dân mà thời hạn phải chấp hành dài hơn thời hạn quy định trên thì thời hạn đương nhiên được xóa án tích sẽ hết vào thời điểm người đó chấp hành xong hình phạt bổ sung.

– Thực hiện hành vi phạm tội do cố ý hoặc thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do vô ý. Trường hợp người phạm tội thực hiện tội mới là tội ít nghiêm trọng, tội nghiêm trong thì được xác định là hành vi tái phạm khi tội mới này thực hiện với lỗi cố ý, nếu thực hiện với lỗi vô ý thì không coi là tái phạm. Trường hợp người phạm tội thực hiện tội mới là tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng thì không phân biệt người phạm tội do lỗi cố ý hay vô ý, người thực hiện hành vi này đều được xác định là tái phạm.

Như vậy, khi có đủ các căn cứ trên thì người phạm tội mới có thể bị xác định là hành vi tái phạm. Ngoài ra, khi xác định hành vi tái phạm, cần chú ý những đặc điểm sau:

– Việc tái phạm chỉ được đặt ra khi hành vi phạm tội mới của họ đáp ứng dấu hiệu cấu thành tội phạm độc lập, nếu không đáp ứng đủ cấu thành tội phạm của tội mới thì hành vi của người này không bị coi là phạm tội nên không đặt ra là hành vi tái phạm.

– Tình tiết tái phạm được quy định trong Bộ luật hình sự vừa là tình tiết định tội vừa là tình tiết tăng nặng hình phạt. Khi đó, nếu tình tiết tái phạm đã là yếu tố trong cấu thành tội phạm thì không bị coi tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nữa.

Phân biệt tái phạm và tái phạm nguy hiểm

Tái phạm, tái phạm nguy hiểm là căn cứ nhằm xác định trách nhiệm của họ đối với hành vi của mình dây ra, chủ yếu thường được đưa vào xem xét như những tình tiết tăng nặng. Bài viết làm rõ những điểm khác nhau của hai quy định này.

Tái phạm Tái phạm nguy hiểm
Định nghĩa Là trường hợp đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý hoặc thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do vô ý. a) Đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý;

b) Đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý.

Dấu hiệu xác định – Một là, người đó đã bị kết án. Người đã bị kết án là người có bản án kết tội của Toà án mà không phụ thuộc vào việc bản án đó có hiệu lực PL hay chưa. Vì vậy, ngay từ khi tuyên án kết tội thứ nhất đối với một người mà người đó lại phạm tội mới theo quy định tại khoản 1 điều 53 thì được coi là tái phạm (quy định này không áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội).

– Hai là, người bị kết án chưa được xoá án tích. Điều này có nghĩa là điều kiện bắt buộc là việc kết án đó phải phát sinh án tích và án tích chưa được xoá, mà người đó lại phạm tội mới thì mới xem là tái phạm.

– Ba là, phạm tội mới do cố ý hoặc tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng do vô ý. Để xác định tái phạm, luật hình sự quy định tội phạm mới được thực hiện phải thuộc một số trường hợp phạm tội nhất định như phạm tội mới do cố ý, hoặc tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng do vô ý, thể hiện nhân thân của người phạm tội không chịu tiếp thu các biện pháp cải tạo giáo dục của pháp luật.

Việc xác định một người “tái phạm nguy hiểm” trong trường hợp này phải đảm bảo các dấu hiệu sau:

Một là, người phạm tội đã tái phạm. Có nghĩa rằng, trước lần bị đưa xét xử này, người phạm tội đã 02 lần bị kết án về tội phạm độc lập do Bộ luật Hình sự quy định. Đồng thời, trong lần bị kết án thứ hai trước đó, người phạm tội đã bị áp dụng tình tiết tái phạm.

Dấu hiệu tái phạm phải được xác định bằng quyết định hoặc bản án của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Khi bản án đó chưa được xóa án tích, mà người này lại phạm tội mới thì mới coi là tái phạm nguy hiểm.

