Có được tặng cho, đổi nhà ở đang cho thuê, nhà ở thuộc sở hữu chung không?

Pháp luật Việt Nam cho phép việc tặng cho, đổi nhà ở đang cho thuê, nhà ở thuộc sở hữu chung, cụ thể như sau:

I. Tặng cho, đổi nhà ở thuộc sở hữu chung

1.Tặng cho nhà ở thuộc sở hữu chung

Điều 137, Luật Nhà ở số 65/2014/QH13 ngày 25/11/2014 (sau đây gọi tắt là Luật nhà năm 2014) quy định về việc tặng cho nhà ở thuộc sở hữu chung như sau:

+ Trường hợp tặng cho nhà ở thuộc sở hữu chung hợp nhất thì phải được sự đồng ý bằng văn bản của tất cả các chủ sở hữu nhà ở thuộc sở hữu chung.

+ Trường hợp tặng cho nhà ở thuộc sở hữu chung theo phần thì chủ sở hữu chỉ được tặng cho phần nhà ở thuộc quyền sở hữu của mình và không được làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ sở hữu nhà ở thuộc sở hữu chung khác.

Sau khi nhận tặng cho phần sở hữu chung thì chủ sở hữu nhà ở mới không được làm ảnh hưởng đến các quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ sở hữu chung khác.

2. Đổi nhà ở thuộc sở hữu chung

Điều 139, Luật Nhà ở năm 2014 quy định về việc đổi nhà ở thuộc sở hữu chung như sau:

+ Việc đổi nhà ở thuộc sở hữu chung hợp nhất phải được sự đồng ý của tất cả các chủ sở hữu nhà ở thuộc sở hữu chung.

+ Trường hợp đổi nhà ở thuộc sở hữu chung theo phần thì chủ sở hữu nhà ở thuộc sở hữu chung chỉ được đổi phần nhà ở thuộc quyền sở hữu của mình và bảo đảm không làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ sở hữu chung khác. Sau khi nhận đổi phần nhà ở thuộc sở hữu chung thì chủ sở hữu nhà ở mới không được làm ảnh hưởng đến các quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ sở hữu chung khác.

II. Tặng cho, đổi nhà ở đang cho thuê

1. Tặng cho nhà ở đang cho thuê

Điều 138, Luật Nhà ở năm 2014 quy định về việc tặng cho nhà ở đang cho thuê như sau:

+ Chủ sở hữu nhà ở đang cho thuê phải thông báo bằng văn bản cho bên thuê nhà ở biết trước về việc tặng cho nhà ở.

+ Bên thuê nhà ở được tiếp tục thuê nhà ở đến hết hạn hợp đồng thuê nhà đã ký với bên tặng cho, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.

2. Đổi nhà ở đang cho thuê

Điều 140, Luật nhà ở năm 2014 quy định về đổi nhà ở đang cho thuê như sau:

+ Chủ sở hữu nhà ở đang cho thuê phải thông báo bằng văn bản cho bên thuê nhà ở biết trước về việc đổi nhà ở.

+ Bên thuê nhà ở được tiếp tục thuê nhà ở đến hết hạn hợp đồng thuê nhà ở đã ký với chủ sở hữu nhà ở cũ, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác

Quy trình kiểm đếm khi nhà nước thu hồi đất

Kiểm đếm là việc xác định hiện trạng sử dụng đất, thống kê nhà ở, tài sản gắn liền với đất để lấy thông tin phục vụ cho hoạt động đền bù, giải tỏa.

Kiểm đếm là thủ tục bắt buộc khi nhà nước muốn thu hồi đất. Pháp luật hiện hành có những quy định cụ thể về quy trình kiểm đếm như sau:

  1. Thời điểm tiến hành

– Căn cứ pháp lý: Khoản 1 Điều 67 Luật đất đai 2013 và điểm c khoản 1 Điều 17 Nghị định 43/2014/NĐ-CP

Theo đó, trước khi có quyết định thu hồi đất, cơ quan có thẩm quyền phải thông báo kế hoạch kiểm đếm cho người dân được biết:

+ Đối với đất nông nghiệp chậm nhất là 90 ngày;

+ Đối với đất phi nông nghiệp chậm nhất là 180 ngày.

