Điều kiện phạm tội lần đầu trong việc tha tù trước thời hạn

Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 (gọi tắt là BLHS) đã quy định phạm tội lần đầu là một trong các điều kiện để được tha tù trước thời hạn. Nghị quyết số 01/2018/NQ-HĐTP của Tòa án nhân dân tối cao đã hướng dẫn về các trường hợp được coi là phạm tội lần đầu. 

Theo khoản 2 Điều 2 Nghị quyết 01/2018/NQ-HĐTP thì được coi là phạm tội lần đầu và có thể xem xét nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

  • Trước đó chưa phạm tội lần nào;
  • Trước đó đã thực hiện hành vi phạm tội nhưng được miễn trách nhiệm hình sự;
  • Trước đó đã thực hiện hành vi phạm tội nhưng được áp dụng biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng;
  • Trước đó đã bị kết án nhưng thuộc trường hợp được coi là không có án tích.

Trong đó:

Miễn trách nhiệm hình sự là các trường hợp vì những lý do đáng được khoan hồng đặc biệt, mặc dù Tòa án kết tội nhưng trong bản án kết tội lại tuyên miễn hình phạt đối với người phạm tội thì trách nhiệm hình sự mà người phạm tội phải chịu chỉ giới hạn ở phạm vi bị kết tội. Các căn cứ miễn trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 29 BLHS.

Áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng là biện pháp tư pháp do Tòa án quyết định đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, nếu thấy do tính chất nghiêm trọng của hành vi phạm tội, do nhân thân và môi trường sống của người đó mà cần đưa người đó vào một tổ chức giáo dục có kỷ luật chặt chẽ. Thời gian áp dụng biện pháp này là từ 01 năm đến 02 năm.

Không có án tích là các trường hợp gồm: Đương nhiên được xóa án tích; Xóa án tích theo quyết định của Tòa án; Xóa án tích trong trường hợp đặc biệt. Ngoài ra, người bị kết án do lỗi vô ý về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và người được miễn hình phạt không bị coi là có án tích.

10 tội phạm chỉ khởi tố hình sự khi có yêu cầu của bị hại

Theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự 2015, khi có dấu hiệu của tội phạm thì sẽ bị khởi tố hình sự. Tuy nhiên vẫn có những trường hợp ngoại lệ mà pháp luật quy định, mặc dù có dấu hiệu của tội phạm nhưng vẫn sẽ không bị khởi tố nếu không có yêu cầu của người bị hại.

1. Tổng hợp 10 tội phạm chỉ khởi tố hình sự khi có yêu cầu của người bị hại

Theo quy định tại Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, cơ quan tiến hành tố tụng chỉ được khởi tố vụ án hình sự khi có yêu cầu của bị hại nếu dấu hiệu tội phạm thuộc quy định tại khoản 1 của các Điều sau đây trong Bộ luật Hình sự:

  • Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác tại khoản 1 Điều 138 BLHS.
  • Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác tại khoản 1 Điều 134 BLHS.
  • Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh tại khoản 1 Điều 135 BLHS.
  • Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội tại khoản 1 Điều 136 BLHS.
  • Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính tại khoản 1 Điều 139 BLHS.
  • Tội hiếp dâm tại khoản 1 Điều 141 BLHS.
  • Tội cưỡng dâm tại khoản 1 Điều 143 BLHS.
  • Tội làm nhục người khác tại khoản 1 Điều 155 BLHS.
  • Tội vu khống tại khoản 1 Điều 156 BLHS.
  • Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp khoản 1 Điều 226 BLHS.

2. Hậu quả pháp lý khi bị hại rút yêu cầu khởi tố

  • Cơ quan điều tra ra quyết định đình chỉ điều tra nếu vụ án đang trong giai đoạn điều tra. Viện kiểm sát ra quyết định không truy tố và ra quyết định đình chỉ vụ án khi vụ án đang trong quá trình truy tố. Thẩm phán chủ tọa phiên tòa ra quyết định đình chỉ vụ án khi vụ án đang trong giai đoạn xét xử.
  • Bị hại phải trả án phí.
  • Bị hại hoặc người đại diện của bị hại đã rút yêu cầu khởi tố thì không có quyền yêu cầu lại, trừ trường hợp rút yêu cầu do bị ép buộc, cưỡng bức.
  • Trường hợp có căn cứ xác định người đã yêu cầu rút yêu cầu khởi tố trái với ý muốn của họ do bị ép buộc, cưỡng bức thì tùy người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án vẫn tiếp tục tiến hành tố tụng đối với vụ án. 