Mặc dù khoản 1 Điều 53 BLHS năm 2015 quy định về tình tiết tái phạm không nêu dấu hiệu phải được Tòa án xác định bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật. Tuy nhiên, cần phải hiểu rằng, việc xác định tình tiết tái phạm không thể tiến hành một cách độc lập mà chúng phải gắn liền với việc xem xét trách nhiệm hình sự của người phạm tội. Trong khi đó, theo BLHS, BLTTHS, việc tuyên một người có tội thuộc thẩm quyền của Tòa án, quyết định hình phạt cũng chỉ do Tòa án.

Đồng thời, khoản 1 Điều 53 BLHS năm 2015 chỉ nêu lên dấu hiệu để xác định tái phạm chứ không quy định trình tự, thủ tục, thẩm quyền xác định người phạm tội tái phạm. Cho nên, khi kết án người phạm tội ở lần thứ hai mà Tòa án không xác định người phạm tội tái phạm thì về nguyên tắc khi xét xử tội mới, Tòa án không được áp dụng tái phạm nguy hiểm trong trường hợp này.

Thứ hai, người bị kết án và bản án đã kết án đối với họ chưa được xóa án tích. Dấu hiệu này được xác định như trường hợp tái phạm và trường hợp thứ nhất của tái phạm nguy hiểm.

Thứ ba, người phạm tội lại phạm tội do cố ý. Theo đó, tội mới là bất kỳ tội phạm cụ thể nào, có thể là tội ít nghiêm trọng, tội nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng. Dấu hiệu này chỉ đòi hỏi tội đó là tội do cố ý, không bao hàm tội phạm do vô ý. Đồng thời, tội này do người phạm tội thực hiện sau và được xử sau và lần phạm tội mới này đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm độc lập do BLHS quy định.

Căn cứ Khoản 1 điều 53 BLHS sửa đổi, bổ sung 2017 Khoản 2 điều 53 BLHS sửa đổi, bổ sung 2017

Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự

Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 (BLHS) là một trong những căn cứ quan trọng để Tòa án xem xét, quyết định tăng nặng hình phạt đối với người phạm tội.

Theo đó, Điều 52 quy định có 15 tình tiết sau là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

a) Phạm tội có tổ chức;

b) Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp;

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội;

d) Phạm tội có tính chất côn đồ;

đ) Phạm tội vì động cơ đê hèn;

e) Cố tình thực hiện tội phạm đến cùng;

g) Phạm tội 02 lần trở lên;

h) Tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm;

i) Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ có thai hoặc người đủ 70 tuổi trở lên;

k) Phạm tội đối với người ở trong tình trạng không thể tự vệ được, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng, người bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc người lệ thuộc mình về mặt vật chất, tinh thần, công tác hoặc các mặt khác;

l) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp, thiên tai, dịch bệnh hoặc những khó khăn đặc biệt khác của xã hội để phạm tội;

m) Dùng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt hoặc tàn ác để phạm tội;

n) Dùng thủ đoạn hoặc phương tiện có khả năng gây nguy hại cho nhiu người để phạm tội;

o) Xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội;

p) Có hành động xảo quyệt hoặc hung hãn nhằm trốn tránh hoặc che giấu tội phạm”.

So với các tình tiết giảm nhẹ thì tình tiết tăng nặng có số lượng ít hơn nhiều và cấu trúc quy định cũng khác so với các tình tiết giảm nhẹ: “chỉ các tình tiết sau đây mới là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự”. Như vậy, nếu như các tình tiết giảm nhẹ Tòa án được quyền ghi nhận thêm ngoài những quy định tại Khoản 1 và ghi rõ trong bản án thì đối với những tình tiết tăng nặng Tòa án hoàn toàn không được quyền thêm vào, cho dù có ghi lý do trong bản án đi chăng nữa.

Các biện pháp tư pháp đối với người phạm tội

Trên cơ sở Bộ luật hình sự cũ; Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 (BLHS) vẫn kế thừa những nội dung của các biện pháp tư pháp đối với người phạm tội, bao gồm: Tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm; Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại; buộc công khai xin lỗi và Bắt buộc chữa bệnh. Bài viết này sẽ làm rõ về những biện pháp này.

1.Tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm

Điều 47 BLHS quy định về biện pháp này như sau: 

1. Việc tịch thu sung vào ngân sách nhà nước hoặc tịch thu tiêu hủy được áp dụng đối với:

a) Công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội;

b) Vật hoặc tiền do phạm tội hoặc do mua bán, đổi chác những thứ ấy mà có; khoản thu lợi bất chính từ việc phạm tội;

c) Vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành.