  1. Quy trình kiểm đếm thông thường

– Căn cứ pháp lý: Khoản 1 Điều 69 Luật đất đai 2013

– Việc kiểm đếm đất đai để lấy thông tin lập phương án bồi thường, hỗ trợ tái định cư được tiến hành như sau:

1) UBND cấp tỉnh, huyện ra thông báo thu hồi đất (bao gồm cả kế hoạch kiểm đếm).

2) Thông báo được gửi đến cho từng hộ dân có đất bị thu hồi, họp phổ biến và niêm yết công khai tại UBND cấp xã để người dân được biết.

3) UBND cấp xã phối hợp với đơn vị bồi thường, giải phóng mặt bằng triển khai điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm đất đai.

4) Người sử dụng đất phối hợp với đơn vị bồi thường, giải phóng mặt bằng thực hiện kiểm đếm.

  1. Quy trình kiểm đếm bắt buộc

Về thời điểm tiến hành:

Căn cứ quy định tại điểm d khoản 1 Điều 69 Luật đất đai 2013, nếu người dân không đồng thuận thực hiện kiểm đếm thì UBND cấp xã và ban bồi thường, GPMB phải tổ chức vận động, thuyết phục.

Trong vòng 10 ngày kể từ khi được vận động, thuyết phục mà vẫn không được đồng ý thì Chủ tịch UBND cấp huyện ra quyết định kiểm đếm bắt buộc. Nếu người có đất vẫn không thực hiện thì tiến hành cưỡng chế kiểm đếm.

Về điều kiện cưỡng chế thi hành quyết định kiểm đếm bắt buộc:

Căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 70 Luật đất đai 2013 thì chỉ được tiến hành cưỡng chế kiểm đếm đất đai khi đáp ứng đủ 04 điều kiện:

– Người bị thu hồi không chấp hành quyết định kiểm đếm bắt buộc đã được vận động, thuyết phục;

– Quyết định cưỡng chế thực hiện quyết định kiểm đếm bắt buộc đã được niêm yết công khai tại trụ sở UBND cấp xã;

– Quyết định cưỡng chế kiểm đếm bắt buộc đã có hiệu lực thi hành;

– Người bị cưỡng chế đã nhận được quyết định cưỡng chế có hiệu lực thi hành.

Trình tự tiến hành cưỡng chế thi hành quyết định cưỡng chế bắt buộc:

Căn cứ theo quy định tại khoản 4 Điều 70 Luật đất đai 2013, việc cưỡng chế kiểm đếm được thi hành như sau:

(1) Đơn vị được giao nhiệm vụ cưỡng chế vận động, thuyết phục, đối thoại với người bị cưỡng chế.

(2) Nếu người bị cưỡng chế chấp hành thì lập biên bản ghi nhận và thực hiện điều tra, khảo sát, đo đạc.

(3) Nếu người bị cưỡng chế không chấp hành thì mới được cưỡng chế.

  1. Khiếu nại hoạt động kiểm đếm đất đai

– Căn cứ pháp lý: Điều 7,0 Luật khiếu nại 2011Trường hợp người bị thu hồi đất có căn cứ cho rằng kết quả kiểm đếm là không chính xác, kiểm đếm không đúng kế hoạch đã công khai, vi phạm thời hạn thông báo trước, cưỡng chế kiểm đếm sai quy trình… thì được khiếu nại đến cơ quan, người thực hiện, ra quyết định trong vòng 90 ngày, kể từ khi phát hiện sai phạm.

Trong vòng 10 ngày, kể từ khi nhận đơn thư khiếu nại, cấp có thẩm quyền phải thụ lý vụ việc và tiến hành đối thoại, ra quyết định giải quyết khiếu nại trong tối đa 45 ngày tiếp theo (60 ngày đối với vùng sâu, vùng xa, đi lại khó khăn).