 

Tội mua bán người

Trong những năm gần đây, ở nước ta, hoạt động mua bán người đang diễn ra ngày càng phức tạp. Phương thức và cách thức phạm tội ngày càng tinh vi nhằm trốn tránh các cơ quan chức năng. 

1. Quy định của pháp luật về tội mua bán người

Tội mua bán người được quy định tại Điều 150 BLHS như sau:

Điều 150. Tội mua bán người

1Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, lừa gạt hoặc thủ đoạn khác thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

a) Chuyển giao hoặc tiếp nhận người để giao, nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác;

b) Chuyển giao hoặc tiếp nhận người để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác;

c) Tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp người khác để thực hiện hành vi quy định tại điểm a hoặc điểm b khoản này.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 08 năm đến 15 năm:

a) Có tổ chức;

b) Vì động cơ đê hèn;

c) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%, nếu không thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 3 Điều này;

d) Đưa nạn nhân ra khỏi biên giới của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

đ) Đối với từ 02 người đến 05 người;

e) Phạm tội 02 lần trở lên.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm:

a) Có tính chất chuyên nghiệp;

b) Đã lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân;

c) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

d) Làm nạn nhân chết hoặc tự sát;

đ) Đối với 06 người trở lên;

e) Tái phạm nguy hiểm.

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đng, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.

2. Các yếu tố cấu thành tội phạm

2.1. Khách thể của tội phạm

Tội phạm mua bán người xâm phạm nhân phẩm và danh dự, xâm phạm quyền con người được pháp luật bảo vệ. Con người bị xem như một hàng hóa được mua, bán hoặc giao dịch vì lợi nhuận hoặc các mục đích khác.

2.2. Mặt khách quan của tội phạm

Mặt khách quan của tội phạm mua bán người có các dấu hiệu như: Hành vi nguy hiểm cho xã hội, hậu quả nguy hiểm cho xã hội do hành vi đó gây ra, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả, thời gian và địa điểm, phương tiện và công cụ phạm tội.

Tội phạm mua bán người sử dụng các phương pháp và thủ đoạn tinh vi, đa dạng và ngày càng phức tạp như nhóm, các đường dây liên kết chặt chẽ, không chỉ trong khu vực mà thậm chí trên cả nước. Hành vi tuyển dụng, vận chuyển, chứa chấp và chuyển tiếp người trong các vụ buôn bán người có thể được thực hiện bởi một người nhưng cũng có thể được thực hiện bởi nhiều người. Những người thực hiện trong vai trò xúi giục, tổ chức, xúi giục hoặc giúp đỡ những người thực hiện hành vi buôn người đều là những kẻ đồng lõa với nạn buôn người.

2.3. Chủ thể của tội phạm

Chủ thể của tội phạm buôn bán người là một người cụ thể thực hiện các hành vi nguy hiểm cho xã hội một cách cố ý hoặc vô ý, một người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi hợp pháp.

2.4. Mặt chủ quan của tội phạm

Mặt chủ quan của tội phạm là lỗi, động cơ và mục đích của nó, trong đó lỗi là dấu hiệu bắt buộc của mọi tội phạm, dù là cố ý hay vô ý. Lỗi là thái độ tâm lý của người phạm tội đối với các hành vi nguy hiểm cho xã hội và hậu quả của nó. Khía cạnh chủ quan của buôn bán là lỗi cố ý. Đây là một hình thức tội phạm, vì vậy hậu quả của một tội phạm, người phạm tội có thể nhìn thấy trước hoặc không thấy trước.

  • Lỗi cố ý trực tiếp là khi người phạm tội thực hiện một hành vi giao dịch, trao đổi người khác và nhận thức được hành vi của mình và mong muốn rằng hành động đó xảy ra.
  • Lỗi cố ý gián tiếp là khi người phạm tội thực hiện hành vi giao dịch, trao đổi người khác và có ý thức để hành động đó diễn ra.

Động cơ và mục đích không phải là dấu hiệu bắt buộc của tội phạm mua bán người trái phép này.

 

Sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm phải ngồi tù bao nhiêu năm?

