Giới hạn quyền sở hữu trí tuệ

Quyền sở hữu trí tuệ là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ, bao gồm quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng. Tuy nhiên quyền sở hữu trí tuệ có thể bị giới hạn trong một số trường hợp. Bài viết làm rõ những giới hạn trong quyền sở hữu trí tuệ.

Giới hạn quyền sở hữu trí tuệ được quy định tại Điều 7 Luật sở hữu trí tuệ năm 2005, sửa đổi bổ sung 2009, 2019 (gọi tắt là LSHTT) như sau:

“Điều 7. Giới hạn quyền sở hữu trí tuệ

1. Chủ thể quyền sở hữu trí tuệ chỉ được thực hiện quyền của mình trong phạm vi và thời hạn bảo hộ theo quy định của Luật này.

2. Việc thực hiện quyền sở hữu trí tuệ không được xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác và không được vi phạm các quy định khác của pháp luật có liên quan.

3. Trong trường hợp nhằm bảo đảm mục tiêu quốc phòng, an ninh, dân sinh và các lợi ích khác của Nhà nước, xã hội quy định tại Luật này, Nhà nước có quyền cấm hoặc hạn chế chủ thể quyền sở hữu trí tuệ thực hiện quyền của mình hoặc buộc chủ thể quyền sở hữu trí tuệ phải cho phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng một hoặc một số quyền của mình với những điều kiện phù hợp; việc giới hạn quyền đối với sáng chế thuộc bí mật nhà nước được thực hiện theo quy định của Chính phủ”.

Như vậy, giới hạn quyền sở hữu trí tuệ có thể do các nguyên nhân như sau:

  • Không được vượt quá phạm vi và thời hạn bảo hộ theo quy định của LSHTT.
  • Không được xâm phạm lợi ích Nhà nước, lợi ích công cộng quyền hạn của tổ chức cá nhân, quy định pháp luật có liên quan.
  • Không được xâm phạm quyền sở hữu của Nhà nước, đảm bảo mục tiêu quốc phòng an ninh và các lợi ích gắn liền với điều kiện phát triển của khu vực.

Căn cứ phát sinh, xác lập quyền sở hữu trí tuệ

Quyền sở hữu trí tuệ là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ, bao gồm quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng.

Căn cứ phát sinh, xác lập quyền sở hữu trí tuệ được quy định tại Điều 6 Luật sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi bổ sung 2009, 2019 (gọi tắt là LSHTT), cụ thể:

+ Quyền tác giả: phát sinh kể từ khi tác phẩm được sáng tạo và được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định, không phân biệt nội dung, chất lượng, hình thức, phương tiện, ngôn ngữ, đã công bố hay ch­ưa công bố, đã đăng ký hay ch­ưa đăng ký.

+ Quyền liên quan: phát sinh kể từ khi cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa được định hình hoặc thực hiện mà không gây phương hại đến quyền tác giả.

+ Quyền sở hữu công nghiệp được xác lập như sau:

a) Quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí, nhãn hiệu được xác lập trên cơ sở quyết định cấp văn bằng bảo hộ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo thủ tục đăng ký quy định tại Luật này hoặc công nhận đăng ký quốc tế theo điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

Quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu nổi tiếng được xác lập trên cơ sở sử dụng, không phụ thuộc vào thủ tục đăng ký.

Quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý được xác lập trên cơ sở quyết định cấp văn bằng bảo hộ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo thủ tục đăng ký quy định tại Luật này hoặc theo điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên;

b) Quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại được xác lập trên cơ sở sử dụng hợp pháp tên thương mại đó;

c) Quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh được xác lập trên cơ sở có được một cách hợp pháp bí mật kinh doanh và thực hiện việc bảo mật bí mật kinh doanh đó;

d) Quyền chống cạnh tranh không lành mạnh được xác lập trên cơ sở hoạt động cạnh tranh trong kinh doanh.

+ Quyền đối với giống cây trồng: được xác lập trên cơ sở quyết định cấp Bằng bảo hộ giống cây trồng của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo thủ tục đăng ký quy định tại Luật này.

Như vậy, có thể thấy đối với quyền tác giả, quyền liên quan quyền , quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh, tên thương mại, nhãn hiệu nổi tiếng phát sinh mà không cần đăng ký. Còn quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, chỉ dẫn địa lý, nhãn hiệu, giống cây trồng cần đăng ký mới phát sinh quyền sở hữu trí tuệ.

