Quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian

Tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian là sáng tạo tập thể trên nền tảng truyền thống của một nhóm hoặc các cá nhân nhằm phản ánh khát vọng của cộng đồng, thể hiện tương xứng đặc điểm văn hóa và xã hội của họ, các tiêu chuẩn và giá trị được lưu truyền bằng cách mô phỏng hoặc bằng cách khác. Bài viết phân tích quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian.

Theo khoản 1 Điều 23 Luật sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi bổ sung 2009, 2019 (gọi tắt là LSHTT), các tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian bao gồm:

  • Truyện, thơ, câu đố;
  • Điệu hát, làn điệu âm nhạc;
  • Điệu múa, vở diễn, nghi lễ và các trò chơi;
  • Sản phẩm nghệ thuật đồ họa, hội họa, điêu khắc, nhạc cụ, hình mẫu kiến trúc và các loại hình nghệ thuật khác được thể hiện dưới bất kỳ hình thức vật chất nào.

-Theo hướng dẫn tại Điều 18 Nghị định số 22/2018/NĐ-CP thì truyện, thơ, câu đố là các loại hình nghệ thuật ngôn từ; Điệu hát, làn điệu âm nhạc, Điệu múa, vở diễn, nghi lễ và các trò chơi là các loại hình nghệ thuật biểu diễn như chèo, tuồng, cải lương, múa rối, điệu hát, làn điệu âm nhạc; điệu múa, vở diễn, trò chơi dân gian, hội làng, các hình thức nghi lễ dân gian.

-Truyện, thơ, câu đố, Điệu hát, làn điệu âm nhạc; Điệu múa, vở diễn, nghi lễ và các trò chơi được bảo hộ không phụ thuộc vào việc định hình.

-Tổ chức, cá nhân khi sử dụng tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian phải dẫn chiếu xuất xứ của loại hình tác phẩm đó và bảo đảm giữ gìn giá trị đích thực của tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian. Sử dụng tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian là việc sưu tm, nghiên cứu, biểu diễn, giới thiệu giá trị đích thực của tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian. Dẫn chiếu xuất xứ loại hình tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian là việc chỉ ra nguồn gốc, địa danh của cộng đồng cư dân nơi tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian được hình thành.

Quyền tác giả đối với chương trình máy tính, sưu tập dữ liệu

Sự phát triển bùng nổ của thời đại công nghệ đã thúc đầy sự phát triển nghiên cứu sáng tạo, đặc biệt là trong công nghệ thông tin với các chương trình máy tính, sưu tập dữ liệu. Trong sở hữu trí tuệ, đây là đối tượng được bảo bộ quyền tác giả. Bài viết làm rõ quyền tác giả đối với hai đối tượng trên.

1. Chương trình máy tính; sưu tập dữ liệu là gì?

Theo Điều 22 Luật sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi bổ sung năm 2009, 2019 (gọi tắt là LSHTT) thì chương trình máy tính là tập hợp các chỉ dẫn được thể hiện dưới dạng các lệnh, các mã, lược đồ hoặc bất kỳ dạng nào khác, khi gắn vào một phương tiện mà máy tính đọc được, có khả năng làm cho máy tính thực hiện được một công việc hoặc đạt được một kết quả cụ thể.
Chương trình máy tính được bảo hộ như tác phẩm văn học, dù được thể hiện dưới dạng mã nguồn hay mã máy.

 Sưu tập dữ liệu là tập hợp có tính sáng tạo thể hiện ở sự tuyển chọn, sắp xếp các tư liệu dưới dạng điện tử hoặc dạng khác.
Việc bảo hộ quyền tác giả đối với sưu tập dữ liệu không bao hàm chính các tư liệu đó, không gây phương hại đến quyền tác giả của chính tư liệu đó.

2. Quyền tác giả đối với chương trình máy tính; sưu tập dữ liệu

Quyền tác giả đối với chương trình máy tính đã được hướng dẫn tại Điều 17 Nghị định 22/2018/NĐ-CP, cụ thể là:

– Tác giả chương trình máy tính  được hưởng các quyền nhân thân quy định tại Điều 19 của Luật sở hữu trí tuệ và các quyền tài sản quy định tại Điều 20 của Luật sở hữu trí tuệ.

– Tác giả không đồng thời là chủ sở hữu quyền tác giả được hưởng các quyn nhân thân quy định tại các khoản 1, 2 và khoản 4 Điều 19 của Luật sở hữu trí tuệ; chủ sở hữu quyền tác giả được hưởng các quyền quy định tại khoản 3 Điều 19 và Điều 20 của Luật sở hữu trí tuệ.

