Nghĩa vụ bồi thường của chủ nhà khi lấy lại nhà trước thời hạn

Trên thực tế, có rất nhiều trường hợp cho thuê nhà khi chưa hết hạn hợp đồng nhưng chủ nhà đòi lại nhà cho thuê. Vậy, bên thuê nhà có được đòi bồi thường thiệt hại hay không?

  1. Các trường hợp bên cho thuê được đơn phương chấm dứt hợp đồng thuê nhà

Theo quy định tại Điều 132 Luật nhà ở 2014, trong thời hạn cho thuê nhà theo thỏa thuận tại hợp đồng, bên cho thuê sẽ được quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng thuê nhà và thu hồi nhà cho thuê trong trường hợp sau:

– Bên cho thuê nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước, nhà ở xã hội cho thuê không đúng thẩm quyền, không đúng đối tượng, không đúng điều kiện;

– Bên thuê không trả tiền thuê nhà ở theo thỏa thuận từ 03 tháng trở lên mà không có lý do chính đáng;

– Bên thuê sử dụng nhà ở không đúng mục đích như đã thoả thuận trong hợp đồng;

– Bên thuê tự ý đục phá, cơi nới, cải tạo, phá dỡ nhà ở đang thuê;

– Bên thuê chuyển đổi, cho mượn, cho thuê lại nhà ở đang thuê mà không có sự đồng ý của bên cho thuê;

– Bên thuê làm mất trật tự, vệ sinh môi trường, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sinh hoạt của những người xung quanh đã được bên cho thuê nhà ở hoặc tổ trưởng tổ dân phố, trưởng thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc lập biên bản đến lần thứ ba mà vẫn không khắc phục;

– Bên cho thuê thực hiện cải tạo nhà ở và không thỏa thuận được với bên thuê về giá nhà thuê mới sau khi cải tạo. Trong trường hợp này, bên cho thuê phải bồi thường cho bên thuê.

  1. Bên thuê nhà đòi bồi thường như thế nào?

Căn cứ khoản 4 Điều 428 BLDS 2015 quy định về đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng như sau:

“Bên bị thiệt hại do hành vi không thực hiện đúng nghĩa vụ trong hợp đồng của bên kia được bồi thường”.

Việc chủ nhà chấm dứt hợp đồng thuê nhà trước thời hạn mà không được sự đồng ý của bên thuê là là hành vi đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật.

Do đó, bên cho thuê có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại, trong trường hợp hợp đồng có điều khoản phạt vi phạm hợp đồng thì phải thực hiện cả phạt vi phạm theo thỏa thuận.

2.1. Bồi thường thiệt hại

Bên cho thuê sẽ bồi thường thiệt hại theo nguyên tắc được nêu tại Điều 585 BLDS 2015: “Thiệt hại thực tế phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời. Các bên có thể thỏa thuận về mức, hình thức, phương thức bồi thường”.

Về việc bồi thường thiệt hại khi vi phạm hợp đồng quy định tại Khoản 2, 3 Điều 419 BLDS quy định:

“2. Người có quyền có thể yêu cầu bồi thường thiệt hại cho lợi ích mà lẽ ra mình sẽ được hưởng do hợp đồng mang lại. Người có quyền còn có thể yêu cầu người có nghĩa vụ chi trả chi phí phát sinh do không hoàn thành nghĩa vụ hợp đồng mà không trùng lặp với mức bồi thường thiệt hại cho lợi ích mà hợp đồng mang lại.

3. Theo yêu cầu của người có quyền, Tòa án có thể buộc người có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại về tinh thần cho người có quyền. Mức bồi thường do Tòa án quyết định căn cứ vào nội dung vụ việc”.

Khi chủ nhà đòi lấy lại nhà trước hạn mà ảnh hưởng tới quyền và lợi ích hợp pháp của người thuê thì bên cho thuê có quyền yêu cầu bồi thường về những thiệt hại đã xảy ra.

Nếu hai bên không thỏa thuận được thì bên thuê nhà có thể khởi kiện ra Tòa án yêu cầu giải quyết.

2.2. Phạt vi phạm hợp đồng

Theo quy định tại Điều 418 BLDS 2015, phạt vi phạm là sự thỏa thuận giữa các bên trong hợp đồng, theo đó bên vi phạm nghĩa vụ phải nộp một khoản tiền cho bên bị vi phạm.

