Tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật

Quyền tự do đi lại là quyền quan trọng của công dân, do đó khi bắt, giữ hoặc giam người cần phải tuân thủ các quy định của pháp luật. Bài viết phân tích về các yếu tố cấu thành tội phạm và hình phạt đối với người phạm tội khi có hành vi bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật.

Tội phạm được quy định tại Điều 157 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 (gọi tắt là BLHS). Theo điều luật này thì có ba tội bao gồm tội bắt người trái pháp luật, tội bắt giữ người trái pháp luật và tội giam người trái pháp luật.

1. Các yếu tố cấu thành tội phạm

1.1.Khách thể của tội phạm

Hành vi phạm tội nêu trên xâm phạm đến quyền tự do thân thể của công dân được pháp luật bảo vệ.

1.2. Mặt khách quan của tội phạm

– Đối với tội bắt người trái pháp luật: Được thể hiện ở hành vi khống chế người khác để tạm giữ hoặc tạm giam họ;

Việc khống chế này có thể dùng vũ lực hoặc các biện pháp khác nhau như trói, còng tay… (sau đó thường là người bị hại bị dẫn về nơi nhất định để tạm giữ hoặc tạm giam);

– Đối với tội giữ (tạm giữ) người trái pháp luật: Được thể hiện ở hành vi không cho người bị bắt đi đâu vượt ra ngoài sự kiểm soát của người phạm tội (như bắt ở trong nhà, bắt ngồi tại chỗ…) trong một thời gian ngắn (thường là dưới 24 giờ).

– Đối với tội giam (tạm giam) người trái pháp luật: Được thể hiện qua hành vi nhốt người bị bắt vào một nơi trong một thời gian nhất định (như nhốt ở trong buồng, trong trại giam..).

1.3. Mặt chủ quan của tội phạm

Người phạm tội thực hiện tội phạm này với lỗi cố ý.

1.4. Chủ thể của tội phạm

Người thực hiện tội phạm là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự theo khoản 3.

2. Về hình phạt

Tội phạm được chia thành 3 khung hình phạt như sau:

  • Khung một: phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
  • Khung hai: phạt tù từ 02 năm đến 07 năm nếu thuộc một trong các trường hợp sau: có tổ chức; lợi dụng chức vụ, quyền hạn; phạm tội đối với người đang thi hành công vụ; phạm tội 02 lần trở lên; đối với 02 người trở lên; Đối với người dưới 18 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu hoặc người không có khả năng tự vệ; Làm cho người bị bắt, giữ, giam hoặc gia đình họ lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn; Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của người bị bắt, giữ, giam mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%.
  • Khung ba: Phạt tù từ 05 năm đến 12 năm nếu thuộc một trong các trường hợp sau: Làm người bị bắt, giữ, giam chết hoặc tự sát; Tra tấn, đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục nhân phẩm của người bị bắt, giữ, giam; Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của người bị bắt, giữ, giam mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên.

Ngoài ra, người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Phân biệt tội làm nhục người khác và tội vu khống

Làm nhục người khác và vu khống đều có những dấu hiệu pháp lý khá giống nhau. Làm thế nào để phân biệt hai hành vi này. Luật STC tư vấn và giải đáp cho quý bạn đọc trong bài viết dưới đây.

Tiêu chí  Tội vu khống   Tội làm nhục người khác
Giống nhau Khách thể Hành vi phạm tội nêu trên xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm của người khác.
Chủ quan Người phạm tội thực hiện tội phạm này với lỗi cố ý. Ý thức chủ quan của người phạm tội là mong muốn cho người bị hại bị hạ thấp danh dự, nhân phẩm.
Chủ thể Chủ thể của tội phạm này là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự và từ đủ 16 tuổi trở lên.
Khác nhau

Hành vi

– Được thực hiện bằng hành vi bịa đặt hoặc loan truyền những điều biết rõ là sai sự thật nhằm xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác. Cụ thể bằng các hành vi:

– Tạo ra những thông tin không đúng sự thực và loan truyền các thông tin đó mặc dù biết đó là thông tin không đúng sự thực.