– Tác giả và tổ chức, cá nhân đầu tư tài chính và cơ sở vật chất – kỹ thuật để sáng tạo chương trình máy tính có thể thỏa thuận về việc sửa chữa, nâng cấp chương trình máy tính.

– Tổ chức, cá nhân có quyền sử dụng hợp pháp bản sao chương trình máy tính có thể làm một bản sao dự phòng, để thay thế khi bản sao đó bị mất, bị hư hỏng hoặc không thể sử dụng được.

Quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh, tác phẩm sân khấu

Cũng giống như bất kỳ một tác phẩm văn học nào khác thì tác phẩm điện ảnh, tác phẩm sân khấu cũng thuộc phạm vi bảo hộ quyền tác giả và được luật sở hữu trí tuệ bảo vệ. Bài viết làm rõ quyền tác giả đối với các loại tác phẩm trên.

1. Quyền tác giả đối với tác phẩm sân khấu

Theo điểm đ khoản 1 Điều 14 Luật Sở hữu Trí tuệ năm 2005, sửa đổi, bổ sung năm 2009, 2019 (gọi tắt là LSHTT)  thì tác phẩm sân khấu được bảo hộ quyền tác giả. Theo quy định tại khoản 1 Điều 11 Nghị định 22/2018/NĐ-CP thì: “Tác phẩm sân khấu quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 14 của Luật sở hữu trí tuệ là tác phẩm thuộc loại hình nghệ thuật biểu diễn, bao gồm: Chèo, tuồng, cải lương, múa rối, kịch nói, kịch dân ca, kịch hình thể, nhạc kịch, xiếc, tấu hài, tạp kỹ và các loại hình nghệ thuật biểu diễn khác.”. Như vậy tác phẩm sân khấu được bảo hộ quyền tác giả bao gồm các tác phẩm sau đây:

  • Chèo;
  •  Tuồng;
  • Cải lương;
  • Múa rối;
  • Kịch nói;
  • Kịch dân ca;
  • Kịch hình thể;
  • Nhạc kịch;
  • Xiếc;
  • Tấu hài;
  • Tạp kỹ;
  • Các loại hình nghệ thuật biểu diễn khác.

-Tác phẩm sân khấu được sáng tạo bởi các tác giả quy định tại khoản 1 Điều 21 LSHTT bao gồm: Người làm công việc đạo diễn, biên kịch, quay phim, dựng phim, sáng tác âm nhạc, thiết kế mỹ thuật, thiết kế âm thanh, ánh sáng, mỹ thuật trường quay, thiết kế đạo cụ, kỹ xảo và các công việc khác có tính sáng tạo đối với tác phẩm điện ảnh.

– Tác giả của các tác phẩm sân khấu được hưởng các quyền nhân thân theo quy định tại Điều 19 và các quyền tài sản theo Điều 20 LSHTT.

-Tác giả không đồng thời là chủ sở hữu quyền tác giả được hưng các quyn nhân thân quy định tại các khoản 1, 2 và khoản 4 Điều 19 của Luật sở hữu trí tuệ; chủ sở hữu quyền tác giả được hưởng các quyền quy định tại khoản 3 Điều 19 và Điều 20 của Luật sở hữu trí tuệ.

– Tác giả và tổ chức, cá nhân đầu tư tài chính và cơ sở vật chất – kỹ thuật để sáng tạo tác phẩm có thể thỏa thuận về việc sửa chữa tác phẩm.

2. Quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh

Theo điểm e khoản 1 Điều 14 LSHTT thì tác phẩm điện ảnh và tác phẩm được tạo ra theo phương pháp tương tự (sau đây gọi chung là tác phẩm điện ảnh) được bảo hộ quyền tác giả. Theo quy định tại khoản 1 Điều 12 Nghị định 22/2018/NĐ-CP thì: “Tác phẩm điện ảnh và tác phẩm được tạo ra theo phương pháp tương tự quy định tại điểm e khoản 1 Điều 14 của Luật sở hữu trí tuệ là tác phẩm được thể hiện bằng hình ảnh động kết hợp hoặc không kết hợp với âm thanh và các phương tiện khác theo nguyên tắc của ngôn ngữ điện ảnh. Hình ảnh tĩnh được lấy ra từ một tác phẩm điện ảnh là một phần của tác phẩm điện ảnh đó.”

