Thủ tục triệu tập bị can của cơ quan điều tra

Triệu tập bị can là một hoạt động tố tụng của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thực hiện bằng việc gửi giấy triệu tập yêu cầu bị can đang tại ngoại có mặt để giải quyết những công việc liên quan đến vụ án nhằm làm sáng tỏ các thông tin cần làm rõ của vụ án có liên quan đến bị can.

1.Người có thẩm quyền triệu tập

Điều tra viên là người được thủ trưởng, phó thủ trưởng cơ quan cảnh sát điều tra phân công tiến hành hoạt động khởi tố, điều tra vụ án hình sự. Do vậy chỉ khi được phân công thực hiện hoạt động tố tụng vụ án thì người được phân công mới có quyền yêu cầu bị can đến làm việc.

Giấy triệu tập là biểu mẫu tố tụng hình sự được sử dụng trong hoạt động tố tụng hình sự. Giấy này chỉ Cơ quan điều tra hoặc Cơ quan khác trong Công an nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra mới được sử dụng.

Bị can không có mặt theo yêu cầu có thể bị dẫn giải hoặc bị thay đổi biện pháp ngăn chặn sang tạm giam.
Bị can không có mặt theo yêu cầu có thể bị dẫn giải hoặc bị thay đổi biện pháp ngăn chặn sang tạm giam.

 2.Thủ tục triệu tập của điều tra viên.

Thông tư 01/2006/TT-BCA(C11) nghiêm cấm điều tra viên gọi điện thoại hoặc thông qua người khác để yêu cầu người được triệu tập đến làm việc mà không có giấy triệu tập hoặc giấy mời.

            Như vậy, khi cần triệu tập bị can đến làm việc, Điều tra viên bắt buộc phải gửi giấy triệu tập. Theo quy định tại Điều 182 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, giấy này phải ghi rõ họ tên, chỗ ở của bị can; ngày, giờ, tháng, năm, địa điểm có mặt, thời gian làm việc, gặp ai và trách nhiệm về việc vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan.

Giấy triệu tập cũng có thể được gửi cho chính quyền địa phương nơi bị can cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi bị can đang làm việc, học tập và họ có trách nhiệm chuyển ngay giấy triệu tập cho bị can.

Không chỉ điều tra viên của vụ án được quyền triệu tập bị can. Mà trong trường hợp cần thiết, Kiểm sát viên được phân công kiểm sát vụ án cũng có thể thực hiện triệu tập bị can.

3.Nghĩa vụ của bị can khi nhận giấy triệu tập

            Đối với bị can, khi nhận được giấy triệu tập có trách nhiệm ký nhận, ghi rõ ngày, giờ nhận. Nếu không ký nhận thì người giao phải lập biên bản về việc này và gửi cho cơ quan triệu tập. Nếu bị can vắng mặt có thể giao cho người thân thích của họ nhưng phải đảm bảo người nhận thay này đủ năng lực hành vi dân sự để ký xác nhậm và chuyển cho bị can.

Bị can phải có mặt theo giấy triệu tập, nếu vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan hoặc có dấu hiệu trốn tránh không thực hiện việc hợp tác có mặt làm việc theo yêu cầu thì họ có thể bị Điều tra viên ra quyết định áp giải đến trụ sở của cơ quan điều tra.

Pháp luật hình sự nghiêm cấm việc hỏi cung bị can vào ban đêm, trừ trường hợp không thể trì hoãn được nhưng phải ghi rõ lý do vào biên bản. Do đó với trường hợp bị can đang được tại ngoại, điều tra viên không được yêu cầu đến làm việc vào thời gian trái quy định này.

CÔNG TY LUẬT TNHH STC

CÔNG TY LUẬT TNHH STC chuyên tư vấn, tranh tụng vụ án hình sự

Để tìm hiểu thêm các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 hãy liên hệ số Hotline của Luật STC 0988873883 để luật sư của chúng tôi tư vấn trực tiếp.

 

 

Bị hại có được quyền yêu cầu khởi tố vụ án?

Mọi người đều có quyền được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và tài sản. Mọi hành vi xâm phạm đến quyền được bảo hộ đều phải bị xử lý theo quy định của pháp luật. Khi một người bị xâm phạm một trong các quyền được pháp luật bảo hộ, với tư cách là bị hại, họ có quyền yêu cầu cơ quan tố tụng có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự. Tuy nhiên, không phải tất cả các vụ án đều được khởi tố theo yêu cầu của bị hại.