– Tuy không tự đưa ra các thông tin không đúng sự thực nhưng có hành vi lan truyền thông tin sai do người khác tạo ra mặc dù biết rõ đó là những thông tin sai sự thực.

– Được thực hiện bằng hành vi xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác.

– Hành vi có thể bằng lời nói hoặc hành động với lỗi cố ý trực tiếp xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác như: lăng mạ, chửi rủa, cắt tóc, lột quần áo giữa đám đông,… nhằm mục đích hạ thấp nhân cách, danh dự, nhân phẩm của người khác mà đặc trưng của hành vi thường diễn ra trực tiếp và công khai trước nhiều người.

– Ngoài ra, để làm nhục người khác, người phạm tội có thể có những hành vi vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực như bắt trói, tra khảo, vật lộn, đấm đá hoặc dùng phương tiện nguy hiểm khống chế, đe dọa, buộc người bị hại phải làm theo ý muốn của mình với mục đích hướng đến là xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác.

Hình phạt

– Khung 1: Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm.

– Khung 2: Phạt tù từ 01 năm đến 03 năm.

– Khung 3: Phạt tù từ 03 năm đến 07 năm.

– Hình phạt bổ sung: Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

– Khung 1: Phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

– Khung 2: Phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

– Khung 3: Phạt tù từ 02 năm đến 05 năm.

– Hình phạt bổ sung: Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Cơ sở pháp lý Điều 156 Bộ luật hình sự 2015 Điều 155 Bộ luật hình sự 2015.

Các nghệ sĩ có thể tố cáo bà Nguyễn Phương Hằng về hành vi vu khống hay không?

Trong thời gian qua, doanh nhân Nguyễn Phương Hằng liên tục livestream tố các các nghệ sĩ Việt “ăn chặn” tiền từ thiện do những giấc mơ của bà. Vậy giấc mơ có làm nên sự thật, bài viết dưới đây sẽ làm rõ về vấn đề này?

1. “Giấc mơ” có phải là hành vi phạm tội?

Trong livestream của mình, bà Hằng luôn nói rằng bà mơ thấy việc các nghệ sĩ đã “ăn chặn” số tiền từ thiện. Đồng thời bà chỉ đích danh các nghệ sĩ như ca sĩ Thủy Tiên, Đàm Vĩnh Hưng, Trấn Thành. Dưới góc độ pháp luật, được nhìn nhận như sau:

  • Nếu các nghệ sĩ này có đầy đủ cơ sở để khẳng định bà Hằng đã bịa đặt các thông tin mà bà Hằng biết rõ là sai sự thật nhằm xúc phạm nghiêm trọng đến nhân phẩm, danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ thì họ có thể tố cáo bà Hằng về hành vi vu khống đến các cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
  • Việc “giấc mơ” có được xem là căn cứ hay không thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét, đánh giá một cách khách quan, toàn diện để xác định có phải là căn cứ phạm tội hay không.

2. Hành vi vu khống có thể phạm tội hay không?

  • Nếu một người có hành vi sử dụng các hình ảnh, bài viết và các đoạn video clip nhằm xuyên tạc, bôi nhọ, xúc phạm danh dự, uy tín, nhân phẩm của người khác trên mạng xã hội thì tùy vào mức độ vi phạm của hành vi, có thể xử lý hành chính phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng theo điểm a khoản 1, Điều 5, Nghị định 167/2013/NĐ-CP.
  • Hoặc nếu đủ các yếu tố cấu thành tội phạm thì sẽ xem xét xử lý hình sự về tội vu khống. Về mặt dân sự, người vu khống có thể bị buộc cải chính, công khai xin lỗi và phải bồi thường thiệt hại do hành vi vi phạm của mình theo quy định tại Điều 592, Bộ luật dân sự 2015. 