Do đó, nếu trong hợp đồng thuê nhà có điều khoản về phạt vi phạm hợp đồng thì bên cho thuê nhà sẽ phải trả cho bên thuê một khoản tiền theo thỏa thuận do vi phạm hợp đồng.

Có thể cho thuê nhà đang thế chấp hay không?

Hiện nay, rất nhiều gia đình cho thuê lại nhà để ở. Vậy liệu nhà đang thế chấp có cho thuê được không?

  1. Cho thuê nhà ở

– Hợp đồng cho thuê tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho thuê giao tài sản cho bên thuê để sử dụng trong một thời hạn và bên thuê phải trả tiền. (Điều 472 BLDS 2015)

– Hợp đồng thuê nhà phải lập thành văn bản và có thể công chứng, chứng thực.

  1. Có được cho thuê nhà đang thế chấp không?

Theo quy định tại Điều 317 BLDS 2015, thế chấp là việc một bên dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ và không giao tài sản đó cho bên kia.

Như vậy, chủ sở hữu dùng căn nhà để bảo đảm thực hiện một nghĩa vụ nào đó và vẫn có quyền quản lý, sử dụng và có thể giao nhà cho một bên thứ ba khác.

Điều 146 Luật nhà ở 2014 quy định “Chủ sở hữu nhà ở có quyền thế chấp nhà đang cho thuê nhưng phải thông báo bằng văn bản cho bên thuê nhà biết trước về việc thế chấp.

Trường hợp chủ sở hữu nhà ở cho thuê nhà đang thế chấp thì phải thông báo bằng văn bản về việc thế chấp cho người thuê nhà.

Nếu như có tranh chấp phát sinh về quyền sở hữu nhà ở, bên thuê không biết việc nhà đang thế chấp thì chủ nhà phải bồi thường cho bên thuê nhà một khoản theo quy định của pháp luật.

 

Quy định pháp luật về chuyển nhượng hợp đồng thuê nhà, công trình xây dựng

Điều 36, Luật Kinh doanh bất động sản số 66/2014/QH13 ngày 25/11/2014 (sau đây gọi tắt làg Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014) quy định về việc chuyển nhượng hợp đồng thuê mua nhà, công trình xây dựng như sau: 

  1. Thời điểm chuyển nhượng hợp đồng thuê nhà, công trình xây dựng 

Bên thuê mua có quyền chuyển nhượng hợp đồng thuê mua nhà, công trình xây dựng khi hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho bên thuê mua chưa được nộp cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Việc chuyển nhượng hợp đồng thuê mua nhà, công trình xây dựng phải được lập thành văn bản, có xác nhận của bên cho thuê mua vào văn bản chuyển nhượng.

  1. Quyền và nghĩa vụ của bên nhận chuyển nhượng hợp đồng thuê mua 

+ Bên nhận chuyển nhượng hợp đồng thuê mua được tiếp tục thực hiện các quyền, nghĩa vụ của bên thuê mua nhà, công trình xây dựng với bên cho thuê mua. Bên cho thuê mua có trách nhiệm tạo điều kiện cho các bên trong việc chuyển nhượng hợp đồng và không được thu bất kỳ khoản chi phí nào liên quan đến việc chuyển nhượng hợp đồng.

+ Bên nhận chuyển nhượng hợp đồng thuê mua nhà, công trình xây dựng cuối cùng được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của pháp luật về đất đai.

  1. Loại hợp đồng không được chuyển nhượng 

Việc chuyển nhượng hợp đồng quy định tại Điều này không áp dụng đối với hợp đồng thuê mua nhà ở xã hội.

  1. Điều kiện chuyển nhượng hợp đồng thuê mua nhà, công trình có sẵn 

Điều 8, Nghị định 76/2015/NĐ-CP ngày 10/09/2015 của Chính phủ quy định về các điều kiện chuyển nhượng hợp đồng thuê nhà ở, công trình có sẵn đó là: 

+ Điều kiện để bên thuê mua nhà, công trình xây dựng có sẵn chuyển nhượng hợp đồng thuê mua nhà, công trình có sẵn 

Bên thuê mua nhà, công trình xây dựng có sẵn chuyển nhượng hợp đồng thuê mua nhà, công trình có sẵn khi hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (sau đây gọi chung là giấy chứng nhận) cho bên thuê mua chưa nộp cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

+ Điều kiện để tổ chức, cá nhân nhận chuyển nhượng hợp đồng thuê mua nhà, côngt rình xây dựng

Tổ chức, cá nhân nhận chuyển nhượng hợp đồng thuê mua nhà, công trình xây dựng có quyền chuyển nhượng tiếp hợp đồng thuê mua nhà, công trình xây dựng cho tổ chức, cá nhân khác khi hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận chưa nộp cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền để cấp giấy chứng nhận.