Tác phẩm điện ảnh được sáng tạo bởi các tác giả quy định tại khoản 1 Điều 21 LSHTT bao gồm: Người làm công việc đạo diễn, biên kịch, quay phim, dựng phim, sáng tác âm nhạc, thiết kế mỹ thuật, thiết kế âm thanh, ánh sáng, mỹ thuật trường quay, thiết kế đạo cụ, kỹ xảo và các công việc khác có tính sáng tạo đối với tác phẩm điện ảnh.

Tác giả được hưởng các quyền nhân thân quy định tại Điều 19 và các quyền tài sản quy định tại Điều 20 của Luật sở hữu trí tuệ.

– Tác giả không đồng thời là chủ sở hữu quyền tác giả được hưởng các quyn nhân thân quy định tại các khoản 1, 2 và khoản 4 Điều 19 của Luật sở hữu trí tuệ; chủ sở hữu quyền tác giả được hưởng các quyền quy định tại khoản 3 Điều 19 và Điều 20 của Luật sở hữu trí tuệ.

– Tác giả và tổ chức, cá nhân đầu tư tài chính và cơ sở vật chất – kỹ thuật để sáng tạo tác phẩm có thể thỏa thuận về việc sửa chữa tác phẩm.

Nội dung của quyền tác giả

Tác giả là người trực tiếp sáng tạo ra một phần hoặc toàn bộ tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học, luôn song hành với tác giả là tác phẩm. Đối với một tác phẩm có thể chỉ có một tác giả hoặc có đồng tác giả. Bài viết làm rõ nội dung của quyền tác giả.

1.Tác giả, quyền tác giả là gì?

Tác giả là người trực tiếp sáng tạo ra một phần hoặc toàn bộ tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học, luôn song hành với tác giả là tác phẩm. Đối với một tác phẩm có thể chỉ có một tác giả hoặc có đồng tác giả. 

Quyền tác giả được giải thích tại khoản 2 Điều 4 Luật sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi bổ sung năm 2009, năm 2019 (gọi tắt là LSHTT) là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu.

2. Nội dung quyền tác giả

Theo quy định tại Điều 18 LSHTT thì quyền tác giả đối với tác phaamt bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản.

2.1. Quyền nhân thân

Quyền nhân thân bao gồm các quyền sau đây:

  • Đặt tên cho tác phẩm;
  • Đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm; được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng;
  • Công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm;
  • Bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, không cho người khác sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả”.

2.2. Quyền tài sản

Quyền tài sản bao gồm các quyền sau đây:

  • Làm tác phẩm phái sinh;
  • Biểu diễn tác phẩm trước công chúng;
  • Sao chép tác phẩm;
  • Phân phối, nhập khẩu bản gốc hoặc bản sao tác phẩm;
  • Truyền đạt tác phẩm đến công chúng bằng phương tiện hữu tuyến, vô tuyến, mạng thông tin điện tử hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào khác;
  •  Cho thuê bản gốc hoặc bản sao tác phẩm điện ảnh, chương trình máy tính.

3. Đối tượng được đăng ký bảo hộ quyền tác giả 

Khoản 1 Điều 14 LSHTT quy định các tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học được bảo hộ bao gồm:

  • Tác phẩm văn học, khoa học, sách giáo khoa, giáo trình và tác phẩm khác được thể hiện dưới dạng chữ viết hoặc ký tự khác;
  • Bài giảng, bài phát biểu và bài nói khác;
  • Tác phẩm báo chí;
  • Tác phẩm âm nhạc;
  • Tác phẩm sân khấu;
  • Tác phẩm điện ảnh và tác phẩm được tạo ra theo phương pháp tương tự (sau đây gọi chung là tác phẩm điện ảnh);
  • Tác phẩm tạo hình, mỹ thuật ứng dụng;
  • Tác phẩm nhiếp ảnh;
  • Tác phẩm kiến trúc;
  • Bản họa đồ, sơ đồ, bản đồ, bản vẽ liên quan đến địa hình, kiến trúc, công trình khoa học;
  • Tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian;
  • Chương trình máy tính, sưu tập dữ liệu.

Xét xử trực tuyến trong thời điểm dịch Covid-19 kéo dài

Trước diễn biến phức tạp của dịch bệnh Covid-19, Tòa án nhân dân tối cao đã chủ trương mở các phiên tòa, phiên họp xét xử trực tuyến.

Tuy nhiên, ở Việt Nam, xét xử trực tuyến là vấn đề mới, pháp luật hiện hành chưa có quy định về hình thức xét xử trực tuyến và cách thức tổ chức phiên tòa xét xử trực tuyến; việc xét xử liên quan đến nhiều quy định của pháp luật tố tụng hiện hành, tác động đến quyền và nghĩa vụ hợp pháp của tổ chức, cá nhân. 