2. Đối với vật, tiền bị người phạm tội chiếm đoạt hoặc sử dụng trái phép, thì không tịch thu mà trả lại cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp.

3. Vật, tiền là tài sản của người khác, nếu người này có lỗi trong việc để cho người phạm tội sử dụng vào việc thực hiện tội phạm, thì có thể bị tịch thu”.

Về cơ bản, đây vẫn là sự kế thừa Điều 41 của BLHS cũ, chỉ thay đổi một số cụm từ “sung quỹ nhà nước” bằng cụm từ “sung vào ngân sách nhà nước”, bổ sung thêm đối tượng vật, tiền liên quan đến tội phạm để đảm bảo sự đầy đủ, chính xác cũng như đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn áp dụng pháp luật.

2. Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại; buộc công khai xin lỗi.

Điều 48 BLHS về quy định này vẫn giữ nguyên so với quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 như sau:

“1. Người phạm tội phải trả lại tài sản đã chiếm đoạt cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp, phải sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại vật chất đã được xác định do hành vi phạm tội gây ra.

2. Trong trường hợp phạm tội gây thiệt hại về tinh thần, Tòa án buộc người phạm tội phải bồi thường về vật chất, công khai xin lỗi người bị hại”.

3. Bắt buộc chữa bệnh

Bắt buộc chữa bệnh có mục đích phòng ngừa người mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác gây rối loạn hoạt động tâm thần có hành vi gây thiệt hại cho xã hội. Bắt buộc chữa bệnh được áp dụng đối với:

– Người có hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình;

– Người phạm tội trong khi có năng lực trách nhiệm hình sự nhưng trước khi bị kết án đã mắc bệnh làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình;

– Người đang chấp hành hình phạt tù đã mắc bệnh làm mẩt khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình.

Thời gian bắt buộc chữa bệnh được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù.

 

 

Các hình phạt chính đối với người phạm tội

Hình phạt đối với người phạm tội được quy định tại Điều 32 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 (BLHS) bao gồm hình phạt chính và hình phạt bổ sung. Trong bài viết này chỉ làm rõ những hình phạt chính được áp dụng khi người phạm tội.

1. Cảnh cáo

Cảnh cáo được quy định tại Điều 34 BLHS. Theo đó, “cảnh cáo được áp dụng đối với người phạm tội ít nghiêm trọng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhưng chưa đến mức miễn hình phạt”.

Đây là loại hình phạt nhẹ nhất trong các hình phạt bởi nó được áp dụng đối với tội ít nghiêm trọng, có từ 2 tình tiết giảm nhẹ trở lên nhưng chưa đến mức miễn hình phạt. Hình phạt này chỉ gây ra một sự tổn thất về tinh thần thể hiện qua sự khiển trách công khai của Nhà nước đối với người phạm tội và nó để lại một thời hạn án tích là một năm.

2. Phạt tiền

Đây là loại hình phạt tước của người bị kết án một khoản tiền nhất định và nộp vào công quỹ Nhà nước. Phạt tiền được áp dụng là hình phạt chính đối với các trường hợp sau:

  •  Người phạm tội ít nghiêm trọng, phạm tội nghiêm trọng do BLHS quy định;
  • Người phạm tội rất nghiêm trọng xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, môi trường, trật tự công cộng, an toàn công cộng và một số tội phạm khác do BLHS quy định.

Hình phạt tiền được áp dụng là hình phạt bổ sung đối với người phạm tội về tham nhũng, ma túy hoặc những tội phạm khác do BLHS quy định.

Mức tiền phạt được quyết định căn cứ vào tính chất và mức độ nguy him của tội phạm, đồng thời có xét đến tình hình tài sản của người phạm tội, sự biến động của giá cả, nhưng không được thấp hơn 1.000.000 đồng.

Hình phạt tiền được áp dụng đối với pháp nhân thương mại có thể là hình phạt chính hoặc hình phạt bổ sung. Mức tiền phạt được quyết định căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm và có xét đến tình hình tài chính của pháp nhân thương mại phạm tội, sự biến động của giá cả nhưng không được thấp hơn 50.000.000 đồng.