Luật STC tranh tụng các vụ án hình sự, dân sự, kinh doanh thương mại
  1. Các trường hợp khởi tố theo yêu cầu của Bị hại

Theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự 2015, cơ quan tố tụng có thẩm quyền chỉ được khởi tố vụ án khi đã xác định có dấu hiệu tội phạm. Việc xác định này dựa trên các căn cứ quy định tại Điều 143 gồm: Tố giác của cá nhân; Tin báo của cơ quan, tổ chức, cá nhân; Tin báo trên phương tiện thông tin đại chúng; Kiến nghị khởi tố của cơ quan nhà nước; Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm; Người phạm tội tự thú. Như vậy, tố giác, tin báo của cá nhân, cơ quan, tổ chức chỉ là một trong những nguồn căn cứ để cơ quan tố tụng xác minh để ra quyết định khởi tố.

Đối với yêu cầu của bị hại, việc khởi tố vụ án hình sự chỉ được thực hiện đối với các tội danh theo quy định của Điều 155. Nghĩa là đối với các tội danh quy định tại điều luật này, cơ quan tố tụng có thẩm quyền phải nhận được yêu cầu của bị hại mới được khởi tố vụ án, nếu không việc  khởi tố là trái pháp luật. Việc khởi tố vụ án theo quy định này nhằm tạo điều kiện cho người phạm tội có cơ hội thương lượng, hòa giải với người bị hại để chủ động khắc phục hậu quả, hạn chế các tổn thất mà không nhất thiết phải có sự can thiệp, xử lý của cơ quan pháp luật. Cụ thể Điều 155 xác định: Chỉ được khởi tố vụ án hình sự về tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155 và 156 của Bộ luật Hình sự khi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết, gồm các trường hợp:

Trường hợp 1: Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Khoản 1 Điều 134).

Trường hợp 2: Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh (Khoản 1 Điều 135).

Trường hợp 3: Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội (Khoản 1 Điều 136).

Trường hợp 4: Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Khoản 1 Điều 138).

Trường hợp 5: Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính (Khoản 1 Điều 139).

Trường hợp 6: Tội hiếp dâm (Khoản 1 Điều 141).

Trường hợp 7: Tội cưỡng dâm (Khoản 1 Điều 143).

Trường hợp 8: Tội làm nhục người khác (Khoản 1 Điều 155).

Trường hợp 9: Tội vu khống (Khoản 1 Điều 156)

Trường hợp 10: Tội xâm phạm quyền Sở hữu công nghiệp (Khoản 1 Điều 226).

  1. Đình chỉ vụ án khi Bị hại rút đơn yêu cầu

Mặc dù vụ án đã được cơ quan tố tụng khởi tố theo yêu cầu của bị hại, tuy  nhiên trong quá trình vụ án được giải quyết, bị hại vẫn có quyền rút đơn yêu cầu tại tất cả các giai đoạn tố tụng , khi đó vụ án sẽ phải được đình chỉ giải quyết, ngoại trừ trường hợp “có căn cứ xác định người đã yêu cầu rút yêu cầu khởi tố trái ý muốn của họ do họ bị ép buộc, cưỡng bức thì tuy người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án vẫn tiếp tục tiến hành tố tụng đối với vụ án” – Khoản 2, Điều 155.

 Trên đây là một số trao đổi của Luật STC về khởi tố vụ án theo yêu cầu của bị hại. Để tìm hiểu thêm thông tin, bạn đọc liên hệ số Hotline 0988873883 để được tư vấn trực tiếp.

Trân trọng cảm ơn!

 

Thủ tục lập biên bản về việc giữ người trong trường hợp khẩn cấp

               Giữ người trong trường hợp khẩn cấp là một trong các biện pháp để kịp thời ngăn chặn tội phạm hoặc khi có căn cứ chứng tỏ người bị buộc tội sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội mới …Do đó, người có thẩm quyền trong phạm vi, quyền hạn có thể áp dụng ngay biện pháp giữ người trong trường hợp khẩn cấp. Điều 115 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định về trường hợp giữ người, cụ thể:

  1. Việc giữ người trong trường hợp này phải đảm bảo thuộc một trong các trường hợp:

-Có đủ căn cứ xác định người đó đang chuẩn bị để thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;

– Ngăn chặn ngay việc bỏ trốn của người đã bị xác định đúng là người thực hiện tội phạm;

– Ngăn chặn ngay việc bỏ trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ của người bị nghi đã thực hiện tội phạm.