Theo dự thảo quy chế, các phiên tòa, phiên họp trực tuyến phải tuân theo trình tự, thủ tục tố tụng; đảm bảo an toàn thông tin nhưng công khai, bình đẳng, giữ tôn nghiêm. Phạm vi các phiên tòa, phiên họp trực tuyến được áp dụng xét xử sơ thẩm đối với vụ án hình sự mà bị cáo bị đưa ra xét xử về tội ít nghiêm trọng, nghiêm trọng hoặc rất nghiêm trọng, chứng cứ rõ ràng và bị cáo đang bị tạm giam hoặc chấp hành án tại cơ sở giam giữ; xét xử phúc thẩm đối với vụ án hình sự mà bị cáo bị tòa án cấp sơ thẩm kết án về tội ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng.
Đối với các vụ án dân sự, hành chính cũng được áp dụng xét xử trực tuyến khi thuộc một trong các trường hợp sau: vụ án có tình tiết đơn giản, quan hệ pháp luật rõ ràng, các đương sự có địa chỉ nơi cư trú, trụ sở rõ ràng; phiên họp giải quyết sơ thẩm, phúc thẩm đối với việc dân sự…
Trong dự thảo quy chế, TAND tối cao quy định không áp dụng phiên xử trực tuyến đối với các vụ án, vụ việc liên quan tài sản ở nước ngoài; thuộc trường hợp xử kín hoặc những vụ hình sự liên quan nhóm xâm phạm an ninh quốc gia; các vụ án liên quan chiến đấu, phục vụ chiến đấu của quân đội; các vụ trong nhóm tội chống lại loài người.
Một phiên tòa xét xử trực tuyến tại TAND TP Hải Phòng.
Điều kiện xét xử trực tuyến gồm: bị cáo, trại tạm giam trong vụ hình sự hoặc đương sự trong các vụ việc hành chính, dân sự có đơn yêu cầu và được viện kiểm sát đồng ý. Về hình thức, trình tự của phiên tòa, thủ tục phiên tòa, phiên họp trực tuyến thực hiện như phiên tòa, phiên họp thông thường theo quy định của bộ luật Tố tụng hình sự, bộ luật Tố tụng dân sự, luật Tố tụng hành chính.
TAND tối cao dự kiến, phiên xử trực tuyến sẽ gồm một điểm cầu trung tâm cùng các điểm cầu tham gia nhưng không quá 3 điểm tham gia với vụ hình sự hoặc không quá 5 điểm với các vụ dân sự, hành chính.
Địa điểm những nơi này phải được ghi trong biên bản phiên tòa. Tại điểm cầu trung tâm sẽ có mặt hội đồng xét xử, kiểm sát viên và có thể có bị hại, đương sự, luật sư, người tham gia tố tụng khác (làm chứng, phiên dịch, giám định…). Các cá nhân, cơ quan, tổ chức được theo dõi tại đây nếu phiên tòa công khai.
Các điểm cầu tham gia vụ án hình sự sẽ bao gồm bị cáo, người bào chữa, cảnh sát của nơi giam giữ. Trong vụ án dân sự, hành chính, điểm cầu tham gia sẽ do đương sự lựa chọn và có thành phần gồm đương sự, luật sư. Người tham gia bào chữa, bảo vệ được quyền trao đổi trực tuyến với bị cáo, bị hại, đương sự nhưng phải được chủ tọa đồng ý.
Khi tham gia tố tụng trực tuyến, đương sự có thể đưa thêm chứng cứ bằng cách sao chụp, gửi cho hội đồng xét xử hoặc chủ tọa. Riêng bị cáo phải nhờ cảnh sát tại nơi giam giữ sao chụp, gửi hộ và tòa án sẽ xác định tư cách của cảnh sát này là người tham gia tố tụng khác.
Điểm đáng lưu ý nhất đối với hình thức xét xử trực tuyến này là phải được ghi âm, ghi hình dạng dữ liệu điện tử. Nếu mất kết nối khi phiên tòa đang diễn ra, chủ tọa phải cho tạm dừng làm việc và quyết định lần tiếp theo sẽ xét xử trực tuyến hay thông thường.
Từ việc hướng dẫn mô hình xét xử trực tuyến vụ án hình sự, trên cơ sở thực tiễn triển khai, có thể từng bước áp dụng đối với các phiên tòa xét xử các vụ án dân sự, hành chính và vụ án khác, phù hợp với xu thế phát triển trên thế giới, đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của Tòa án, bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, các tổ chức và cá nhân.