Trong vòng 30 ngày, kể từ hạn chót giải quyết vụ việc nhưng chưa có quyết định giải quyết khiếu nại, hoặc đã có nhưng không đồng ý, thì được khiếu nại tiếp lên cấp trên hoặc khởi kiện vụ án hành chính ra Tòa án có thẩm quyền.

Hình phạt nào cho kẻ chiếm đoạt tiền từ thiện?

Vừa qua, có nhiều người sử dụng tên tuổi của mình để đứng ra kêu gọi từ thiện, ủng hộ cho những người gặp khó khan. Tuy nhiên, cũng có không ít trường hợp lợi dụng lòng tin của người khác, kêu gọi từ thiện để chiếm đoạt số tài sản này.

Đây là hành vi vi phạm pháp luật và có thể bị xử lý hình sự.

1. Chiếm đoạt tiền từ thiện là hành vi vi phạm pháp luật

Theo quy định tại Nghị định 64/2008/NĐ-CP, việc tổ chức, vận động, tiếp nhận, phân bổ và sử dụng tiền, hàng đóng góp trong mỗi cuộc vận động khắc phục hậu quả thiên tai phải được thực hiện kịp thời, đúng mục đích, đúng đối tượng, công khai, minh bạch.

Pháp luật nghiêm cấm mọi hành vi báo cáo sai sự thật, gian lận, chiếm đoạt, sử dụng trái phép tiền, hàng do các tổ chức, cá nhân trong nước, ngoài nước ủng hộ, đóng góp; lợi dụng hoạt động cứu trợ để vụ lợi.

Chiếm đoạt tiền từ thiện là vi phạm pháp luật, pháp luật Việt Nam có quy định cụ thể về mức xử phạt.

2. Mức xử phạt khi vi phạm chiếm đoạt tiền từ thiện

2.1. Xử phạt hành chính:

Nếu người kêu gọi quyên góp từ thiện có một trong các hành vi trên thì căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 15 Nghị định 167/2013/NĐ-CP, người vi phạm có thể bị phạt vi phạm hành chính từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng.

Đồng thời bị tịch thu toàn bộ số tiền đã kêu gọi, quyên góp được.

2.2. Xử phạt hình sự:

Nếu hành vi chiếm đoạt tiền từ thiện có đủ các yếu tố cấu thành tội phạm thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Trong đó, tùy vào thời điểm xác định hành vi chiếm đoạt tiền từ thiện có trước hay sau việc kêu gọi từ thiện.

Lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Trường hợp có ý định chiếm đoạt tiền từ thiện trước việc kêu gọi từ thiện thì xác định về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Căn cứ theo quy định tại Điều 174 Bộ luật Hình sự 2015, hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác. Việc kêu gọi quyên góp từ thiện có thể đưa ra thông tin giả để làm cho người khác tin và giao tài sản cho người phạm tội.

Mức phạt đối với người phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản tối đa là tù chung thân. Ngoài ra còn có thể bị phạt tiền từ 10 – 100 triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần tài sản hoặc toàn bộ tài sản.

Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

Trường hợp sau khi kêu gọi từ thiện mới nảy sinh và bắt đầu hành vi chiếm đoạt tiền từ thiện thì xác định phạm tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

Theo quy định tại Điều 175 BLHS 2015, hành vi làm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là hành vi vạy, mượn, thuê tài sản của người khác rồi dùng thủ đoạn gian dối để bỏ trốn hoặc chiếm đoạt tài sản đó.

Theo đó, khi nhận được tiền quyên góp từ thiện nhưng lại không thực hiện đúng với cam kết ban đầu, cũng không trả lại tiền, tài sản cho người đã quyên góp thì thì phạm tội lợi dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản có thể bị phạt tù đến 12 năm.