Việc giữ người trong trường hợp khẩn cấp phải tuân thủ đúng quy định Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015
Việc giữ người trong trường hợp khẩn cấp phải tuân thủ đúng quy định Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015

2. Quy định về lập biên bản về việc giữ người trong trường hợp khẩn cấp.

Trong mọi trường hợp khi thực hiện giữ người, người thi hành lệnh giữ người đều phải lập biên bản. Việc lập biên bản phải đảm bảo tuân thủ đúng mẫu và tuân thủ đủ các nội dung quy định: Phải ghi rõ giờ, ngày, tháng, năm, địa điểm giữ, nơi lập biên bản; những việc đã làm, tình hình diễn biến trong khi thi hành lệnh giữ; tài liệu, đồ vật bị tạm giữ, tình trạng sức khỏe và ý kiến, khiếu nại của người bị giữ và các nội dung khác theo đúng mẫu thống nhất, quy định tại Điều 133 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Sau khi lập xong, biên bản cần phải đươc đọc cho người bị giữ và người chứng kiến nghe. Những người này có tên trong biên bản phải ký tên vào biên bản, nếu ai có ý kiến khác hoặc không đồng ý với nội dung biên bản có quyền ghi rõ vào biên bản và ký tên xác nhận.

Thủ tục lập biên bản về việc giữ người trong trường hợp nêu trên cần được thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 nhằm đảm bảo nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ quyền con người, quyền và lợp ích hợp pháp của cá nhân, quyền bất khả xâm phạm về thân thể của mỗi công dân Việt Nam được Hiến pháp và pháp luật bảo vệ. Trách nhiệm của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong mỗi hoạt động tố tụng hình sự phải được thực hiện nghiêm chỉnh, đúng quy định pháp luật và phải chịu trách nhiệm về hành vi, quyết định của mình đã thực hiện.

Để tìm hiểu thêm các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, bạn liên hệ số Hotline của Luật STC 0988873883 để luật sư của chúng tôi tư vấn trực tiếp.

 

 

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng

Bồi thường thiệt hại do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng sẽ phát sinh khi người thực hiện hành vi gây thiệt hại bị xác định có lỗi. Bộ luật dân sự 2015 quy định về căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường và mức bồi thường như sau:

  1. Căn cứ phát sinh theo quy định của pháp luật dân sự.

Điều 584 Bộ luật dân sự 2015, căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại gồm:

Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.

Người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.

Trường hợp tài sản gây thiệt hại thì chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp thiệt hại phát sinh theo quy định tại khoản 2 Điều này.

           Căn cứ quy định trên, khi một người gây thiệt hại vượt quá giới hạn của phòng vệ chính đáng, ngoài việc phải chịu trách nhiệm hình sự còn phải thực hiện nghĩa vụ bồi thường đối với thiệt hại thực tế do họ gây ra và bị xác định vượt quá mức cần thiết. Vì  hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ bị xác định có lỗi, vi phạm pháp luật do đó phát sinh nghĩa vụ bồi thường dân sự.

  1. Người phải thực hiện bồi thường.  

Căn cứ Điều 594 Bộ luật dân sự 2015, người phải bồi thường trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng là “Người gây thiệt hại do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng phải bồi thường cho người bị thiệt hại.”

Như vậy, mặc dù hành vi phòng vệ là hợp pháp, được pháp luật cho phép. Tuy nhiên, do hành vi phòng vệ vượt quá mức cho phép, vượt quá mức thiệt hại ban đầu, do đó người bị xác định thực hiện hành vi phòng vệ vượt quá giới hạn của phòng vệ chính đáng phải chịu trách nhiệm và thực hiện nghĩa vụ bồi thường cho người bị thiệt hại thực tế do hành vi chống trả, vượt quá giới hạn gây ra.

Luật sư STC tư vấn về bồi thường thiệt hại
Luật sư STC tư vấn về bồi thường thiệt hại

 Mức bồi thường theo quy định của Bộ luật dân sự 2015.

Khoản 1 điều 585 của luật quy định:

Theo quy định của bộ luật, thiệt hại thực tế phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời. Việc bồi thường có thể trên cơ sở hòa giải, thỏa thuận của các bên về mức bồi thường, phương thức, cách thức thực hiện bồi thường bằng tiền hoặc hiện vật hay thực hiện một công việc nhất định. Việc bồi thường có thể một lần hoặc nhiều lần.. nhưng phải trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản sau:

+ Nguyên tắc thứ nhất đó là người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường nếu không có lỗi hoặc có lỗi vô ý và thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế của mình.

+ Nguyên tắc thứ hai đó là khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì bên bị thiệt hại hoặc bên gây thiệt hại có quyền yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường.