Dịch bệnh COVID-19 có phải là sự kiện bất khả kháng hay không?

Đại dịch Covid-19 xuất hiện từ cuối năm 2019 tại thành phố Vũ Hán, tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc cho đến nay đã lây lan ra hầu hết các quốc gia trên thế giới, bao gồm cả Việt Nam đã gây ra những hậu quả vô cùng to lớn kể cả người và kinh tế. Cho đến nay, dịch Covid-19 vẫn còn đang hoành hành tại Việt Nam khiến cho nhiều chủ doanh nghiệp phải phá sản, ảnh hưởng đến việc thực hiện hợp đồng. Bài viết dưới đây phân tích liệu dịch bệnh Covid-19 có phải là sự kiện bất khả kháng để loại trừ trách nhiệm dân sự hay không.

1. Sự kiện bất khả kháng

Theo quy định tại khoản 1 Điều 156 Bộ luật dân sự 2015 (BLDS), “Sự kiện bất khả kháng là sự kiện xảy ra một cách khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép”. Do đó, sự kiện bất khả kháng dẫn đến hậu quả pháp lý là việc các bên không thực hiện được đúng nghĩa vụ của hợp đồng và trường hợp này sẽ không phải chịu trách nhiệm dân sự, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác (Điều 351 BLDS).

Như vậy, được xem là sự kiện bất khả kháng khi có đủ 03 yếu tố sau đây:

  • Sự kiện xảy ra một cách khách quan;
  • Xảy ra sự kiện không thể lường trước được; 
  • Không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép.

2. Dịch Covid-19 có phải là sự kiện bất khả kháng?

Dịch covid-19 bắt nguồn từ thành phố Vũ Hán, tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc và cho đến thời điểm hiện tại đã lan nhanh ra hầu hết các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam đã phải chịu những hậu quả nặng nề về người và thiệt hại về kinh tế là vô cùng to lớn.

Đối với dịch Covid-19, khi xem xét kỹ hơn các yếu tố pháp lý dưới đây:
  • Ngày 29/01/2020, tại Quyết định 219/QĐ-BYT, Bộ Y tế Việt Nam đã bổ sung bệnh viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của vi rút Corona gây ra (có tên gọi là Covid-19) vào danh mục các bệnh truyền nhiễm nhóm A. Theo Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm năm 2007 các bệnh truyền nhiễm nhóm A gồm những bệnh truyền nhiễm đặc biệt nguy hiểm, có khả năng lây truyền rất nhanh, phát tán rộng và tỷ lệ tử vong cao hoặc chưa rõ tác nhân gây bệnh. 
  • Ngày 01/02/2020, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 173/QĐ-TTg về việc công bố dịch viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của virut Corona gây ra là dịch truyền nhiễm tại Việt Nam, thời điểm xảy ra dịch là từ ngày 23/01/2020.
  • Ngày 11/3, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã tuyên bố dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp Covid-19 do chủng mới của virus corona (SARS-CoV-2) là một đại dịch toàn cầu.
  • Ngày 27/3/2020, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 15/CT-TTg về quyết liệt thực hiện đợt cao điểm phòng chống dịch Covid-19.
  • Ngày 31/3/2020, Thủ tướng chính phủ ban hành Chỉ thị số 16/CT-TTg về việc thực hiện các biện pháp cấp bách phòng, chống dịch Covid-19, trong đó yêu cầu thực hiện cách ly xã hội trên phạm vi toàn quốc trong thời hạn 15 ngày từ 0 giờ ngày 01/4 đến hết ngày 15/4/2020.
  • Ngày 01/4/2020, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định số 447/QĐ-TTg về việc công bố dịch Covid-19 trên toàn quốc, thời gian xảy ra dịch là từ ngày 23/01/2020.

Có thể nhận thấy, với các sự kiện này thì dịch Covid-19 chính là sự kiện bất khả kháng đối với các bên trong quan hệ hợp đồng.