+ Việc chuyển nhượng hợp đồng thuê mua nhà, công trình xây dựng thì phải chuyển nhượng toàn bộ hợp đồng thuê mua nhà, công trình xây dựng đã ký với bên cho thuê mua. Đối với trường hợp là nhà ở thì thực hiện chuyển nhượng hợp đồng thuê mua từng căn nhà riêng lẻ hoặc từng căn hộ; trường hợp hợp đồng thuê mua nhiều căn nhà riêng lẻ hoặc nhiều căn hộ thì phải chuyển nhượng toàn bộ số căn nhà hoặc căn hộ trong hợp đồng đó.

 

Gây tai nạn giao thông dẫn đến chết người có phải đi tù không?

Tai nạn giao thông dẫn đến chết người và đã chủ động bồi thường thiệt hại thì có phải đi tù hay không?

  1. Hành vi tham gia giao thông gây tai nạn

Pháp luật Việt Nam quy định rõ về hành vi tham gia giao thông gây tai nạn tại Khoản 2 Điều 260 BLHS 2015 như sau:

  • Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
  • Làm chết 01 người hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;
  • Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe cho 02 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%;
  • Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe cho 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;
  • Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.
  1. Vô ý gây tai nạn giao thông xử lý như thế nào?

Trường hợp gây tai nạn giao thông dẫn đến chết người sẽ xử lý theo từng trường hợp cụ thể:

– Trường hợp do lỗi của người điều khiển giao thông vi phạm quy định tại Khoản 2 Điều 260 BLHS 2015, người gây tai nạn sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự và bồi thường thiệt hại theo quy định

– Trường hợp do lỗi vô ý xác định theo khoản 1 Điều 128 BLHS 2015 thì người gây tai nạn vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự nhưng mức phạt sẽ nhẹ hơn, đồng thời vẫn phải bồi thường thiệt hại. 

– Trường hợp không có lỗi thì người gây tai nạ chỉ cần bồi thường thiệt hại cho người nhà nạn nhân và nạn nhân theo Điều 601 BLHS 2015.

3. Mức hình phạt đối với người gây tai nạn giao thông dẫn đến chết người

Trường hợp người gây tai nạn giao thông do vi phạm quy định về giao thông đường bộ quy định tại Điều 260 BLHS thì bị xử phạt như sau: 

  • Làm chết 01 người hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên sẽ bị phạt tù từ 01 cho đến 05 năm.
  • Làm chết 03 người thì bị phạt từ từ 03 năm cho đến 10 năm.
  • Làm chết 03 người trở lên thì bị phạt tù từ 07 năm cho đến 15 năm.

Người bị tố cáo trong tố tụng hình sự có quyền và nghĩa vụ gì?

1. Người bị tố cáo trong tố tụng hình sự

Tố cáo là việc cá nhân theo thủ tục quy định của Luật này báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất kỳ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.

Tố cáo trong tố tụng hình sự là việc công dân theo trình tự, thủ tục do pháp luật tố tụng hình sự quy định báo cho cơ quan, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ người có thẩm quyền tiến hành tố tụng và/hoặc người có thẩm quyền tiến hành một số hoạt động tố tụng nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức. Hành vi vi phạm pháp luật đó chưa có dấu hiệu của tội phạm.

– Quyền và nghĩa vụ của người bị tố cáo trong tố tụng hình sự được quy định tại Điều 480 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.

2. Quyền của người bị tố cáo

Người bị tố cáo là người có hành vi được cho là vi phạm pháp luật. Nội dung tố cáo có ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố cáo. Do đó, người bị tố cáo phải được pháp luật bảo vệ bằng những quyền nhất định, cụ thể:

– Được thông báo về nội dung tố cáo

Người bị tố cáo có quyền được biết mình đã bị tố cáo về vấn đề gì. Cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm thông báo nội dung tố cáo bằng văn bản cho người bị tố cáo.

 Đưa ra bằng chứng để chứng minh nội dung tố cáo là không đúng sự thật

Nội dung tố cáo có liên quan trực tiếp đến quyền lợi của người bị tố cáo, vì vậy họ có quyền đưa ra bằng chứng chứng minh mình không có hành vi vi phạm pháp luật.