Ngoài ra, người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Thủ tục cung cấp thông tin về nhà ở

Pháp luật hiện hành quy định về việc khai thác, sử dụng thông tin, dữ liệu về nhà ở thông qua phiếu yêu cầu hoặc văn bản yêu cầu tại khoản 1 Điều 15, Thông tư 27/2016/TT-BXD ngày 15/12/2016 của Bộ xây dựng, cụ thể như sau:

Bước 1: Bên yêu cầu gửi phiếu yêu cầu hoặc văn bản yêu cầu cung cấp dữ liệu cho Bên cung cấp theo các hình thức sau:

+ Nộp trực tiếp tại bên cung cấp;

+ Gửi qua đường công văn, fax, bưu điện;

+ Gửi trực tiếp qua mạng thông tin điện tử.

Phiếu yêu cầu, văn bản yêu cầu theo mẫu quy định tại Phụ lục III của Thông tư này;

Bước 2: Bên cung cấp tiếp nhận và xử lý phiếu yêu cầu hoặc văn bản yêu cầu.

– Trường hợp Bên yêu cầu thực hiện không đúng quy định được nêu tại khoản 2 Điều này, Bên cung cấp có quyền từ chối cung cấp thông tin, dữ liệu và phải nêu rõ lý do chậm nhất 03 ngày làm việc kể từ khi nhận được yêu cầu;

– Trường hợp phiếu yêu cầu hoặc văn bản yêu cầu đúng quy định và các thông tin, dữ liệu được yêu cầu cung cấp hợp lệ, Bên yêu cầu thanh toán chi phí dịch vụ cung cấp thông tin, dữ liệu về nhà ở và thị trường bất động sản theo quy định cho Bên cung cấp (nếu có);

Bước 3: Bên cung cấp chuẩn bị thông tin, dữ liệu về nhà ở và thị trường bất động sản để bàn giao cho Bên yêu cầu trong thời hạn không quá 07 ngày làm việc kể từ khi nhận được yêu cầu hoặc kể từ thời điểm Bên yêu cầu thanh toán chi phí dịch vụ (nếu có);

– Trong quá trình khai thác, sử dụng thông tin, dữ liệu về nhà ở và thị trường bất động sản không được sao chép, chuyển giao cho bên thứ ba, trừ trường hợp đã có thỏa thuận với bên cung cấp dữ liệu.

Điều kiện kết hôn với người trong ngành công an hiện nay

Ngoài việc đáp ứng các quy định theo Luật hôn nhân và gia đình 2014, kết hôn với người đang phục vụ trong ngành công an còn phải đáp ứng các điều kiện đặc thù của ngành công an, cụ thể như sau: 

1. Đáp ứng đủ điều kiện kết hôn theo Luật hôn nhân và gia đình 2014

Theo quy định tại khoản 1 Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình, hôn nhân được coi là đúng theo quy định của pháp luật thì chủ thể phải đáp ứng đủ các điều kiện sau:

– Về độ tuổi kết hôn: Nữ từ đủ 18 tuổi trở lên, nam từ đủ 20 tuổi trở lên;

– Về tính tự nguyện: Việc kết hôn phải dựa trên tinh thần tự nguyện của cả hai bên;

– Về mặt chủ thể: Hai bên nam nữ phải là người có đủ năng lực hành vi dân sự;

– Ngoài ra, việc kết hôn không được rơi vào trong các trường hợp bị cấm như: kết hôn giả tạo; tảo hôn, lừa dối, cưỡng ép hoặc cản trở kết hôn; vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng; có yếu tố loạn luân bao gồm kết hôn hoặc sống chung như vợ chồng với người cùng trực hệ, người trong phạm vi ba đời; giữa người đã và đang là cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người mà đã là cha chồng, cha dượng với con dâu, con riêng của vợ, giữa người đã là mẹ vợ, mẹ kế với con rể, con riêng của chồng.