Mặc dù vậy, để một sự kiện bất khả kháng là căn cứ xem xét miễn trừ trách nhiệm hợp đồng khi thỏa mãn các điều kiện:

Thứ nhất, sự kiện đó gây ảnh hưởng hoặc cản trở trực tiếp đến việc thực hiện hợp đồng của các bên, khiến cho một hoặc các bên vi phạm hợp đồng hoặc không thể thực hiện được hợp đồng. Các doanh nghiệp cần chứng minh dịch covid-19 đã gây ảnh hưởng hoặc cản trở trực tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh của mình, khiến doanh nghiệp vi phạm hoặc không thể thực hiện hợp đồng đã ký với đối tác. Những ảnh hưởng này có thể là trực tiếp (doanh nghiệp phải dừng hoạt động theo Chỉ thị số 16/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ) hoặc gián tiếp (do các doanh nghiệp cung cấp đầu vào phải dừng hoạt động nên doanh nghiệp không có nguyên liệu để sản xuất, hoặc do các đơn vị vận tải không hoạt động được nên doanh nghiệp không thể thực hiện việc giao hàng đúng hạn…). 

Thứ hai, các bên đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép nhưng không thể khắc phục được tác động của sự kiện bất khả kháng đó. Doanh nghiệp có thể viện dẫn lý do buộc phải tạm dừng các hoạt động và thực hiện cách ly xã hội theo Chỉ thị số 15/CT-TTg ngày 27/3/2020 và số 16/CT-TTg ngày 31/3/2020 của Thủ tướng Chính phủ. Ngoài ra, đối với các hợp đồng xuất nhập khẩu, doanh nghiệp xuất nhập khẩu còn có thể viện dẫn lý do phải thực hiện các lệnh cấm hoặc các biện pháp phòng chống dịch được ban bố bởi các nước liên quan. 

3. Miễn thực hiện nghĩa vụ theo Hợp đồng do ảnh hưởng của dịch Covid-19

Theo quy định tại khoản 2 Điều 351 BLDS, “trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện đúng nghĩa vụ do sự kiện bất khả kháng thì không phải chịu trách nhiệm dân sự, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác”. Theo quy định tại khoản 1 Điều 351 BLDS, trách nhiệm dân sự được hiểu là trách nhiệm phát sinh do bên có nghĩa vụ vi phạm nghĩa vụ đối với bên có quyền. 

Như vậy, đối với trường hợp doanh nghiệp vi phạm hợp đồng do bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 thì không phải chịu trách nhiệm do vi phạm hợp đồng với bên bị vi phạm (trừ trường hợp pháp luật có quy định khác hoặc các bên có thỏa thuận khác), nhưng doanh nghiệp sẽ không được miễn thực hiện nghĩa vụ hợp đồng với bên còn lại, trừ trường hợp bên có quyền chủ động miễn, giảm một phần hoặc toàn bộ các nghĩa vụ đó.

Điều kiện bảo hộ quyền liên quan

Quyền liên quan đến quyền tác giả (sau đây gọi là quyền liên quan) là quyền của tổ chức, cá nhân đối với cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa. Bài viết làm rõ các điều kiện bảo hộ quyền liên quan.

1. Tổ chức, cá nhân được bảo hộ quyền liên quan

+ Diễn viên, ca sĩ, nhạc công, vũ công và những người khác trình bày tác phẩm văn học, nghệ thuật (sau đây gọi chung là người biểu diễn).

+ Tổ chức, cá nhân là chủ sở hữu cuộc biểu diễn quy định tại khoản 1 Điều 44 của LSHTT.

+ Tổ chức, cá nhân định hình lần đầu âm thanh, hình ảnh của cuộc biểu diễn hoặc các âm thanh, hình ảnh khác (sau đây gọi là nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình).

+ Tổ chức khởi xướng và thực hiện việc phát sóng (sau đây gọi là tổ chức phát sóng).

2. Các đối tượng quyền liên quan được bảo hộ

2.1. Cuộc biểu diễn được bảo hộ nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

+ Cuộc biểu diễn do công dân Việt Nam thực hiện tại Việt Nam hoặc nước ngoài;

+ Cuộc biểu diễn do người nước ngoài thực hiện tại Việt Nam;

+ Cuộc biểu diễn được định hình trên bản ghi âm, ghi hình được bảo hộ theo quy định tại Điều 30 của LSHTT;

+ Cuộc biểu diễn chưa được định hình trên bản ghi âm, ghi hình mà đã phát sóng được bảo hộ theo quy định tại Điều 31 của LSHTT;

+ Cuộc biểu diễn được bảo hộ theo điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

2.2. Bản ghi âm, ghi hình được bảo hộ nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

+ Bản ghi âm, ghi hình của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình có quốc tịch Việt Nam;

+ Bản ghi âm, ghi hình của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình được bảo hộ theo điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

2.3. Chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa được bảo hộ nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

+ Chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa của tổ chức phát sóng có quốc tịch Việt Nam;

+ Chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa của tổ chức phát sóng được bảo hộ theo điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

2.4. Cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa chỉ được bảo hộ theo quy định tại các khoản 1, 2 và 3 trên với điều kiện không gây phương hại đến quyền tác giả.