3. Tội vu khống theo quy định của Bộ luật hình sự

Theo quy định tại khoản 1 Điều 156 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 (gọi tắt là BLHS) thì tội vu khống có ba khung hình phạt như sau:

  • Người phạm tội bị phạt từ 10 triệu đồng đến 50 triệu đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 1 năm.
  • Người phạm tội  thuộc một hay trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 01 năm đến 03 năm: Có tổ chức; Lợi dụng chức vụ, quyền hạn; Đối với hai người trở lên; Đối với ông, bà, cha, mẹ, người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh cho mình; Đối với người đang thi hành công vụ; Sử dụng mạng máy tính hoặc mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội; Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%; Vu khống người khác phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng
  • Người phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm: Vì động cơ đê hèn; Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 46% trở lên; Làm nạn nhân tự sát.
  • Ngoài ra, người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền từ 10 triệu đến 50 triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Việc các nghệ sĩ làm từ thiện luôn được xã hội tuyên dương, tuy nhiên việc làm này cũng đòi hỏi các nghệ sĩ phải công khai, minh bạch nguồn từ thiện để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp. Các hành vi vu khống, bôi nhọ danh dự, nhân phẩm của người khác tùy vào mức độ vi phạm sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật.

Làm nhục người khác có phải đi tù không?

Lăng mạ, chửi bới người khác đều là hành vi xúc phạm nghiêm trọng đến nhân phẩm, danh dự của người khác và có thể sẽ phải chịu TNHS. Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017 (BLHS) quy định về tội này và hình phạt ra sao, bài viết dưới đây sẽ làm rõ hơn về vấn đề này.

1. Quy định về tội làm nhục người khác

Điều 155 BLHS quy định về tội làm nhục người khác như sau:

“1. Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm:

a) Phạm tội 02 lần trở lên;

b) Đối với 02 người trở lên;

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

d) Đối với người đang thi hành công vụ;

đ) Đối với người dạy d, nuôi dưỡng, chăm sóc, chữa bệnh cho mình;

e) Sử dụng mạng máy tính hoặc mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;

g) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm:

a) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% tr lên;

b) Làm nạn nhân tự sát.

4. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”.

2. Các yếu tố cấu thành tội phạm

2.1. Khách thể của tội phạm

Tội phạm xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm của người khác.

2.2. Mặt khách quan của tội phạm

Người phạm tội có hành vi xúc phạm nghiêm trọng đến nhân phẩm, danh dự của người khác, như: lăng mạ, chửi rủa thậm tệ,… Ngoài ra, người phạm tội có thể có các hành vi như dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực nhằm làm nhục người khác.

Đối với tội phạm này, nếu người phạm tội thuộc quy định tại khoản 1 thì chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi người bị hại có yêu cầu khởi tố.

2.3. Chủ thể của tội phạm

Chủ thể của tội phạm là người có năng lực trách nhiệm hình sự.

2.4. Mặt chủ quan của tội phạm

Người phạm tội thực hiện tội phạm với lỗi cố ý. Ý thức chủ quan của người phạm tội là mong muốn cho người bị hại bị nhục với nhiều động cơ khác nhau như để trả thù, có thể trả thù chính người bị hại hoặc người thân thích của họ, để thỏa mãn thú vui xác thịt.

 

Mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người phải đi tù bao nhiêu năm?

Cùng với sự phát triển của y học về các công nghệ phẫu thuật cấy ghép, thay mới,… thì tình hình tội phạm buôn bán về mô hoặc bộ phận cơ thể người cũng diễn biến ngày càng phức tạp. Pháp luật hình sự Việt Nam đã có quy định cụ thể về tội phạm này, trở thành công cụ pháp lý quan trọng, vững chắc cho hoạt động đấu tranh phòng chống tội phạm xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người.

1. Khái quát chung về tội mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người

Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017 (gọi tắt là BLHS) không giải thích thế nào là mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người mà chỉ nêu tên hành vi “người nào mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người khác….”.

Tuy nhiên, có thể giải thích như sau: Mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người là hành vi dùng tiền hoặc lợi ích vật chất trao đổi lấy mô hoặc bộ phận cơ thể của người khác một cách bất hợp pháp hoặc bằng thủ đoạn khác nhau lấy đi một cách bất hợp pháp mô hoặc bộ phận cơ thể của người khác do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý.