3. Cải tạo không giam giữ

Theo quy định tại Điều 36 BLHS thì chỉ có thể áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ được áp dụng từ 06 tháng đến 03 năm đối với người phạm tội khi thoả mãn các điều kiện sau:

  • Chỉ có thể áp dụng đối với người phạm tội ít nghiêm trọng và tội nghiêm trọng;
  • Người phạm tội có nơi làm việc ổn định hoặc có nơi thường trú rõ ràng;
  • Nếu xét thấy không cần thiết phải cách ly họ ra khỏi đời sống xã hội.
Nếu người phạm tội đã bị tạm giam, tạm giữ thì đổi một ngày tạm giữ, tạm giam bằng ba ngày cải tạo không giam giữ rồi khấu trừ vào thời gian chấp hành hình phạt.
Toà án giao người bị kết án cho cơ quan tổ chức nơi người đó làm việc hoặc chính quyền địa phương nơi người đó thường trú để giám sát giáo dục. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã trong việc giám sát, giáo dục người đó.

Trong thời gian chấp hành án, người bị kết án phải thực hiện một số nghĩa vụ theo các quy định về cải tạo không giam giữ và bị khấu trừ một phần thu nhập từ 05% đến 20% để sung quỹ nhà nước. Việc khấu trừ thu nhập được thực hiện hằng tháng. Trong trường hợp đặc biệt, Tòa án có thể cho miễn việc khấu trừ thu nhập, nhưng phải ghi rõ lý do trong bản án. Không khấu trừ thu nhập đối với người chấp hành án là người đang thực hiện nghĩa vụ quân sự.

Trường hợp người bị phạt cải tạo không giam giữ không có việc làm hoặc bị mất việc làm trong thời gian chấp hành hình phạt này thì phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ. Thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong 01 tuần.

Không áp dụng biện pháp lao động phục vụ cộng đồng đối với phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 06 tháng tuổi, người già yếu, người bị bệnh him nghèo, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng.

Người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Luật Thi hành án hình sự.

4. Trục xuất 

Trục xuất là buộc người nước ngoài bị kết án phải rời khỏi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Trục xuất được Tòa án áp dụng là hình phạt chính hoặc hình phạt bổ sung trong từng trường hợp cụ thể.

5. Tù có thời hạn

Tù có thời hạn là loại hình phạt buộc người bị kết án phải cách ly khỏi đời sống xã hội để chấp hành hình phạt tại trại cải tạo trong một thời gian nhất định.
Thời hạn của hình phạt tù có thời hạn là từ 03 tháng đến 20 năm (đối với trường hợp phạm nhiều tội mức hình phạt tối đa là 30 năm tù).
Nếu người bị kết án đã bị tạm giữ, tạm giam thì đổi một ngày tạm giữ, tạm giam bằng 1 ngày tù và được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù.

6. Tù chung thân

Tù chung thân là hình phạt tù không thời hạn được áp dụng đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, nhưng chưa đến mức bị xử phạt tử hình.

Không áp dụng hình phạt tù chung thân đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.

7. Tử hình

Tử hình được quy định tại Điều 40 BLHS. Đây là hình phạt cao nhất trong hệ thống các hình phạt. Hình phạt tử hình là loại hình phạt loại trừ hoàn toàn người phạm tội khỏi đời sống xã hội. Chỉ áp dụng đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng; Không áp dụng đối với người chưa thành niên khi phạm tội, với phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi khi phạm tội hoặc khi xét xử; Không thi hành án tử hình với phụ nữ có thai, đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi hoặc người đủ 75 tuổi trở lên; Người bị kết án tử hình về tội tham ô tài sản, tội nhận hi lộ mà sau khi bị kết án đã chủ động nộp lại ít nhất ba phần tư tài sản tham ô, nhận hối lộ và hợp tác tích cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm hoặc lập công lớn. Trường hợp này hình phạt tử hình chuyển xuống hình phạt tù chung thân.
Trường hợp người bị kết án tử hình được Chủ tịch nước chấp nhận cho ân giảm thì hình phạt tử hình chuyển thành hình phạt tù chung thân.

0988873883