2. Đáp ứng điều kiện riêng khi kết hôn với công an

Theo các văn bản nội bộ của Bộ Công an ban hành để được đăng ký kết hôn với công an, cơ quan có thẩm quyền, người có thẩm quyền ngoài các điều kiện chung của công dân Việt Nam nêu trên còn tiến hành thẩm tra lý lịch cá nhân và lý lịch ba đời của người còn lại nếu không phục vụ trong ngành công an. Theo đó nếu khi thẩm tra lý lịch mà rơi vào các trường hợp sau thì sẽ không được kết hôn với người phục vụ trong công an:

– Về lý lịch cá nhân:

+ Tôn giáo: Không chấp nhận các tôn giáo như Thiên Chúa giáo, Tin lành, Cơ đốc,…;

+ Dân tộc: Không chấp nhận người có dân tộc Hoa;

+ Không được có tiền án hoặc đang chấp hành bản án, chưa được xóa án tích;

+ Quốc tịch: Việt Nam, tuy nhiên người nước ngoài kể cả đã nhập quốc tịch Việt Nam cũng không được kết hôn với người phục vụ trong công an nhân dân;

– Về lý lịch gia đình:

+ Thẩm tra lý lịch ba đời: Đời thứ nhất bao gồm ông, bà bao gồm ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại; Đời thứ hai bao gồm cha mẹ, cô, gì, chú, bác ruột; Đời thứ ba bao gồm bản thân và anh, chị, em ruột, cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha. Kể cả trường hợp gia đình có Đảng viên vẫn thẩm tra lý lịch ba đời.

Không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng sau khi ly hôn giải quyết như thế nào?

Việc người có nghĩa vụ cấp dưỡng trốn tránh nghĩa vụ, không cấp dưỡng cho con sau khi ly hôn là hành vi vi phạm pháp luật. Tùy theo mức độ nghiêm trọng, việc không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho con sau khi ly hôn có thể bị xử phạt hành chính hoặc nghiêm trọng hơn sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Xử phạt hành chính:

Theo khoản 2 Điều 54 Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013

Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng khi từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng, chăm sóc con sau khi ly hôn.

Truy cứu trách nhiệm hình sự:

Hành vi cố ý không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng còn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng quy định tại Điều 186 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:

+ Trường hợp nghĩa vụ cấp dưỡng đã được thể hiện trong bản án, quyết định của Tòa án mà người cấp dưỡng không chấp hành bản án mặc dù đã bị áp dụng biện pháp cưỡng chế hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

+ Trường hợp từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng, làm cho người được cấp dưỡng lâm vào tình trạng nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính mà còn vi phạm thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

Ngoài ra, theo căn cứ tại khoản 3 Điều 380 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 người trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng trong trường hợp này còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.

Theo quy định, khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho người nuôi con chưa thành niên, con đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

Theo bản án quyết định của Tòa án nhân dân thì người không trực tiếp nuôi con phải thực hiện cấp dưỡng cho con, trường hợp người có nghĩa vụ cấp dưỡng từ chối hoặc trốn tránh thì người nuôi con có quyền làm đơn yêu cầu Chi cục thi hành án thực hiện việc cưỡng chế thi hành án để yêu cầu người có nghĩa vụ cấp dưỡng buộc phải cấp dưỡng.

Nếu người có nghĩa vụ cấp dưỡng lâm vào tình trạng khó khăn về kinh tế, không có khả năng thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng mà không thỏa thuận được với người được cấp dưỡng thì yêu cầu Tòa án giải quyết về việc thay đổi mức cấp dưỡng (theo Khoản 2 Điều 116) hoặc ngừng cấp dưỡng (theo Điều 117) Luật Hôn nhân và gia đình 2014.

Quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội

Phạm nhiều tội là trường hợp một người thực hiện một hoặc một số hành vi cấu thành những tội phạm khác nhau được luật hình sự quy định. Như vậy, có hai trường hợp phạm nhiều tội:

– Trường hợp thứ nhất: Người phạm tội có nhiều hành vi phạm tội khác nhau và mỗi hành vi cấu thành một tội phạm. Các hành vi phạm tội này có thể liên quan với nhau (được thực hiện để đạt cùng mục đích) hoặc không có liên quan với nhau (được thực hiện nhằm các mục đích khác nhau).

– Trường hợp thứ hai: Người phạm tội có một hành vi phạm tội nhưng hành vi này lại cấu thành nhiều tội phạm khác nhau.