+ Nguyên tắc thứ ba đó là khi bên bị thiệt hại có lỗi trong việc gây thiệt hại thì không được bồi thường phần thiệt hại do lỗi của mình gây ra.

+ Nguyên tắc thứ tư đó là về bên có quyền, lợi ích bị xâm phạm không được bồi thường nếu thiệt hại xảy ra do không áp dụng các biện pháp cần thiết, hợp lý để ngăn chặn, hạn chế thiệt hại cho chính mình.

Về mức bồi thường, pháp luật dân sự quy định:

Bồi thường thiệt hại về sức khỏe theo quy định tại Điều 590 Bộ luật dân sự 2015. Mức bồi thường do các bên tự thỏa thuận và được pháp luật cho phép. Trường hợp không thỏa thuận được, mức tối đa cho một người có sức khỏe bị xâm phạm không vượt quá 50 lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định. Trường hợp có thiệt hại về tính mạng bị xâm phạm, người gây thiệt hại sẽ phải bồi thường theo quy định tại Điều 590 Bộ luật dân sự 2015. Cụ thể mức bồi thường tổn thất về tinh thần tối đa không quá 100 lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định; đối với trường hợp sức khỏe bị xâm phạm thì mức bồi thường tổn thất về tinh thần tối đa không quá 50 lần mức lương cơ sở  cùng với các khoản bồi thường về chi phí phát sinh thực tế như chi phí mai tang, chi phí cấp cứu…

Để tìm hiểu rõ hơn về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng. Luật STC mời bạn đọc liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo số Hotline 0988873883 để luật sư STC tư vấn trực tiếp.

 

Cơ sở xác định hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng

Phòng vệ chính đáng là hành vi của một người vì bảo vệ quyền hoặc lợi ích chính đáng của mình, của người khác hoặc lợi ích của Nhà nước, cơ quan, tổ chức mà chống trả lại một cách cần thiết người đang thực hiện hành vi xâm phạm các lợi ích nêu trên. Do đó, hành vi phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm. Tuy nhiên, thực tế xảy ra không ít hành vi thực hiện vượt quá giới hạn của phòng vệ chính đáng, do đó đã gây ra sự nguy hiểm cho xã hội của hành vi xâm phạm.

1.Hành vi

Khoản 2, Điều 22 Bộ luật hình sự 2015 quy định “Vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng là hành vi chống trả rõ ràng quá mức cần thiết, không phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi xâm hại. Người có hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật này ”. Vậy loại hành vi nào sẽ bị xác định đã vượt quá giới hạn.

Bộ luật hình sự 2015 không giải thích thế nào là “quá mức cần thiết” do đó chưa có cơ sở pháp lý rõ ràng khi phân định hành vi phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm với hành vi bị xác định đã vượt quá giới hạn, phải chịu trách nhiệm hình sự. Do đó hiện nay khi đánh giá hành vi được xác định là phòng vệ chính đáng, quan điểm được áp dụng vẫn theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 05/01/1986 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng quy định của Bộ luật hình sự 1986. Nghị quyết 02 được cọi là nguồn tài liệu  của những người tiến hành tố tụng, người bào chữa để tham khảo, áp dụng trong các vụ án có liên quan đến loại hành vi này.

Luật STC chuyên bào chữa các vụ án hình sự
Luật STC chuyên bào chữa các vụ án hình sự

2.Điều kiện xác định hành vi

Mục II, Nghị quyết 02/HĐTP nêu trên quy định: Hành vi xâm phạm tính mạng hoặc sức khỏe của người khác được coi là hành vi phòng vệ chính khi có đủ các điều kiện sau đây:

  1. a) Hành vi xâm hại những lợi ích cần phải bảo vệ là hành vi phạm tội hoặc rõ ràng là có tính chất nguy hiểm cho xã hội.
  2. b) Hành vi nguy hiểm cho xã hội đang gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại thực sự và ngay tức khắc cho những lợi ích cần phải bảo vệ.
  3. c) Phòng vệ chính đáng không chỉ gạt bỏ sự đe dọa, đẩy lùi sự tấn công, mà còn có thể tích cực chống lại sự xâm hại, gây thiệt hại cho chính người xâm hại.
  4. d) Hành vi phòng vệ phải tương xứng với hành vi xâm hại, tức là không có sự chênh lệch quá đáng giữa hành vi phòng vệ với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi xâm hại.