3. Thời hạn bảo hộ quyền liên quan

+ Quyền của người biểu diễn được bảo hộ năm mươi năm tính từ năm tiếp theo năm cuộc biểu diễn được định hình.
+ Quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình được bảo hộ năm mươi năm tính từ năm tiếp theo năm công bố hoặc năm mươi năm kể từ năm tiếp theo năm bản ghi âm, ghi hình được định hình nếu bản ghi âm, ghi hình chưa được công bố.
+ Quyền của tổ chức phát sóng được bảo hộ năm mươi năm tính từ năm tiếp theo năm chương trình phát sóng được thực hiện.

Điều kiện bảo hộ quyền tác giả

Quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu. Đối tượng quyền tác giả bao gồm tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học; đối tượng quyền liên quan đến quyền tác giả bao gồm cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa. Bài viết phân tích điều kiện để bảo hộ quyền tác giả.

1. Tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả có tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả

+ Tổ chức, cá nhân có tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả gồm người trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm và chủ sở hữu quyền tác giả quy định tại các điều từ Điều 37 đến Điều 42 của LSHTT.

+ Tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả quy định gồm tổ chức, cá nhân Việt Nam; tổ chức, cá nhân nước ngoài có tác phẩm được công bố lần đầu tiên tại Việt Nam mà chưa được công bố ở bất kỳ nước nào hoặc được công bố đồng thời tại Việt Nam trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày tác phẩm đó được công bố lần đầu tiên ở nước khác; tổ chức, cá nhân nước ngoài có tác phẩm được bảo hộ tại Việt Nam theo điều ước quốc tế về quyền tác giả mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

2. Các loại hình tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả

2.1. Các tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học được bảo hộ bao gồm:

+ Tác phẩm văn học, khoa học, sách giáo khoa, giáo trình và tác phẩm khác được thể hiện dưới dạng chữ viết hoặc ký tự khác;

+ Bài giảng, bài phát biểu và bài nói khác;

+ Tác phẩm báo chí;

+ Tác phẩm âm nhạc;

+ Tác phẩm sân khấu;

+ Tác phẩm điện ảnh và tác phẩm được tạo ra theo phương pháp tương tự (sau đây gọi chung là tác phẩm điện ảnh);

+ Tác phẩm tạo hình, mỹ thuật ứng dụng;

+ Tác phẩm nhiếp ảnh;

+ Tác phẩm kiến trúc;

+ Bản họa đồ, sơ đồ, bản đồ, bản vẽ liên quan đến địa hình, kiến trúc, công trình khoa học;

+ Tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian;

+ Chương trình máy tính, sưu tập dữ liệu.

2.2. Tác phẩm phái sinh chỉ được bảo hộ theo quy định tại điểm 1 nếu không gây phương hại đến quyền tác giả đối với tác phẩm được dùng để làm tác phẩm phái sinh.

2.3.  Tác phẩm được bảo hộ quy định tại điểm 1 và điểm 2 phải do tác giả trực tiếp sáng tạo bằng lao động trí tuệ của mình mà không sao chép từ tác phẩm của người khác.

3. Các đối tượng không thuộc phạm vi bảo hộ quyền tác giả

Các đối tượng không thuộc phạm vi bảo hộ quyền tác giả được quy định tại Điều 15 LSHTT bao gồm:

+ Tin tức thời sự thuần tuý đưa tin.

+ Văn bản quy phạm pháp luật, văn bản hành chính, văn bản khác thuộc lĩnh vực tư pháp và bản dịch chính thức của văn bản đó.

+ Quy trình, hệ thống, phương pháp hoạt động, khái niệm, nguyên lý, số liệu.

Quản lý Nhà nước về sở hữu trí tuệ

Quyền sở hữu trí tuệ là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ, bao gồm quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng. Do đó, Nhà nước cần có những quy định chính sách để bảo vệ sở hữu trí tuệ. Bài viết làm rõ quản lý Nhà nước về sở hữu trí tuệ.

1.Chính sách của Nhà nước về sở hữu trí tuệ

Nhà nước đề ra các chính sách để bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ tại Điều 8 Luật sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi bổ sung năm 2009, 2019 (gọi tắt là LSHTT) bao gồm 5 chính sách sau:

+ Công nhận và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ của tổ chức, cá nhân trên cơ sở bảo đảm hài hòa lợi ích của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ với lợi ích công cộng; không bảo hộ các đối tượng sở hữu trí tuệ trái với đạo đức xã hội, trật tự công cộng, có hại cho quốc phòng, an ninh.