Điều 154 BLHS quy định về tội mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người như sau:

Điều 154. Tội mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người

1. Người nào mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người khác, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Có tổ chức;

b) Vì mục đích thương mại;

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn, nghề nghiệp;

d) Đối với từ 02 người đến 05 người;

đ) Phạm tội 02 lần trở lên;

e) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Có tính chất chuyên nghiệp;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

c) Đối với 06 người trở lên;

d) Gây chết người;

đ) Tái phạm nguy hiểm.

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”

2. Các yếu tố cấu thành tội phạm

2.1. Khách thể của tội phạm

Tội phạm xâm phạm đến quyền sống, quyền được tôn trọng, bảo vệ quyền sống, bảo vệ sức khỏe tính mạng của con người.

2.2. Chủ thể của tội phạm

Chủ thể của tội phạm là người có năng lực chịu trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự.

2.3. Mặt khách quan của tội phạm

Chủ thể của tội phạm thực hiện hành vi mua bán, chiếm đoạt, trao đổi mô hoặc bộ phận cơ thể người lấy tiền hoặc tài sản khác.

2.4. Mặt chủ quan của tội phạm

Chủ thể của tội phạm thực hiện tội phạm với lỗi cố ý.

 

Đánh tráo người dưới 01 tuổi phạm tội gì?

Trong các bộ phim thường hay có cảnh tại bệnh viện hộ sinh hoặc bà mẹ khi sinh em bé ra đánh tráo con mình với con của người khác và đến cuối phim khi con đã trưởng thành mới biết sự thật. Vậy thực tế như thế nào? Hình phạt đối với hành vi này là gì? Bài viết dưới đây sẽ làm rõ về vấn đề này.

1. Khái quát về tội đánh tráo người dưới 01 tuổi

Đánh tráo người dưới 01 tuổi có thể được hiểu là hành vi đánh tráo trẻ em này lấy trẻ em khác một cách lén lút. Thực tế thì hành vi đánh tráo người dưới 01 tuổi thường chỉ được thực hiện đối với trẻ sơ sinh đặc biệt là ở những nơi như nhà hộ sinh, bệnh viện…

Tội đánh tráo người dưới 01 tuổi được quy định tại Điều 152 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 (gọi tắt là BLHS) như sau:

Điều 152. Tội đánh tráo người dưới 01 tuổi

1. Người nào đánh tráo người dưới 01 tuổi, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn, nghề nghiệp;

c) Đối với người dưới 01 tuổi mà mình có trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng;

d) Phạm tội 02 lần trở lên.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 12 năm:

a) Có tính chất chuyên nghiệp;

b) Tái phạm nguy hiểm.

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”.

2. Các yếu tố cấu thành tội phạm

2.1. Khách thể của tội phạm

Hành vi phạm tội xâm phạm đến quan hệ về quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng và sống chung với cha mẹ, quyền được bảo vệ của trẻ em.

2.2. Mặt khách quan của tội phạm

Người phạm tội có hành vi tráo đổi trẻ em này lấy trẻ em khác một cách lén lút, bất hợp pháp.

Người đánh tráo có thể do chính bố mẹ đứa trẻ thực hiện hoặc do nhân viên y tế, người khác thực hiện. Hậu quả xảy ra là đứa trẻ bị đánh tráo và đã rời khỏi sự quản lý của bố mẹ, người thân đứa trẻ.

2.3. Mặt chủ quan của tội phạm

Tội phạm được thực hiện với lỗi cố ý. Người phạm tội mong muốn đánh tráo người này bằng người khác.

Động cơ thực hiện hành vi mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt không phải là dấu hiệu cấu thành cơ bản mà chỉ có ý nghĩa trong việc định khung tăng nặng, lượng hình.

2.4. Chủ thể của tội phạm

Chủ thể của tội phạm này là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự.

 

Điều kiện được hưởng án treo theo quy định mới nhất

Án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện, được Tòa án áp dụng đối với người phạm tội bị phạt tù không quá 03 năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, xét thấy không cần bắt họ phải chấp hành hình phạt tù. Người phạm tội khi được hưởng án treo sẽ không phải chấp hành án phạt tù. Bài viết phân tích những điều kiện để được hưởng án treo.