Khi đưa ra bằng chứng để biện hộ cho mình, người bị tố cáo có thể gửi đơn, thư hoặc trình bày trực tiếp với cơ quan có thẩm quyền giải quyết tố cáo.

– Được nhận quyết định giải quyết tố cáo

Sau khi việc tố cáo được giải quyết, người bị tố cáo có quyền nhận quyết định giải quyết tố cáo bởi quyết định này có ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi ích chính đáng của người bị tố cáo.

Được khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm, được phục hồi danh dự, được bồi thường thiệt hại do việc tố cáo không đúng gây ra

Trong trường hợp quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố cáo bị xâm phạm bởi nội dung tố cáo không đúng sự thật thì người này được phục hồi danh dự, được bồi thường thiệt hại theo trình tự do pháp luật quy định.

Việc bồi thường thiệt hại được giải quyết bằng phương pháp hòa giải, thỏa thuận giữa người bị tố cáo và người tố cáo.

Trường hợp hai bên không thỏa thuận được, người bị tố cáo có thể khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết.

Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xử lý người tố cáo sai sự thật.

Khi bị hành vi tố cáo không đúng, người bị tố cáo có quyền yêu cầu cơ quan, cá nhân có thẩm quyền xử lý người tố cáo. Việc xử lý người tố cáo sai sự thật có thể bằng hình thức xử lý hành chính, xử lý kỷ luật, xử lý bằng Tòa án hoặc bằng biện pháp hình sự nếu việc tố cáo đã cấu thành tội vu khống.

3. Nghĩa vụ của người bị tố cáo

Giải trình về hành vi bị tố cáo

Người bị tố cáo cần cung cấp đầy đủ, chính xác các thông tin, tài liệu liên quan khi cơ quan, người có thẩm quyền yêu cầu. Nghĩa vụ này nhằm giúp cho quá trình giải quyết tố cáo được nhanh chóng, hiệu quả.

Chấp hành quyết định giải quyết tố cáo

Khi có quyết định giải quyết tố cáo của cơ quan có thẩm quyền có hiệu lực pháp luật thì người bị tố cáo phải chấp nhận kết quả này và không được quyền tố cáo tiếp.

Bồi thường thiệt hại, bồi hoàn, khắc phục hậu quả do hành vi tố tụng trái pháp luật của mình gây ra.

Trường hợp người bị tố cáo được xác định đã có hành vi vi phạm pháp luật, đã gây ra thiệt hại cho Nhà nước, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức thì người bị tố cáo có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả

Trong trường hợp hành vi vi phạm pháp luật của người bị tố cáo có dấu hiệu của tội phạm thì người bị tố cáo có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm tương ứng.

Con nuôi có được thừa kế di sản của bố mẹ nuôi không?

Việc nhận nuôi con nuôi trong xã hội hiện nay ngày càng phổ biến rộng rãi. Tuy nhiên, sau khi cha mẹ mất xảy ra tranh cãi về thừa kế di sản giữa con nuôi và con đẻ.

Vậy, pháp luật Việt Nam quy định như thế nào về việc chia di sản thừa kế của cha mẹ cho con nuôi? 

Con nuôi được hưởng thừa kế giống như con đẻ?

Con nuôi là người được nhận làm con sau khi đã đăng ký với cơ quan có thẩm quyền và xác lập quan hệ cha, mẹ và con. Con nuôi không có quan hệ huyết thống với cha mẹ nuôi.

Theo quy định tại Điều 78 Luật hôn nhân và gia đình 2014, cha mẹ nuôi và con nuôi có quyền và nghĩa vụ giống như giữa cha mẹ đẻ và con đẻ. Do đó, khi cha mẹ mất, con nuôi cũng thuộc hàng thừa kế thứ nhất và được thừa kế di sản của cha mẹ nuôi theo quy định tại Điều 651 BLDS 2015:

“Hàng thừa kế thứ nhất gồm: Vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết”.

Các điều kiện để con nuôi được nhận di sản từ cha mẹ nuôi

Pháp luật quy định con nuôi được hưởng di sản từ cha mẹ phải là người đã được công nhận là con nuôi hợp pháp.