Trẻ em là đối tượng được xã hội đặc biệt cần được chăm sóc, bảo vệ, mọi hành vi lạm dụng trẻ em đều sẽ bị xã hội lên án. Do đó, Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 (gọi tắt là BLHS) trên cơ sở kế thừa và phát huy những quy định cũ, lần đầu tiên đã quy định việc sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm là tội phạm và người có hành vi này sẽ phải chịu TNHS.

1. Chủ thể, hành vi của tội phạm

-Về chủ thể, theo quy định tại Điều 147 của BLHS, chủ thể của tội phạm là người từ đủ 18 tuổi trở lên, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và không phân biệt giới tính là nam hay nữ. Cũng giống như tội hiếp dâm, so với Bộ luật hình sự năm 1999 chỉ cho rằng chủ thể của tội hiếp dâm chỉ là nam thì đến BLHS 2015, chủ thể của các tội như hiếp dâm hay sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm đều có thể là nam hoặc nữ. 

Người bị phạm tội của tội phạm mà pháp luật yêu cầu phải dưới 16 tuổi.

-Về hành vi, người phạm tội thực hiện các hành vi đưa, sắp xếp, tổ chức và dùng người dưới 16 tuổi để thực hiện các hoạt động khiêu dâm. Khiêu dâm hiện nay chưa được hướng dẫn cụ thể bởi chưa có văn bản hướng dẫn của Hội đồng thẩm phán TANDTC nhưng dựa trên góc độ xã hội, đây có thể hiểu là việc dùng các động tác, cử chỉ, hành động cơ thể, lời nói khêu gợi, kích dục trên cơ thể người.

2. Về khung hình phạt

Người thực hiện tội sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm sẽ phải chịu hình phạt tù từ 06 tháng 03 năm theo quy định tại khoản 1 Điều 147 BLHS. 

Ngoài ra nếu xác định người phạm tội có tình tiết định khung tăng nặng: Phạm tội có tổ chức; phạm tội 2 lần trở lên; đối với 2 người trở lên; có mục đích thương mại; gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 11% đến 45% hoặc tái phạm nguy hiểm thì có thể bị phạt từ 03 đến 07 năm.

Phạm tội thuộc các trường hợp: gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân 46% trở lên hoặc làm nạn nhân tự sát thì bị phạt tù 07 đến 12 năm.

 “Điều 147. Tội sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm

1. Người nào đủ 18 tuổi trở lên mà lôi kéo, dụ dỗ, ép buộc người dưới 16 tuổi trình diễn khiêu dâm hoặc trực tiếp chng kiến việc trình diễn khiêu dâm dưới mọi hình thức, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:

a) Phạm tội có tổ chức;

b) Phạm tội 02 lần trở lên;

c) Đối với 02 người trở lên;

d) Đối với người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh;

đ) Có mục đích thương mại;

e) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;

g) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 12 năm:

a) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

b) Làm nạn nhân tự sát.

4. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”.

Quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình và tổ chức phát sóng

Nhà sản xuất xuất bản ghi âm, ghi hình là người định hình lần đầu âm thanh, hình ảnh của cuộc biểu diễn hoặc của các tác phẩm khác nên họ được hưởng các quyền đối với kết quả lao động do họ tạo ra. 

1. Quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình

Theo quy định tại Điều 30 Luật sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi bổ sung năm 2009, 2019 (gọi tắt là LSHTT), nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình có độc quyền thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện các quyền sau đây:các quyền sau đây:

  • Sao chép trực tiếp hoặc gián tiếp bản ghi âm, ghi hình của mình;
  • Nhập khẩu, phân phối đến công chúng bản gốc và bản sao bản ghi âm, ghi hình của mình thông qua hình thức bán, cho thuê hoặc phân phối bằng bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào mà công chúng có thể tiếp cận được.
  • Được hưởng quyền lợi vật chất khi bản ghi âm, ghi hình của mình được phân phối đến công chúng.

2. Quyền của tổ chức phát sóng

Quyền của tổ chức phát sóng được quy định tại Điều 31 LSHTT. Theo đó, tổ chức phát sóng có độc quyền thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện các quyền sau đây:

  • Phát sóng, tái phát sóng chương trình phát sóng của mình;
  • Phân phối đến công chúng chương trình phát sóng của mình;
  • Định hình chương trình phát sóng của mình;
  • Sao chép bản định hình chương trình phát sóng của mình.
  • Được hưởng quyền lợi vật chất khi chương trình phát sóng của mình được ghi âm, ghi hình, phân phối đến công chúng.