Căn cứ các điều kiện xác định trên cho thấy, cơ sở để phân định hành vi vượt quá hay không vượt quá chính là nhận định về sự tương xứng giữ hành vi và mức độ xâm hại của hành vi. Việc đánh giá mức độ tương xứng theo Nghị quyết, không chỉ xác định về thiệt hại do người phòng vệ gây ra cho người xâm hại phải ngang bằng hoặc nhỏ hơn thiệt hại do người xâm hại đe dọa gây ra hoặc đã gây ra cho người phòng vệ.

Do đó, để đánh giá đúng hành vi chống trả tương xứng hay không tương xứng, trong phạm vi hay vượt quá phạm vi phòng vệ thì cần đánh giá toàn diện và khách quan tất cả tình tiết có liên quan trên cơ sở đó mới có thể đưa ra những nhận định, kết luận cụ thể về hành vi chống trả và thiệt hại thực tế là không tương xứng, quá mức cần thiết, mà thực sự có thể giảm bớt khi đó mới có cơ sở pháp lý xác định là vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng.

 

Chiếm giữ trái phép tài sản của người khác bị xử lý như thế nào?

Chiếm giữ trái phép tài sản là không trả lại tài sản mình được giao nhầm hoặc không nộp cho cơ quan có trách nhiệm tài sản mình tìm được, bắt được… mà tiếp tục chiếm hữu, sử dụng hoặc định đoạt tài sản đó. Những người có hành vi chiếm giữ trái phép tài sản của người khác có thể bị xử lý hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi chiếm giữ tài sản trái phép được dựa trên giá trị tài sản chiếm giữ.

  1. Thế nào là chiếm giữ trái phép tài sản của người khác?

Có thể hiểu, chiếm giữ trái phép tài sản là việc cố tình không trả lại cho chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp hoặc không tiến hành giao nộp cho cơ quan có trách nhiệm: Tài sản, cổ vật hoặc vật mang giá trị lịch sử, văn hóa… không may bị giao nhầm hoặc do mình tìm được, bắt được sau khi có yêu cầu được nhận lại tài sản đó theo quy định.

Như vậy, theo cách hiểu trên, người thực hiện hành vi vi phạm có được tài sản là do bị giao nhầm, do mình tìm được hoặc nhặt được. Khi chủ sở hữu, người quản lý tài sản yêu cầu được nhận lại tài sản nhưng người này cố tình không trả lại thì được xác định là hành vi chiếm giữ trái phép tài sản. Trường hợp bằng mọi cách mà không tìm thấy chủ sở hữu của tài sản lúc này người đang giữ tài sản có thể được xem xét là sở hữu hợp pháp.

Phiên tòa xét xử vụ án Chiếm giữ tài sản trái phép
Phiên tòa xét xử vụ án Chiếm giữ tài sản trái phép
  1. Chiếm giữ trái phép tài sản của người khác bị xử lý thế nào?

Người có hành vi chiếm giữ trái phép tài sản của người khác có thể bị xử phạt hành chính hoặc xử lý hình sự căn cứ theo giá trị tài sản chiếm giữ. Cụ thể:

2.1. Xử lý hình sự

Theo quy định tại Điều 176 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi 2017, người nào cố tình không trả lại cho chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp hoặc không giao nộp cho cơ quan có trách nhiệm tài sản bị giao nhầm hoặc do mình tìm được, bắt được, sau khi chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp hoặc cơ quan có trách nhiệm yêu cầu được nhận lại tài sản có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội chiếm giữ trái phép tài sản của người khác. Mức phạt Tội chiếm giữ trái phép tài sản như sau:

Khung 01: Phạt tiền từ 10 – 50 triệu đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm trong trường hợp chiếm giữ trái phép tài sản trị giá từ 10 – dưới 200 triệu đồng; hoặc dưới 10 triệu đồng nhưng tài sản là di vật, cổ vật hoặc vật có giá trị lịch sử, văn hóa

Khung 02: Phạt tù từ 01 năm – 05 năm trong trường hợp phạm tội chiếm giữ tài sản trị giá từ 200 triệu đồng trở lên hoặc tài sản là bảo vật quốc gia.

2.2 Xử phạt hành chính

Trường hợp chưa đến mức truy cứu hình sự, người chiếm giữ trái phép tài sản sẽ bị xử phạt hành chính. Theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 15 Nghị định 144/2021, người chiếm giữ tài sản của người khác bị phạt tiền từ 03 – 05 triệu đồng. Đồng thời, buộc người chiếm giữ trái phép tài sản phải trả lại tài sản theo quy định.

Mời bạn liên hệ Công ty luật TNHH STC theo số HL để được luật sư tư vấn.