Các yêu cầu về người nhận con nuôi hợp pháp được quy định tại Điều 14 Luật con nuôi 2010 như sau:

– Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;

– Hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên;

– Có điều kiện về sức khỏe, kinh tế, chỗ ở bảo đảm việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nuôi;

– Có tư cách đạo đức tốt, không thuộc diện những người không được nhận làm con nuôi

Như vậy, người nhận con nuôi phải có đủ các điều kiện theo luật định và phải đăng ký với cơ quan có thẩm quyền về việc nhận con nuôi.

Khi cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận nuôi con nuôi, quan hệ con nuôi với cha mẹ nuôi mới được xác lập, quan hệ thừa kế mới được coi là hợp pháp.

Tranh chấp về lối đi không có sổ đỏ giải quyết như thế nào?

Tranh chấp lối đi là tranh chấp phổ biến trên thực tế, nhất là ở vùng nông thôn. Việc xử lý tranh chấp lối đi rất phức tạp, bởi nhiều trường hợp không có căn cứ để giải quyết. 

Vậy, tranh chấp lối đi nhưng không có Sổ đỏ giải quyết như thế nào? 

1. Tranh chấp lối đi có phải là tranh chấp đất đai không? 

Việc xác định tranh chấp về lối đi có phải là tranh chấp đất đai hay không rất quan trọng. Do đó, tranh chấp về lối đi cần được xem xét theo hai trường hợp sau:

1.1. Tranh chấp về quyền mở lối đi ra

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 254 BLDS 2015 và Khoản 1 Điều 171 Luật đất đai 2013, chủ bất động sản ở phía trong (bất động sản bị vây bọc) mà không có lối đi hoặc không đủ lối đi ra đường công cộng thì có quyền yêu cầu chủ bất động sản ở phía ngoài (bất động sản vây bọc) dành cho mình một lối đi hợp lý trên phần đất của họ.

Các bên thỏa thuận về vị trí, giới hạn chiều dài, chiều rộng, chiều cao của lối đi, bảo đảm thuận tiện cho việc đi lại và ít gây phiền hà cho các bên; nếu có tranh chấp về lối đi thì có quyền yêu cầu Tòa án nhân dân, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác xác định.

Như vậy, ranh chấp về quyền mở lối đi qua giữa chủ bất động sản bị vây bọc với chủ bất động sản vây bọc là tranh chấp dân sự. Nếu đương sự lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp là khởi kiện thì có quyền khởi kiện luôn tại Tòa án.

1.2. Tranh chấp về lối đi do hành vi lấn, chiếm đất giữa những người sử dụng đất liền kề

Tùy từng trường hợp cụ thể để xác định khi nào là tranh chấp đất đai nhưng hầu hết các vụ việc xảy ra do hành vi lấn, chiếm đất giữa những người sử dụng đất liền kề trên thực tế là tranh chấp đất đai.

Căn cứ khoản 24 Điều 3 Luật Đất đai 2013 và khoản 2 Điều 3 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP, tranh chấp về lối đi do hành vi lấn, chiếm giữa những người sử dụng đất liền được xác định là tranh chấp đất đai (tranh chấp trong việc xác định ai là người có quyền sử dụng đất).

2. Phương thức giải quyết tranh chấp lối đi không có sổ đỏ

2.1. Giải quyết tranh chấp về quyền mở lối đi ra

Có nhiều phương phức giải quyết tranh chấp như thương lượng, hòa giải, khởi kiện. Tuy nhiên, khởi kiện là phương thức có hiệu quả nhất.

Tranh chấp về quyền mở lối đi ra là tranh chấp dân sự nên được giải quyết theo thủ tục giải quyết vụ án dân sự, bao gồm các bước cơ bản như sau: 

Bước 1: Nộp đơn khởi kiện

Bước 2: Tiếp nhận và thụ lý đơn

Bước 3: Chuẩn bị xét xử sơ thẩm

Bước 4: Xét xử sơ thẩm

2.2. Giải quyết tranh chấp về lối đi do hành vi lấn, chiếm đất giữa những người sử dụng đất liền kề

  • Hòa giải: Hai bên có xảy ra tranh chấp sẽ mời bên thứ ba hòa giải. Người đứng ra hòa giải thường là trưởng thôn, trưởng ấp, tổ trưởng tổ dân phố, công chức địa chính hoặc đại diện Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất.
  • Khởi kiện ra tòa án hoặc đề nghị Ủy ban nhân dân có thẩm quyền giải quyết: các bên tranh chấp phải hòa giải bắt buộc tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất (theo khoản 2 Điều 202 Luật Đất đai 2013).