 

Quyền của người biểu diễn

Người biểu diễn là người sử dụng tác phẩm của người khác một cách sáng tạo trong sự thể hiện các tác phẩm văn học nghệ thuật. Do đó, Luật sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi bổ sung năm 2015, 2019 gọi tắt là LSHTT) trên cơ sở kế thừa và phát triển vẫn quy định người biểu diễn được bảo hộ. Bài viết làm rõ những quyền của người biểu diễn theo LSHTT.

1. Quyền của người biểu diễn

Người biểu diễn đồng thời là chủ đầu tư thì có các quyền nhân thân và các quyền tài sản đối với cuộc biểu diễn; trong trường hợp người biểu diễn không đồng thời là chủ đầu tư thì người biểu diễn có các quyền nhân thân và chủ đầu tư có các quyền tài sản đối với cuộc biểu diễn.

1.1. Quyền nhân thân

Quyền nhân thân bao gồm các quyền sau đây:

  • Được giới thiệu tên khi biểu diễn, khi phát hành bản ghi âm, ghi hình, phát sóng cuộc biểu diễn;
  • Bảo vệ sự toàn vẹn hình tượng biểu diễn, không cho người khác sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của người biểu diễn.

1.2.  Quyền tài sản

 Quyền tài sản bao gồm độc quyền thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện các quyền sau đây:

  • Định hình cuộc biểu diễn trực tiếp của mình trên bản ghi âm, ghi hình;
  • Sao chép trực tiếp hoặc gián tiếp cuộc biểu diễn của mình đã được định hình trên bản ghi âm, ghi hình. Quyền sao chép trực tiếp cuộc biểu diễn đã được định hình trên bản ghi âm, ghi hình là quyền của chủ sở hữu cuộc biểu diễn độc quyền thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện việc tạo ra các bản sao khác từ bản ghi âm, ghi hình đó. Quyền sao chép gián tiếp cuộc biểu diễn đã được định hình trên bản ghi âm, ghi hình là quyền của chủ sở hữu cuộc biểu diễn độc quyền thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện việc tạo ra các bản sao khác không từ bản ghi âm, ghi hình đó như việc sao chép từ chương trình phát sóng, mạng thông tin điện tử, viễn thông và các hình thức tương tự khác (theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 29 Nghị định 22/2018/NĐ-CP).
  • Phát sóng hoặc truyền theo cách khác đến công chúng cuộc biểu diễn của mình chưa được định hình mà công chúng có thể tiếp cận được, trừ trường hợp cuộc biểu diễn đó nhằm mục đích phát sóng.  Quyền truyền theo cách khác đến công chúng cuộc biểu diễn chưa được định hình là quyền của chủ sở hữu cuộc biểu diễn độc quyền thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện việc phổ biến cuộc biểu diễn chưa được định hình đến công chúng bng bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào ngoài phát sóng (khoản 3 Nghị định 22/2018/NĐ-CP).
  • Phân phối đến công chúng bản gốc và bản sao cuộc biểu diễn của mình thông qua hình thức bán, cho thuê hoặc phân phối bằng bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào mà công chúng có thể tiếp cận được.

Tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng các quyền tài sản trên phải trả tiền thù lao cho người biểu diễn theo quy định của pháp luật hoặc theo thỏa thuận trong trường hợp pháp luật không quy định.

2. Thời hạn bảo hộ

Quyền của người biểu diễn được bảo hộ năm mươi năm tính từ năm tiếp theo năm cuộc biểu diễn được định hình, chấm dứt vào thời điểm 24 giờ ngày 31 tháng 12 của năm chấm dứt thời hạn bảo hộ các quyền liên quan.

 

Hành vi xâm phạm quyền tác giả

Quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu. Pháp luật bảo vệ quyền tác giả bằng cách liệt kê các hành vi được coi là xâm phạm quyền tác giả tại Điều 28 Luật sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi bổ sung 2009, 2019 (gọi tắt là LSHTT).