Điều 2 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP quy định một người bị phạt tù có thể được xem xét cho hưởng án treo khi áp ứng đủ các điều kiện sau:

  • Bị xử phạt tù không quá 03 năm;
  • Có nhân thân tốt. Được coi là có nhân thân tốt nếu ngoài lần phạm tội này, người phạm tội luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú, nơi làm việc. Đối với người đã bị kết án nhưng thuộc trường hợp được coi là không có án tích, người bị kết án nhưng đã được xóa án tích, người đã bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị xử lý kỷ luật mà thời gian được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật tính đến ngày phạm tội lần này đã quá 06 tháng, nếu xét thấy tính chất, mức độ của tội phạm mới được thực hiện thuộc trường hợp ít nghiêm trọng hoặc người phạm tội là đồng phạm có vai trò không đáng kể trong vụ án và có đủ các điều kiện khác thì cũng có thể cho hưởng án treo.
  • Có từ 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trở lên, trong đó có ít nhất 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 của BLHS và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 của BLHS. Trường hợp có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thì số tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự phải nhiều hơn số tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự từ 02 tình tiết trở lên, trong đó có ít nhất 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 của BLHS.
  • Có nơi cư trú rõ ràng hoặc nơi làm việc ổn định để cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giám sát, giáo dục. Nơi cư trú rõ ràng là nơi tạm trú hoặc thường trú có địa chỉ được xác định cụ thể theo quy định của Luật Cư trú mà người được hưởng án treo về cư trú, sinh sống thường xuyên sau khi được hưởng án treo. Nơi làm việc ổn định là nơi người phạm tội làm việc có thời hạn từ 01 năm trở lên theo hợp đồng lao động hoặc theo quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.
  • Xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù nếu người phạm tội có khả năng tự cải tạo và việc cho họ hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

Như vậy, người phạm tội muốn được hưởng án treo thì phải có đủ tất cả 05 điều kiện như trên. Tuy nhiên, việc có được hưởng án treo hay không còn phụ thuộc vào quyết định cuối cùng của Tòa án.

 

 

Hình phạt cao nhất dành cho người dưới 18 tuổi phạm tội

Ở nước ta, pháp luật quy định người thành niên là người từ đủ 18 tuổi trở lên và người thành niên phải chịu TNHS đối với mọi loại tội phạm. Còn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, Bộ luật hình sự 2015 có những quy định riêng, đặc biệt là về hình phạt.

1. Về hình phạt tù

Khi quyết định hình phạt tù, nguyên tắc đối với người dưới 18 tuổi là chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự trong các trường hợp cần thiết và khi xét thấy các biện pháp giáo dục, cải tạo không có nhiều tác dụng đối với tội phạm mà nhóm người này phạm phải.

Điều 91 BLHS 2015 quy định không áp dụng hình phạt tù chung thân hoặc tử hình đối với người dưới 18 tuổi và chỉ áp dụng các hình phạt tại Điều 98 BLHS như sau:

– Cảnh cáo

– Phạt tiền

– Cải tạo không giam giữ

-Tù có thời hạn

2. Khung hình phạt cao nhất

Điều 101 BLHS quy định mức phạt tù có thời hạn đối với người dưới 18 tuổi phải dựa theo độ tuổi, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, cụ thể:

– Với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, mức phạt cao nhất là:

+ Không quá 18 năm tù nếu phạm vào điều luật có quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình;

+ Không quá ¾ mức phạt tù mà điều luật áp dụng quy định tù có thời hạn.

– Với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi, mức phạt cao nhất là:

+ Không quá 12 năm tù nếu điều luật được áp dụng có quy định hình phạt chung thân hoặc tử hình;

+ Không quá ½ mức phạt tù mà điều luật áp dụng quy định tù có thời hạn.

Như vậy, khung hình phạt cao nhất được áp dụng cho người dưới 18 tuổi phạm tội được quy định không quá 18 năm tù.

Các dạng tranh chấp đất đai phổ biến hiện nay

Tranh chấp đất đai là dạng tranh chấp phổ biến, phức tạp nhất hiện nay. Do đó, để giải quyết tranh chấp đất đai cần phải xác định được các dạng tranh chấp đất đai phổ biến.