3. Căn cứ giải quyết tranh chấp về lối đi không có sổ đỏ

Khoản 1 Điều 91 Nghị định 43/2014/NĐ-CP quy định tranh chấp đất đai trong trường hợp các bên tranh chấp không có Giấy chứng nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 Luật Đất đai 2013 và Điều 18 Nghị định 43/2014/NĐ-CP thì việc giải quyết tranh chấp được thực hiện dựa theo các căn cứ sau:

– Chứng cứ về nguồn gốc và quá trình sử dụng đất do các bên tranh chấp đưa ra.

– Thực tế diện tích đất mà các bên tranh chấp đất đai đang sử dụng ngoài diện tích đất đang có tranh chấp và bình quân diện tích đất cho 01 nhân khẩu tại địa phương.

– Sự phù hợp của hiện trạng sử dụng thửa đất đang có tranh chấp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.

– Chính sách ưu đãi người có công của Nhà nước.

– Quy định pháp luật về giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất.

Tranh chấp nhãn hiệu giải quyết như thế nào?

Trong thời kì nền kinh tế phát triển mạnh mẽ như hiện nay, tranh chấp nhãn hiệu là điều không thể tránh khỏi. Vậy tranh chấp về nhãn hiệu sẽ được giải quyết như thế nào?

1. Hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu

Căn cứ theo khoản 1 Điều 129 Luật sở hữu trí tuệ số 50/2005/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2005 quy định các hành vi thực hiện mà không được phép chủ sở hữu nhãn hiệu thì bị coi là xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu:

+ Sử dụng dấu hiệu trùng với nhãn hiệu được bảo hộ cho hàng hoá, dịch vụ trùng với hàng hoá, dịch vụ thuộc danh mục đăng ký kèm theo nhãn hiệu đó;

+ Sử dụng dấu hiệu trùng với nhãn hiệu được bảo hộ cho hàng hoá, dịch vụ tương tự hoặc liên quan tới hàng hoá, dịch vụ thuộc danh mục đăng ký kèm theo nhãn hiệu đó, nếu việc sử dụng có khả năng gây nhầm lẫn về nguồn gốc hàng hoá, dịch vụ;

+ Sử dụng dấu hiệu tương tự với nhãn hiệu được bảo hộ cho hàng hoá, dịch vụ trùng, tương tự hoặc liên quan tới hàng hoá, dịch vụ thuộc danh mục đăng ký kèm theo nhãn hiệu đó, nếu việc sử dụng có khả năng gây nhầm lẫn về nguồn gốc hàng hoá, dịch vụ;

+ Sử dụng dấu hiệu trùng hoặc tương tự với nhãn hiệu nổi tiếng hoặc dấu hiệu dưới dạng dịch nghĩa, phiên âm từ nhãn hiệu nổi tiếng cho hàng hoá, dịch vụ bất kỳ, kể cả hàng hoá, dịch vụ không trùng, không tương tự và không liên quan tới hàng hoá, dịch vụ thuộc danh mục hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu nổi tiếng, nếu việc sử dụng có khả năng gây nhầm lẫn về nguồn gốc hàng hoá hoặc gây ấn tượng sai lệch về mối quan hệ giữa người sử dụng dấu hiệu đó với chủ sở hữu nhãn hiệu nổi tiếng.

2. Giải quyết tranh chấp nhãn hiệu như thế nào?

Tranh chấp nhãn hiệu là sự xung đột về quyền và lợi ích giữa hai hay nhiều bên liên quan đến một hoặc nhiều nhãn hiệu đã được đăng ký bảo hộ, trong đó các bên cho rằng nhãn hiệu thuộc quyền sở hữu của mình và việc sử dụng nhãn hiệu của bên kia đã làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ. 

Tranh chấp nhãn hiệu có 2 phương án giải quyết như sau:

2.1. Phương thức hòa giải, thương lượng

Đây là phương thức giải quyết đơn giản, hiệu quả, nhanh chóng và ít tốn kém chi phí nhất. Các bên có thể thương lượng với nhau, đưa ra những bằng chứng chứng minh mình có quyền sở hữu đối với nhãn hiệu trước. 

Nếu như một bên đồng ý, công nhận quyền sở hữu nhãn hiệu thuộc về bên kia thì việc thương lượng thành công. Các bên tranh chấp có thể bảo vệ uy tín, bảo vệ bí mật kinh doanh của doanh nghiệp mình.