Người dưới 18 tuổi phạm tội cướp tài sản bị xử lý như thế nào?

Cướp tài sản là hành vi phạm tội xảy ra tương đối phổ biến, trong đó đối tượng thực hiện hành vi phạm tội này còn bao gồm cả nhưng người trẻ tuổi là người chưa thành niên. Để xác định người dưới 18 tuổi phạm tội cướp tài sản bị xử lý thế nào chúng ta cần xác định về độ tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự. 

1.Tuổi chịu trách nhiệm hình sự.

Theo Điều 12 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác. Đây là những tội phạm mà chủ thể của những tội phạm này đòi hỏi phải là người “đủ 18 tuổi trở lên”.

Điều 12 quy định: Người từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng.

Quy định về loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng tại các điều 123, 134, 141, 142, 143, 144, 150, 151, 168, 169, 170, 171, 173, 178, 248, 249, 250, 251, 252, 265, 266, 286, 287, 289, 290, 299, 303 và 304 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Các Điều luật giới hạn phạm vi các tội cũng như phạm vi loại tội phạm mà người từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự. Theo đó, ở độ tuổi này, người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm được quy định tại 28 điều luật đã được xác định và phải thuộc trường hợp tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Trong các tội phạm này, có tội Cướp tài sản do đó người phạm tội dưới 18 sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự nếu thuộc trường hợp rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

Bộ luật hình sự 2015-
Văn bản luật

2.Tội cướp tài sản

Hành vi cướp tài sản được hiểu là hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản. Theo đó, người thực hiện hành vi này có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội cướp tài sản. Điều 168 Bộ luật Hình sự 2015 quy định các khung hình phạt của Tội cướp tài sản cụ thể như sau:

Tội Cướp tài sản có các khung hình phạt chính sau:

– Khung 01:

Phạt tù từ 03 – 10 năm nếu dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản.

– Khung 02: Phạt tù từ 07 – 15 năm nếu phạm tội thuộc một trong các trường hợp:

+ Có tổ chức;

+ Có tính chất chuyên nghiệp;

+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% -30%;

+ Sử dụng vũ khí, phương tiện hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác;

+ Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50 – dưới 200 triệu đồng;

+ Phạm tội với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu hoặc người không có khả năng tự vệ;

+ Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

+ Tái phạm nguy hiểm.

– Khung 03: Phạt tù từ 12 – 20 năm nếu phạm tội thuộc một trong các trường hợp:

+ Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200 – dưới 500 triệu đồng;

+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% -60%;

+ Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.

– Khung 04: Phạt tù từ 18 – 20 năm hoặc tù chung thân nếu phạm tội thuộc một trong các trường hợp:

+ Chiếm đoạt tài sản trị giá 500 triệu đồng trở lên;

+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 31% trở lên;

+ Làm chết người;

+ Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.

Với người chuẩn bị phạm tội có thể bị phạt tù từ 01 – 05 năm

Cướp tài sản có hình phạt bổ sung như sau: 

Người thực hiện hành vi phạm tội có thể bị phạt tiền từ 10 – 100 triệu đồng; bị phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 – 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Như vậy, căn cứ các quy định trên thì người dưới 18 tuổi cụ thể là từ 14 tuổi trở lên sẽ phải chị trách nhiệm hình sự khi thực hiện hành vi cướp tài sản nếu thuộc trường hợp tội phạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

Để hiểu rõ hơn về tội phạm này, mời bạn đọc liên hệ Công ty Luật TNHH STC để luật sư của chúng tôi tư vấn trực tiếp.

 

AI PHẢI CHỊU CHI PHÍ CƯỠNG CHẾ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

Cũng giống như khi khởi kiện hoặc yêu cầu Toà án giải quyết vụ án/vụ việc dân sự, các đương sự đều phải nộp phí, lệ phí Toà án. Trong thi hành án nói chung và cưỡng chế thi hành án dân sự nói riêng cũng phải nộp chi phí. Vậy người nộp là ai?

Căn cứ Điều 73 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, chi phí cưỡng chế thi hành án và người nộp được quy định như sau:

Người phải thi hành án 

– Thông báo việc cưỡng chế thi hành án.

– Mua nguyên, nhiên liệu; thuê phương tiện, thiết bị bảo vệ, y tế, phòng chống cháy nổ… thực hiện cho việc cưỡng chế thi hành án.

– Định giá, giám định, bán đấu giá, định giá lại tài sản trừ trường hợp do người được thi hành án yêu cầu hoặc có vi phạm quy định về định giá.