Theo đó, có 16 hành vi được xem là xâm phạm quyền tác giả như sau:

  • Chiếm đoạt quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học.
  • Mạo danh tác giả.
  • Công bố, phân phối tác phẩm mà không được phép của tác giả.
  • Công bố, phân phối tác phẩm có đồng tác giả mà không được phép của đồng tác giả đó.
  • Sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả.
  • Sao chép tác phẩm mà không được phép của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, trừ trường hợp tự sao chép một bản nhằm mục đích nghiên cứu khoa học, giảng dạy của cá nhân hoặc sao chép tác phẩm để lưu trữ trong thư viện với mục đích nghiên cứu.
  • Làm tác phẩm phái sinh mà không được phép của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm được dùng để làm tác phẩm phái sinh, trừ trường hợp chuyển tác phẩm sang chữ nổi hoặc ngôn ngữ khác cho người khiếm thị.
  • Sử dụng tác phẩm mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả, không trả tiền nhuận bút, thù lao, quyền lợi vật chất khác theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 25 của LSHTT.
  • Cho thuê tác phẩm mà không trả tiền nhuận bút, thù lao và quyền lợi vật chất khác cho tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả.
  • Nhân bản, sản xuất bản sao, phân phối, trưng bày hoặc truyền đạt tác phẩm đến công chúng qua mạng truyền thông và các phương tiện kỹ thuật số mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả.
  • Xuất bản tác phẩm mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả.
  • Cố ý hủy bỏ hoặc làm vô hiệu các biện pháp kỹ thuật do chủ sở hữu quyền tác giả thực hiện để bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm của mình.
  • Cố ý xóa, thay đổi thông tin quản lý quyền dưới hình thức điện tử có trong tác phẩm.
  • Sản xuất, lắp ráp, biến đổi, phân phối, nhập khẩu, xuất khẩu, bán hoặc cho thuê thiết bị khi biết hoặc có cơ sở để biết thiết bị đó làm vô hiệu các biện pháp kỹ thuật do chủ sở hữu quyền tác giả thực hiện để bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm của mình.
  • Làm và bán tác phẩm mà chữ ký của tác giả bị giả mạo.
  • Xuất khẩu, nhập khẩu, phân phối bản sao tác phẩm mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả.

Các cá nhân, tổ chức khi thực hiện hành vi xâm phạm quyền tác giả có thể sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính, dân sự hoặc nếu nghiêm trọng có thể sẽ phải chịu TNHS.

 

Thời hạn bảo hộ quyền tác giả

Quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu. Luật sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi bổ sung 2009, 2019 (gọi tắt là LSHTT) quy định thời hạn bảo hộ quyền tác giả nhằm bảo vệ tối đa các quyền và lợi ích hợp pháp của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả. Bài viết làm rõ về thời hạn bảo hộ quyền tác giả.

Thời hạn bảo hộ quyền tác giả được quy định tại Điều 27 LSHTT. Theo đó, các quy định về thời hạn bảo hộ như sau:

1.Bảo hộ vô thời hạn

Các quyền được pháp luật bảo hộ vô thời hạn là các quyền nhân thân gắn liền với tác giả. Đây là các quyền không thể chuyển dịch, bao gồm:

  • Quyền đặt tên cho tác phẩm;
  • Quyền đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm, được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng,
  • Quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, không cho người khác sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kì hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả.

2. Bảo hộ có thời hạn

Các quyền đối với tác phẩm được pháp luật bảo hộ có thời hạn bao gồm quyền nhân thân có thể chuyển dịch (quyền công bố hoặc cho người khác công bố tác phẩm) và các quyền tài sản. Theo quy định tại Điều 27 LSHTT có hai cách tính thời hạn bảo hộ quyền tác giả:

  • Tác phẩm điện ảnh, nhiếp ảnh, mỹ thuật ứng dụng, tác phẩm khuyết danh có thời hạn bảo hộ là bảy mươi lăm năm, kể từ khi tác phẩm được công bố lần đầu tiên; đối với tác phẩm điện ảnh, nhiếp ảnh, mỹ thuật ứng dụng chưa được công bố trong thời hạn hai mươi lăm năm, kể từ khi tác phẩm được định hình thì thời hạn bảo hộ là một trăm năm, kể từ khi tác phẩm được định hình; đối với tác phẩm khuyết danh, khi các thông tin về tác giả xuất hiện thì thời hạn bảo hộ được tính theo quy định tại điểm b khoản này;
  • Tác phẩm không thuộc loại hình quy định tại điểm a khoản này có thời hạn bảo hộ là suốt cuộc đời tác giả và năm mươi năm tiếp theo năm tác giả chết; trường hợp tác phẩm có đồng tác giả thì thời hạn bảo hộ chấm dứt vào năm thứ năm mươi sau năm đồng tác giả cuối cùng chết;

Việc pháp luật quy định về bảo hộ quyền tác giả năm mươi năm sau khi tác giả chết nhằm xác định quyền để lại thừa kế của tác giả đối với tác phẩm cho những người thừa kế của họ. Vì vậy, khi tác giả chết quyền tác giả cũng là loại di sản thừa kế và được chuyển dịch theo quy định của pháp luật thừa kế.