2.2. Phương thức khởi kiện ra Tòa án

Nếu như hai bên không thể thương lượng hòa giải thì bên bị xâm phạm có quyền khởi kiện bên xâm phạm ra Tòa án theo luật tố tụng dân sự. Hồ sơ chuẩn bị cần có các tài liệu như sau:

+ Đơn khởi kiện;

+ Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu; giấy tờ chứng minh quyền sở hữu nhãn hiệu hoặc quyền sử dụng hợp pháp nhãn hiệu (Bản sao chứng thực);

+ Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp nếu Chủ sở hữu là doanh nghiệp;

+ CMND/CCCD/Hộ chiếu nếu Chủ sở hữu là cá nhân;

+ Chứng cứ chứng minh hành vi vi phạm: Mẫu sản phẩm mang nhãn hiệu của doanh nghiệp; mẫu sản phẩm của Bên vi phạm nhãn hiệu; tài liệu chứng minh dấu hiệu vi phạm nhãn hiệu của Bên vi phạm;

+ Thông tin bên vi phạm: Tên doanh nghiệp, địa chỉ, thông tin liên hệ (Nếu có);

+ Thông báo yêu cầu Bên vi phạm chấm dứt hành vi, trong đó ấn định thời gian yêu cầu Bên vi phạm chấm dứt hành vi; chứng cứ chứng minh Bên vi phạm cố tình không thực hiện (Bản sao chứng thực);

+ Chứng cứ chứng minh sự cần thiết phải yêu cầu áp dụng biện pháp ngăn chặn (Nếu có).

Vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng có phải đi tù không?

Khi nào hành vi chống trả, đáp lại sự tấn công của người khác được coi là phòng vệ chính đáng? Vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng sẽ phải chịu trách nhiệm gì?

1. Phòng vệ chính đáng là gì?

Theo quy định tại Điều 22 BLHS:

“Phòng vệ chính đáng là hành vi của người vì bảo vệ quyền hoặc lợi ích chính đáng của mình, của người khác hoặc lợi ích của Nhà nước, của cơ quan, tổ chức mà chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên”.

Người có hành vi phòng vệ chính đáng không bị coi là tội phạm.

“Vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng là hành vi chống trả rõ ràng quá mức cần thiết, không phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi xâm hại”.

Người có hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của BLHS 2015.

2. Các điều kiện để được coi là phòng vệ chính đáng

Một là, hành vi xâm hại những lợi ích cần phải bảo vệ là hành vi phạm tội hoặc rõ ràng có tính chất nguy hiểm cho xã hội.

Hai là, hành vi nguy hiểm cho xã hội đang gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại thực sự và ngay tức khắc cho những lợi ích cần phải bảo vệ.

Ba là, phòng vệ chính đáng không chỉ gạt bỏ sự đe dọa, đẩy lùi sự tấn công, mà còn có thể tích cực chống lại sự xâm hại, gây thiệt hại cho chính người xâm hại.

Bốn là, hành vi phòng vệ phải tương xứng với hành vi xâm hại, tức là không có sự chênh lệch quá đáng giữa hành vi phòng vệ với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi xâm hại.

Hành vi được coi là phòng vệ chính đáng phải đáp ứng đủ 4 yếu tố trên.

Nếu hành vi chống trả quá mức cần thiết, không phù hợp với tính chất nguy hiểm cho xã hội thì được coi là vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng.

3. Trách nhiệm khi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng

Người vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 136 BLHS 2015:

“Điều 136. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội

  1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội, thì bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.
  2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm:
  3. a) Đối với 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%;
  4. b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên.
  5. Phạm tội dẫn đến chết người hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 03 năm.”

Làm thế nào để đòi lại nhà đất cho ở nhờ đúng luật?

Trên thực tế, có nhiều gia đình thường cho người thân ở nhờ nhưng lại không có văn bản thỏa thuận ngay từ đầu. Vậy khi xảy ra tranh chấp, làm thế nào để chủ sở hữu lấy lại được nhà?

1. Cho ở nhờ hay cho mượn nhà đất là gì? 

Cho ở nhờ hay cho mượn nhà đất là việc một người có nhà đất cho người khác mượn hay ở nhờ trên nhà đất mà người đó làm chủ.

Người ở nhờ được quyền sử dụng nhà đất đó trong một thời hạn mà không phải trả tiền cho người chủ.

2. Đòi lại nhà đất cho ở nhờ bằng cách nào?