– Thuê, trông coi, bảo quản, bốc dỡ, vận chuyển tài sản, thuê nhân công, đo đạc, xác định mốc giới để cưỡng chế thi hành án.

– Tạm giữ, thu giữ tài sản, giấy tờ.

– Bồi dưỡng cho người trực tiếp tham gia thực hiện, bảo vệ quá trình thi hành án: Chấp hành viên, công chức khác, công an, dân quân tự vệ, Kiểm sát viên, trưởng thôn, đại diện tổ dân phố…

Cưỡng chế thi hành án
Cưỡng chế thi hành án

Người được thi hành án

– Định giá lại tài sản (người được thi hành án yêu cầu)

– Xây ngăn, phá dỡ nếu bản án, quyết định xác định người được thi hành án phải chịu các khoản chi phí này. Người này có thể phải chịu toàn bộ hoặc một phần chi phí này theo bản án hoặc quyết định có hiệu lực của Toà án.

Ngoài các trường hợp người thi hành án hoặc người được thi hành án phải chịu chi phí thi hành án thì ngân sách Nhà nước sẽ chi trả các khoản chi phí bắt buộc thi hành án sau đây:

– Định giá lại tài sản trong trường hợp có vi phạm quy định về định giá.

– Xác minh điều kiện thi hành án.

– Chi phí cần thiết khác: Chi phí họp bàn, chi phí cưỡng chế nếu không thu được tiền của người phải thi hành án (do tài sản không bán được), tài sản cưỡng chế không còn/mất giá trị sử dụng; xác minh, xác định giá trị tài sản trước khi cưỡng chế…

TÀI SẢN CHUNG NHẬP TỪ TÀI SẢN RIÊNG CÓ MẤT THUẾ KHÔNG?

Trong nhiều giao dịch, quan hệ hôn nhân và gia đình thường được miễn thuế như nhận thừa kế, tặng cho… Vậy nếu nhập tài sản riêng vào tài sản chung vợ chồng có mất thuế không?

Thông thường, khi nhận thừa kế, nhận tặng cho, nếu các bên là vợ, chồng thì sẽ không phải chịu thuế. Vậy khi nhập tài sản riêng vào tài sản chung của vợ chồng có phải chịu khoản thuế nào không? Để trả lời cho câu hỏi này, cần xem xét đến hai loại thuế sau đây:

Thủ tục kết hôn, ly hôn, chế độ tài sản và chia tài sản chung của vợ chồng và bộ mẫu chương trình điều hành phiên tòa dân sự sơ thẩm, phúc
Chia tài sản chung vợ chồng

Về thuế thu nhập cá nhân khi nhập vào tài sản chung 

Theo Điều 3 Luật Thuế thu nhập cá nhân, khi thuộc một trong các loại thu nhập sau đây, người có thu nhập phải chịu thuế thu nhập cá nhân:

– Thu nhập từ kinh doanh từ 100 triệu đồng/năm trở lên: Sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ…

– Thu nhập từ tiền lương, tiền công: Tiền lương, tiền cong, phụ cấp, trợ cấp trừ ưu đãi người có công, phụ cấp độc hại, nguy hiểm, phụ cấp thu hút, trợ cấp khó khăn đột xuất, trợ cấp một lần khi sinh con…

– Thu nhập từ đầu tư vốn gồm: Tiền lãi cho vay, lợi tức của cổ phần…

– Thu nhập từ chuyển nhượng vốn: Chuyển nhượng phần vốn, chứng khoán…

– Thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản: Chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất; quyền sở hữu hoặc sử dụng nhà ở; quyền thuê đất, thuê mặt nước…

– Thu nhập từ trúng thưởng: Xổ số, trúng thưởng khuyến mại, cá cược…

– Thu nhập từ bản quyền.

– Thu nhập từ nhượng quyền thương mại.

– Thu nhập từ thừa kế (chứng khoán, bất động sản phải đăng ký sở hữu…), quà tặng là chứng khoán…

Như vậy, việc nhập tài sản riêng là thu nhập riêng vào tài sản chung vợ chồng không phải giao dịch phải nộp thuế thu nhập cá nhân.

 Tài sản chung vợ chồng khi sáp nhập có phải nộp lệ phí trước bạ?

Căn cứ điểm c khoản 16 Điều 5 Nghị định 10/2022/NĐ-CP, tài sản chung hợp nhất của vợ chồng sau khi kết hôn, tài sản phân chia của vợ chồng khi ly hôn theo bản án/quyết định có hiệu lực của Toà án là hai trong số các trường hợp được miễn lệ phí trước bạ.