Khi xét xử người phạm nhiều tội, toà án quyết định hình phạt đối với từng tội phạm theo các căn cử quyết định hình phạt đã được đề cập ở phần trên, sau đó tổng hợp hình phạt đó để được hình phạt chung theo các quy định sau:

  1. Đối với hình phạt chính

– Nếu các hình phạt đã tuyên cùng là cải tạo không giam giữ hoặc cùng là hình phạt tù có thời hạn thì các hình phạt đó được cộng lại thành hình phạt chung. Hình phạt chung không được vượt quá 3 năm đối với hình phạt cải tạo không giam giữ, 30 năm đối với hình phạt tù có thời hạn (điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự 2015.

– Nếu các hình phạt đã tuyên là cải tạo không giam giữ, tù có thời hạn thì hình phạt cải tạo không giam giữ được chuyển đổi thành hình phạt tù theo tỉ lệ 3 ngày cải tạo không giam giữ được chuyển đổi thành 1 ngày tù để tổng hợp thành hình phạt chung (điểm b khoản 1 Điều 55 BLHS).

 

– Nếu hình phạt nặng nhất trong số các hình phạt đã tuyên là tù chung thân hoặc tử hình thì hình phạt chung là tù chung thân hoặc tử hình (điểm c, điểm d khoản 1 Điều 55 BLHS).

– Nếu có nhiều hình phạt tiền thì hình phạt chung là tổng các khoản tiền phạt (điểm đ khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự 2015.

– Hình phạt tiền và hình phạt trục xuất không được tổng hợp với các loại hình phạt khác (điểm đ và điểm e khoản 1 Điều 55 BLHS).

  1. Đối với hình phạt bổ sung

– Nếu các hình phạt đã tuyên là cùng loại thì hình phạt chung được quyết định trong giới hạn do Bộ luật này quy định đối với loại hình phạt đó theo nguyên tắc cộng toàn bộ hoặc cộng một phần; riêng đối với hình phạt tiền thì các khoản tiền được cộng lại thành hình phạt chung theo nguyên tắc cộng toàn bộ (điểm a khoản 2 Điều 55 BLHS);

– Nếu các hình phạt đã tuyên là khác loại thì người bị kết án phải chấp hành tất cả các hình phạt đã tuyên theo nguyên tắc cùng tồn tại các loại hình phạt khác nhau (điểm b khoản 2 Điều 55 BLHS).

Như vậy, các quy định trên được xây dựng trên cơ sở cụ thể hoá các nguyên tắc chung của tổng hợp hình phạt là nguyên tắc cộng toàn bộ, nguyên tắc cộng một phần, nguyên tắc thu hút và nguyên tắc cùng tồn tại.

Điều kiện được tha tù trước thời hạn

Khi chấp hành án phạt tù, nếu người bị kết án phạt tù thực hiện tốt thì có cơ hội được hưởng ân xá, được tha tù trước thời hạn.

Điều kiện tha tù trước thời hạn đối với người phạm tội đang chấp hành án phạt tù được quy định cụ thể tại Nghị quyết 01/2018/NQ-HDTP ngày 24/4/2018.

Theo đó, người đang chấp hành án phạt tù về tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng có thể được xem xét tha tù trước thời hạn khi có đủ các điều kiện sau:

  1. Đã được giảm thời hạn chấp hành án phạt tù;

  2. Phạm tội lần đầu thuộc một trong các trường hợp sau:

– Trước đó chưa phạm tội lần nào.

– Trước đó đã thực hiện hành vi phạm tội nhưng được miễn trách nhiệm hình sự.

– Trước đó đã thực hiện hành vi phạm tội nhưng được áp dụng biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng.

– Trước đó đã bị kết án nhưng thuộc trường hợp được coi là không có án tích.

  1. Có nhiều tiến bộ, có ý thức cải tạo tốt trong việc chấp hành tốt Nội quy trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ; tích cực học tập, lao động cải tạo và có đủ kỳ xếp loại chấp hành án phạt tù từ khá trở lên

  2. Có nơi cư trú rõ ràng theo một trong hai trường hợp sau:

– Là nơi tạm trú hoặc thường trú theo quy định mà người được tha tù trước thời hạn có điều kiện về cư trú, sinh sống thường xuyên sau khi được tha tù.