+ Khuyến khích, thúc đẩy hoạt động sáng tạo, khai thác tài sản trí tuệ nhằm góp phần phát triển kinh tế – xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân.

+ Hỗ trợ tài chính cho việc nhận chuyển giao, khai thác quyền sở hữu trí tuệ phục vụ lợi ích công cộng; khuyến khích tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài tài trợ cho hoạt động sáng tạo và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ.

+ Ưu tiên đầu tư cho việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, các đối tượng liên quan làm công tác bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và nghiên cứu, ứng dụng khoa học – kỹ thuật về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ.

+ Huy động các nguồn lực của xã hội đầu tư nâng cao năng lực hệ thống bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội và hội nhập kinh tế quốc tế.

2. Nội dung quản lý Nhà nước về sở hữu trí tuệ

Theo Điều 10 LSHTT, quản lý Nhà nước về sở hữu trí tuệ gồm 9 nội dung sau:

+ Xây dựng, chỉ đạo thực hiện chiến lược, chính sách bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ.

+ Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật về sở hữu trí tuệ.

+ Tổ chức bộ máy quản lý về sở hữu trí tuệ; đào tạo, bồi dưỡng cán bộ về sở hữu trí tuệ.

+ Cấp và thực hiện các thủ tục khác liên quan đến Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan, văn bằng bảo hộ các đối tượng sở hữu công nghiệp, Bằng bảo hộ giống cây trồng.

+ Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về sở hữu trí tuệ; giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về sở hữu trí tuệ.

+ Tổ chức hoạt động thông tin, thống kê về sở hữu trí tuệ.

+ Tổ chức, quản lý hoạt động giám định về sở hữu trí tuệ.

+ Giáo dục, tuyên truyền, phổ biến kiến thức, pháp luật về sở hữu trí tuệ.

+ Hợp tác quốc tế về sở hữu trí tuệ.

3. Trách nhiệm quản lý Nhà nước về sở hữu trí tuệ

Trách nhiệm quản lý Nhà nước về sở hữu trí tuệ được quy định tại Điều 11 LSHTT, bao gồm:

+ Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ.

+ Bộ Khoa học và Công nghệ chịu trách nhiệm trước Chính phủ chủ trì, phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thực hiện quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ và thực hiện quản lý nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp.

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện quản lý nhà nước về quyền tác giả và quyền liên quan.

 Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện quản lý nhà nước về quyền đối với giống cây trồng.

+ Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong việc quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ.

+ Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ tại địa phương theo thẩm quyền.

+ Chính phủ quy định cụ thể thẩm quyền, trách nhiệm quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ của Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ủy ban nhân dân các cấp.

Chính sách của Nhà nước về sở hữu trí tuệ

Quyền sở hữu trí tuệ là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ, bao gồm quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng. Nhà nước luôn có chính sách để bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ.

Điều 8 Luật sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi bổ sung 2009, 2019 (gọi tắt là LSHTT) quy định về chính sách của Nhà nước về sở hữu trí tuệ như sau:

Điều 8. Chính sách của Nhà nước về sở hữu trí tuệ

1. Công nhận và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ của tổ chức, cá nhân trên cơ sở bảo đảm hài hòa lợi ích của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ với lợi ích công cộng; không bảo hộ các đối tượng sở hữu trí tuệ trái với đạo đức xã hội, trật tự công cộng, có hại cho quốc phòng, an ninh.

2. Khuyến khích, thúc đẩy hoạt động sáng tạo, khai thác tài sản trí tuệ nhằm góp phần phát triển kinh tế – xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân.

3. Hỗ trợ tài chính cho việc nhận chuyển giao, khai thác quyền sở hữu trí tuệ phục vụ lợi ích công cộng; khuyến khích tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài tài trợ cho hoạt động sáng tạo và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ.

4. Ưu tiên đầu tư cho việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, các đối tượng liên quan làm công tác bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và nghiên cứu, ứng dụng khoa học – kỹ thuật về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ.

5. Huy động các nguồn lực của xã hội đầu tư nâng cao năng lực hệ thống bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội và hội nhập kinh tế quốc tế”.

Trên đây là các nội dung tư vấn về Chính sách của Nhà nước về sở hữu trí tuệ cho Quý bạn đọc/khách hàng tham khảo.

 

0988873883