Chủ nhà không có thỏa thuận hay hợp đồng với người mượn, ở nhờ thì lấy lại nhà bằng 2 cách sau:

2.1. Thông báo thỏa thuận về việc đòi nhà cho bên ở nhờ biết

Điều 499 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về quyền của bên cho mượn tài sản như sau:

  1. Đòi lại tài sản ngay sau khi bên mượn đạt được mục đích nếu không có thoả thuận về thời hạn mượn; nếu bên cho mượn có nhu cầu đột xuất và cấp bách cần sử dụng tài sản cho mượn thì được đòi lại tài sản đó mặc dù bên mượn chưa đạt được mục đích, nhưng phải báo trước một thời gian hợp lý.
  2. Đòi lại tài sản khi bên mượn sử dụng không đúng mục đích, công dụng, không đúng cách thức đã thoả thuận hoặc cho người khác mượn lại mà không có sự đồng ý của bên cho mượn.
  3. Yêu cầu bồi thường thiệt hại đối với tài sản do bên mượn gây ra.

Vậy khi muốn đòi lai nhà cho mượn, chủ nhà phải thông báo trước một khoảng thời gian hợp lý để bên mượn biết và sắp xếp chỗ ở mới.

Về hình thức, chủ nhà có thể tùy chọn cách thức thông báo như lời nói, văn bản, tin nhắn, email,…

Thậm chí, có thể đòi lại nhà ngay tức khắc mà không cần bên mượn đồng ý nếu người đó sử dụng nhà không đúng mục đích như thỏa thuận ban đầu: cho người khác ở nhờ mà không được chủ nhà đồng ý, mượn nhà nhưng không phải để ở,…

Nếu hai bên vẫn không thỏa thuận được, chủ nhà có quyền khởi kiện ra Tòa án để đòi lại nhà đất.

2.2. Khởi kiện đòi lại nhà đất cho ở nhờ tại Tòa án

Thủ tục dưới đây áp dụng đối với tranh chấp giữa hộ gia đình, cá nhân trong nước với nhau.

Bước 1: Chuẩn bị hồ sơ khởi kiện

– Đơn khởi kiện  

– Tài liệu, giấy tờ chứng minh yêu cầu khởi kiện như: Giấy chứng nhận (Sổ đỏ, Sổ hồng), hợp đồng, văn bản cho mượn nhà (nếu có),…

– Bản sao giấy tờ tùy thân – Căn cước công dân/Chứng minh nhân dân.

Bước 2: Nộp hồ sơ khởi kiện

Địa điểm nộp hồ sơ: Nộp tại Tòa án nhân dân cấp huyện nơi bị đơn cư trú, làm việc (điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015).

Các phương thức nộp quy định tại khoản 1 Điều 190 Bộ Luật Tố tụng Dân sự 2015:

  1. a) Nộp trực tiếp tại Tòa án;
  2. b) Gửi trực tuyến bằng hình thức điện tử qua Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có);
  3. c) Gửi đến Tòa án theo đường dịch vụ bưu chính.

Bước 3: Tòa án tiếp nhận và thụ lý

– Tòa án ra thông báo nộp tạm ứng án phí.

– Người khởi kiện nộp tạm ứng án phí tại chi cục thi hành án cấp huyện theo giấy báo và mang biên lai nộp lại cho Tòa.

– Tòa thụ lý.

Bước 4: Chuẩn bị xét xử sơ thẩm

Bước 5: Xét xử sơ thẩm

Nếu không thuộc trường hợp hòa giải thành, tạm đình chỉ hoặc đình chỉ vụ án, Thẩm phán sẽ quyết định đưa vụ án ra xét xử.

Sau khi tiến hành các hoạt động nêu trên, các phán quyết cuối cùng được Tòa án đưa ra và mở phiên tòa xét xử vụ án.

Bước 6: Thi hành án

  1. Những lưu ý trong việc cho ở nhờ, cho mượn nhà đất

Nếu đang có ý định cho mượn nhà đất, để tránh rủi ro, những tranh chấp, mâu thuẫn không đáng có, chủ nhà cần lập hợp đồng ghi rõ các nội dung sau:

– Quyền và nghĩa vụ của các bên;

– Thỏa thuận chi tiết kỹ lưỡng về nội dung chủ sở hữu được phép lấy lại nhà ở trong những trường hợp nào;

– Thời hạn cho mượn cho ở nhờ;

– Khi có tranh chấp phát sinh thì hai bên sẽ giải quyết thế nào.

 

0988873883