– Hoặc là nơi cư trú có địa chỉ được xác định cụ thể.

  1. Đã chấp hành xong hình phạt bổ sung là hình phạt tiền, án phí và nghĩa vụ bồi thường thiệt hại, cụ thể:

– Đã nộp đầy đủ các khoản tiền phạt và án phí thể hiện ở các biên lai, chứng từ hoặc có quyết định miễn chấp hành hình phạt tiền, miễn nộp án phí của Tòa án.

– Đã chấp hành xong nghĩa vụ bồi thường thiệt hại là một trong các trường hợp gồm:

Đã thực hiện xong nghĩa vụ bồi thường thiệt hại theo bản án, quyết định của Tòa án; có quyết định đình chỉ thi hành án của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền; có thỏa thuận bằng văn bản của bị hại hoặc đại diện hợp pháp của bị hại về việc không phải thi hành nghĩa vụ bồi thường thiệt hại theo bản án, quyết định của Tòa án được cơ quan có thẩm quyền xác nhận.

  1. Đã chấp hành được ít nhất 1/2 mức phạt tù có thời hạn; ít nhất là 15 năm đối với trường hợp bị phạt tù chung thân nhưng đã được giảm xuống tù có thời hạn.

  2. Khi xét tha tù trước thời hạn có điều kiện phải xem xét thận trọng, chặt chẽ để bảo đảm việc tha tù trước thời hạn có điều kiện không ảnh hưởng đến an ninh, trật tự an toàn xã hội, đặc biệt là đối với các trường hợp phạm tội về ma túy, tham nhũng, phạm tội có tổ chức, các đối tượng chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, ngoan cố, chống đối, côn đồ, tái phạm nguy hiểm.

Điều kiện tha tù trước thời hạn có điều kiện đối với người phạm tội ít nghiêm trọng:

Người đang chấp hành án phạt tù về tội phạm ít nghiêm trọng có thể được tha tù trước thời hạn có điều kiện theo quy định nếu có đủ các điều kiện tại các mục (2), (3), (4), (5) và (6) nêu trên.

Con cái có phải trả nợ cho bố mẹ đã mất hay không?

Bố mẹ khi mất đi thường để lại một khối di sản và con cái là người được hưởng phần tài sản đó.

Tuy nhiên, trường hợp bố mẹ mất để lại một món nợ thì xử lý như thế nào? Con cái có nghĩa vụ phải trả số tiền đó hay không? 

1. Con cái có phải trả nợ thay bố mẹ hay không?

Pháp luật Việt Nam không có căn cứ nào quy định về nghĩa vụ trả nợ thay của con cái đối với cha mẹ. 

Việc bố mẹ có vay mượn với một bên khác là sự “thỏa thuận giữa các bên, bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi tới hạn trả, bên vay phải trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng và chỉ phải trả lãi nếu có” (quy định về hợp đồng vay tài sản tại Điều 463 BLDS 2015)

Luật hôn nhân và gia đình 2014 cũng không có quy định về nghĩa vụ trả nợ thay của con đối với cha mẹ. 

Nghĩa vụ của con cái đối với cha mẹ được quy định tại Điều 70 Luật hôn nhân và gia đình 2014 như sau: 

“con phải có bổn phận yêu quý, kính trọng, biết ơn, hiếu thảo, phụng dưỡng cha mẹ, gìn giữ danh dự và những truyền thống tốt đẹp của gia đình mình. Khi sống cùng với cha mẹ, con cái có nghĩa vụ tham gia công việc gia đình, lao động, sản xuất, tạo thu nhập nhằm đảm bảo đời sống chung của gia đình, đóng góp thu nhập vào việc đáp ứng nhu cầu của gia đình phù hợp với khả năng của mình”

Như vậy, pháp luật hiện hành không có bất cứ quy định nào ghi nhận nghĩa vụ trả nợ thay bố mẹ đối với con cái. 