Do đó, nếu nhập tài sản riêng của vợ, chồng vào thành tài sản chung thì giao dịch này sẽ được miễn lệ phí trước bạ.

Trong khi đó, theo quy định trước đây, các trường hợp được miễn lệ phí trước bạ nêu tại điểm c khoản 16 Điều 9 Nghị định 140/2016/NĐ-CP (đã hết hiệu lực) chỉ quy định miễn lệ phí trước bạ khi đăng ký lại tài sản đã được cấp Sổ đỏ cho các thành viên hộ gia đình mà không quy định trường hợp nhập hoặc phân chia tài sản chung vợ chồng.

Như vậy, từ nay, khi nhập tài sản riêng vào tài sản chung của vợ chồng không mất thuế thu nhập cá nhân và cũng không mất lệ phí trước bạ 0,5% như trước đây.

ĐIỀU KIỆN ĐỂ DI CHÚC VIẾT TAY HỢP PHÁP

Di chúc viết tay hiện nay khá phổ biến, có thể có người làm chứng hoặc không có người làm chứng. Tuy nhiên, không phải khi nào  cũng loại văn bản này cũng có hiệu lực. Để biết lý do vì sao hãy xem trường hợp dưới đây:

1.Luật Dân sự không có quy định về di chúc viết tay

Hình thức di chúc gồm bằng văn bản và di chúc miệng, trong đó bằng văn bản có 04 loại quy định tại Điều 628 Bộ luật Dân sự 2015, cụ thể:

(1) Bằng văn bản không có người làm chứng.

(2) Bằng văn bản có người làm chứng.

(3) Bằng văn bản có công chứng.

(4) Bằng văn bản có chứng thực.

Theo đó, pháp luật dân sự không quy định hay giải thích thế nào là di chúc viết tay. Tuy nhiên, căn cứ vào các loại bằng văn bản như trên và theo cách hiểu thông thường có thể xác đinhh: Di chúc viết tay là di chúc không được công chứng hoặc chứng thực.

Căn cứ theo các loại di chúc bằng văn bản và lý giải về di chúc viết tay trên có thể thấy Bộ luật Dân sự cho phép cá nhân được lập di chúc viết tay (gồm 02 loại, đó là bằng văn bản có người làm chứng và bằng văn bản không có người làm chứng).

  1. Điều kiện di chúc  viết tay hợp pháp

Khoản 1 Điều 630 Bộ luật Dân sự 2015 quy định rõ như sau:’ “1. Di chúc hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:

a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép;

b) Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật.”.

Như vậy, di chúc viết tay hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:

1) Điều kiện đối với người lập

– Độ tuổi được lập (không công chứng hoặc chứng thực): Phải từ đủ 15 tuổi trở lên, riêng trường hợp người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi được lập di chúc, nếu được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc (theo khoản 2 Điều 625 Bộ luật Dân sự 2015).

– Người lập minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc.

– Không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép.

(2) Điều kiện về nội dung

Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.

Di chúc gồm các nội dung chủ yếu sau:

– Ngày, tháng, năm lập di chúc;

– Họ, tên và nơi cư trú của người lập di chúc;

– Họ, tên người, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản;

– Di sản để lại và nơi có di sản.

Ngoài những nội dung chủ yếu trên thì di chúc có thể có các nội dung khác.

Di chúc không được viết tắt hoặc viết bằng ký hiệu, nếu gồm nhiều trang thì mỗi trang phải được ghi số thứ tự và có chữ ký hoặc điểm chỉ của người lập.

Trường hợp di chúc có sự tẩy xóa, sửa chữa thì người tự viết di chúc hoặc người làm chứng di chúc phải ký tên bên cạnh chỗ tẩy xóa, sửa chữa.

(3) Điều kiện về hình thức

Hình thức không được trái với quy định của của luật, cụ thể:

– Đối với di chúc bằng văn bản không có người làm chứng: Người lập phải tự viết và ký vào bản di chúc.

– Đối với di chúc bằng văn bản có người làm chứng:

+ Phải có ít nhất là 02 người làm chứng: Ai cũng có thể làm chứng cho việc lập di chúc, trừ những người sau:

Người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người lập di chúc.

Người có quyền, nghĩa vụ tài sản liên quan tới nội dung di chúc.

Người chưa thành niên (chưa đủ 18 tuổi), người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.

+ Người lập phải ký hoặc điểm chỉ vào bản di chúc trước mặt những người làm chứng; những người làm chứng xác nhận chữ ký, điểm chỉ của người lập và ký vào bản di chúc.

 

0988873883