1. Tranh chấp về quyền sử dụng đất

Tranh chấp đất đai về quyền sử dụng đất là những tranh chấp giữa các bên với nhau về việc ai có quyền sử dụng hợp pháp đối với mảnh đất. Thường gặp các loại tranh chấp về ranh giới đất; tranh chấp về quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất trong các quan hệ ly hôn, thừa kế; tranh chấp đòi lại đất (đất đã cho người khác mượn sử dụng mà không trả lại, hoặc tranh chấp giữa người dân tộc thiểu số với người đi xây dựng vùng kinh tế mới…); tranh chấp về quyền sử dụng đất có liên quan đến tranh chấp về địa giới hành chính,…

2. Tranh chấp về quyền, nghĩa vụ phát sinh trong quá trình sử dụng đất

Tranh chấp này thường xảy ra khi các chủ thể có những giao dịch dân sự về quyền sử dụng đất như tranh chấp về quyền và nghĩa vụ trong hợp đồng chuyển nhượng, cho thuê quyền sử dụng đất hoặc các tranh chấp liên quan đến việc bồi thường giải phóng mặt bằng, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất…

3. Tranh chấp về mục đích sử dụng đất

Đây là dạng tranh chấp ít gặp hơn, những tranh chấp này liên quan đến việc xác định mục đích sử dụng đất là gì. Thông thường những tranh chấp này có cơ sở để giải quyết vì trong quá trình phân bổ đất đai cho các chủ thể sử dụng, Nhà nước đã xác định mục đích sử dụng đất thông qua quy hoạch sử dụng đất. Tranh chấp chủ yếu do người sử dụng đất sử dụng sai mục đích so với khi được Nhà nước giao đất, cho thuê đất.

Quyền im lặng trong tố tụng hình sự

 “Anh có quyền giữ im lặng và từ chối trả lời câu hỏi. Bất cứ điều gì anh nói cũng sẽ được dùng để chống lại anh trước tòa”. “Tôi sẽ không trả lời bất kỳ câu hỏi nào trước khi luật sư của tôi đến”. Đây là những câu nói quen thuộc trong các bộ phim khi một người thực hiện hành vi phạm tội bị bắt, và trong các câu nói này hàm chứa quyền im lặng – một quyền chưa được quy định trực tiếp trong Bộ luật tố tụng hình sự 2015.

Pháp luật Việt Nam hiện nay chưa có quy định trực tiếp, cụ thể về quyền im lặng, nhưng qua Bộ luật tố tụng hình sự 2015 có thể thấy một số quy định gián tiếp được hiểu chung là quyền im lặng. 

Cụ thể, theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 60 và điểm h khoản 2 Điều 61 Bộ luật tố tụng hình sự:

“Bị can, bị cáo có quyền trình bày lời khai, trình bày ý kiến, không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội”.

Có thể thấy, bị can, bị cáo có quyền tự chủ trong việc khai báo; “trình bày lời khai” là quyền của bị can, bị cáo mà không phải là nghĩa vụ bắt buộc.

Theo đó, bị can, bị cáo có thể trình bày lời khai hoặc không. Việc không trình bày lời khai thể hiện ở việc bị can, bị cáo im lặng trước cơ quan tiến hành tố tụng. Khi bị can, bị cáo im lặng, cơ quan tiến hành tố tụng không có quyền ép buộc họ phải khai báo bằng các biện pháp không hợp pháp.

Như vậy, có thể hiểu rằng bị can, bị cáo hoàn toàn có quyền im lặng. Việc bị can, bị cáo không trả lời cơ quan, người tiến hành tố tụng những điều bất lợi cho bản thân sẽ không bị coi là tình tiết tăng nặng. 

Trong vụ bác sĩ Hoàng Công Lương bị truy tố về tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” hay vụ Hoa hậu Trương Hồ Phương Nga gây xôn xao trong dư luận một thời gian dài, cả hai bị cáo tại phiên tòa đã áp dụng triệt để quyền im lặng trong phần xét hỏi của đại diện Viện Kiểm sát và HĐXX để bảo vệ mình trước những cáo buộc bất lợi.

0988873883