2. Giải quyết khoản nợ của bố mẹ đã mất như thế nào? 

Trường hợp khi bố mẹ mất có để lại tài sản thì kể từ thời điểm mở thừa kế, những người thừa kế có các quyền, nghĩa vụ tài sản do người chết để lại (Điều 636 BLDS 2015).

Cũng tại khoản 1 Điều 637 BLDS 2015 quy định “những người hưởng thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản do người chết để lại, trừ trường hợp có thoả thuận khác”. 

Do đó, trong trường hợp khi bố mẹ đã mất để lại di sản thì con cái có nghĩa vụ trả nợ thay từ giá trị di sản mà các con được nhận thừa kế.

Trường hợp bố mẹ chết không còn bất cứ di sản nào để lại thì con cái không có nghĩa vụ trả khoản vay nợ đó.

Có thay đổi thông tin trên giấy đăng ký kết hôn được không?

Việc sai thông tin trên Sổ hộ khẩu, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy đăng ký kết hôn,.. có ảnh hưởng lớn tới các thủ tục hành chính. 

Vậy sai thông tin trên giấy đăng ký kết hôn có sửa được hay không? 

1. Có thay đổi thông tin trên giấy đăng ký kết hôn được không? 

Theo quy định của pháp luật hiện hành, khi có đủ căn cứ để xác định có sai sót do lỗi của công chức làm công tác hộ tịch hoặc của người yêu cầu đăng ký hộ tịch thì có thể yêu cầu cải chính hộ tịch (Khoản 2 Điều 7 Nghị định 123/2015/NĐ-CP)

Điều 28 Luật Hộ tịch năm 2014 quy định về thủ tục đăng ký thay đổi, cải chính hộ tịch như sau:

Người yêu cầu đăng ký thay đổi, cải chính hộ tịch nộp tờ khai theo mẫu quy định và giấy tờ liên quan cho cơ quan đăng ký hộ tịch. 

Trong thời hạn 3 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ giấy tờ theo quy định tại Khoản 1 Điều này, nếu thấy việc thay đổi, cải chính hộ tịch là có cơ sở, phù hợp với quy định của pháp luật dân sự và pháp luật có liên quan, công chức tư pháp – hộ tịch ghi vào Sổ hộ tịch, cùng người yêu cầu đăng ký thay đổi, cải chính hộ tịch ký vào Sổ hộ tịch và báo cáo Chủ tịch UBND cấp xã cấp trích lục cho người yêu cầu.

Trường hợp thay đổi, cải chính hộ tịch liên quan đến Giấy khai sinh, Giấy chứng nhận kết hôn thì công chức tư pháp – hộ tịch ghi nội dung thay đổi, cải chính hộ tịch vào Giấy khai sinh, Giấy chứng nhận kết hôn.

2. Thủ tục cải chính, thay đổi thông tin 

Người cần cải chính hộ tịch cần chuẩn bị các thông tin, giấy tờ sau: 

 – Tờ khai đăng ký việc thay đổi, cải chính, bổ sung hộ tịch, xác định lại dân tộc;

– Bản chính Giấy chứng nhận kết hôn của người cần cải chính (để thực hiện ghi chú nội dung cải chính);

– Văn bản ủy quyền đã được công chứng, chứng thực (nếu ủy quyền cho người khác làm thay);

– Hoặc Văn bản ủy quyền (không cần công chứng, chứng thực) và giấy tờ chứng minh mối quan hệ (nếu ủy quyền cho ông, bà, cha, mẹ, vợ, chồng, con, anh, chị, em ruột) (chỉ áp dụng đối với trường hợp nộp trực tiếp);

– CMND/Hộ chiếu và Sổ hộ khẩu của người được thay đổi, cải chính, xác định lại dân tộc.

Giấy tờ xuất trình: Xuất trình Giấy tờ tuỳ thân của người đi đăng ký; xuất trình Sổ hộ khẩu hoặc Sổ đăng ký tạm trú của người đi đăng ký.

0988873883