 Thời hạn bảo hộ theo quy định nêu trên chấm dứt vào thời điểm 24 giờ ngày 31 tháng 12 của năm chấm dứt thời hạn bảo hộ quyền tác giả. 

Các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao

Bên cạnh việc có những trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút thù lao thì tại Điều 26 Luật sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi bổ sung 2009, 2019 (gọi tắt là LSHTT) cũng quy định các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao. 

Theo đó, các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao bao gồm:

– Tổ chức phát sóng sử dụng tác phẩm đã công bố để thực hiện chương trình phát sóng có tài trợ, quảng cáo hoặc thu tiền dưới bất kỳ hình thức nào không phải xin phép nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao cho chủ sở hữu quyền tác giả theo quy định của Chính phủ.

– Tổ chức, cá nhân sử dụng tác phẩm trên không được làm ảnh hưởng đến việc khai thác bình thường tác phẩm, không gây phương hại đến các quyền của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả; phải thông tin về tên tác giả và nguồn gốc, xuất xứ của tác phẩm.

– Việc sử dụng tác phẩm trong các trường hợp trên không áp dụng đối với tác phẩm điện ảnh.

Trên đây là quan điểm tư vấn của chúng tôi đối với vấn đề mà bạn đang thắc mắc.

Các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao

Theo quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ, khi một cá nhân, tổ chức khai thác, sử dụng một phần hoặc toàn bộ tác phẩm thì phải xin phép và trả tiền nhuận bút, thù lao cho người sở hữu quyền tác giả. Tuy nhiên, trong một số trường hợp nhất định thì các tổ chức, cá nhân lại có thể sử dụng tác phẩm đã công bố mà không phải xin phép cũng như không phải trả tiền nhuận bút, thù lao cho chủ quyền tác giả.

Các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao được quy định tại khoản 1 Điều 25 Luật sở hữu trí tuệ bao gồm:

  • Tự sao chép một bản nhằm mục đích nghiên cứu khoa học, giảng dạy của cá nhân;
  • Trích dẫn hợp lý tác phẩm mà không làm sai ý tác giả để bình luận hoặc minh họa trong tác phẩm của mình;
  • Trích dẫn tác phẩm mà không làm sai ý tác giả để viết báo, dùng trong ấn phẩm định kỳ, trong chương trình phát thanh, truyền hình, phim tài liệu;
  • Trích dẫn tác phẩm để giảng dạy trong nhà trường mà không làm sai ý tác giả, không nhằm mục đích thương mại;
  • Sao chép tác phẩm để lưu trữ trong thư viện với mục đích nghiên cứu;
  • Biểu diễn tác phẩm sân khấu, loại hình biểu diễn nghệ thuật khác trong các buổi sinh hoạt văn hóa, tuyên truyền cổ động không thu tiền dưới bất kỳ hình thức nào;
  • Ghi âm, ghi hình trực tiếp buổi biểu diễn để đưa tin thời sự hoặc để giảng dạy;
  • Chụp ảnh, truyền hình tác phẩm tạo hình, kiến trúc, nhiếp ảnh, mỹ thuật ứng dụng được trưng bày tại nơi công cộng nhằm giới thiệu hình ảnh của tác phẩm đó;
  • Chuyển tác phẩm sang chữ nổi hoặc ngôn ngữ khác cho người khiếm thị;
  • Nhập khẩu bản sao tác phẩm của người khác để sử dụng riêng.

Tuy nhiên luật cũng quy định các tổ chức, cá nhân khi sử dụng các tác phẩm trên không được làm ảnh hưởng đến việc khai thác bình thường tác phẩm, không gây phương hại đến các quyền của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả; phải thông tin về tên tác giả và nguồn gốc, xuất xứ của tác phẩm.

Ngoài ra việc tự sao chép một bản nhằm mục đích nghiên cứu khoa học, giảng dạy của cá nhân và sao chép tác phẩm để lưu trữ trong thư viện với mục đích nghiên cứu không được áp dụng đối với tác phẩm kiến trúc, tác phẩm tạo hình, chương trình máy tính.

0988873883