 

Đối tượng quyền sở hữu trí tuệ

Cùng với nền kinh tế, văn hóa, xã hội đang ngày càng phát triển thì những thành tựu khoa học, nghệ thuật, các công trình nghiên cứu, sáng tạo cũng ngày càng nhiều. Chính vì vậy, Luật sở hữu trí tuệ ra đời như một tất yếu để bảo vệ những thành tựu đó. Tuy nhiên không phải đối tượng nào cũng thuộc quyền sở hữu trí tuệ. Bài viết dưới đây làm rõ những đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ.

Theo khoản 1 Điều 4 Luật sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi bổ sung 2009, 2019 (gọi tắt là LSHTT) quy định về quyền sở hữu trí tuệ là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ, bao gồm quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng. Do đó, khi một cá nhân hay tổ chức có các công trình nghiên cứu sáng tạo, một tác phẩm,… thì được công nhận quyền sở hữu trí tuệ.

Đối tượng quyền sở hữu trí tuệ được quy định tại Điều 3 LSHTT như sau:

Điều 3. Đối tượng quyền sở hữu trí tuệ

1. Đối tượng quyền tác giả bao gồm tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học; đối tượng quyền liên quan đến quyền tác giả bao gồm cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa.

2. Đối tượng quyền sở hữu công nghiệp bao gồm sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, bí mật kinh doanh, nhãn hiệu, tên thương mại và chỉ dẫn địa lý.

3. Đối tượng quyền đối với giống cây trồng là vật liệu nhân giống và vật liệu thu hoạch”.

Như vậy, đối tượng quyền sở hữu trí tuệ gồm ba nhóm sau:

+ Quyền tác giả: bao gồm tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học.

+ Quyền liên quan đến tác giả:

Quyền liên quan đến quyền tác giả bao gồm cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa. Quyền liên quan phát sinh kể từ khi cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa được định hình hoặc thực hiện mà không gây phương hại đến quyền tác giả.

+ Quyền sở hữu công nghiệp:

Quyền sở hữu công nghiệp bao gồm sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, bí mật kinh doanh, nhãn hiệu, tên thương mại và chỉ dẫn địa lý.

+ Quyền đối với giống cây trồng vật liệu nhân giống và vật liệu thu hoạch:

Giống cây trồng được bảo hộ là giống cây trồng được chọn tạo hoặc phát hiện và phát triển, thuộc Danh mục loài cây trồng được Nhà nước bảo hộ do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành, có tính mới, tính khác biệt, tính đồng nhất, tính ổn định và có tên phù hợp.

 

Doanh nghiệp và công ty

Luật doanh nghiệp 2020 được thông qua thay thế cho Luật doanh nghiệp 2014 đã có những thay thế, bổ sung mới nhằm đáp ứng xu thế phát triển của nền kinh tế. Trong Luật doanh nghiệp có những khái niệm khiến người ta hay nhầm lẫn như doanh nghiệp và công ty. Bài viết làm rõ hai thuật ngữ này.

1. Doanh nghiệp

Theo khoản 10 Điều 4 LDN 2020, doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được thành lập hoặc đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh.

Theo LDN 2020, có tất cả 5 hình thức doanh nghiệp, bao gồm:

 Công ty TNHH;

– Công ty cổ phần;

– Công ty hợp danh;

– Doanh nghiệp tư nhân;

– Hộ kinh doanh.

2. Công ty

Công ty không có định nghĩa cụ thể, theo pháp luật doanh nghiệp, có các loại hình công ty sau:

– Công ty TNHH 1 thành viên;

– Công ty TNHH 2 thành viên;

– Công ty cổ phần;

– Công ty hợp danh.

Như vậy công ty có đầy đủ các yếu tố của doanh nghiệp nhưng chỉ là một trong số các loại hình doanh nghiệp, ngoài công ty còn có:

– Hộ kinh doanh;

– Doanh nghiệp tư nhân.

Như vậy, doanh nghiệp và công ty không giống nhau, công ty chỉ là “tập con” của doanh nghiệp. 

3. Xác định khi nào sử dụng từ “công ty” và “doanh nghiệp”

Trong đời sống cũng như trong các hoạt động kinh doanh, việc sử dụng và gọi tên doanh nghiệp hay công ty có thể không quan trọng nhưng cần phải chính xác. Dưới đây là một số trường hợp để sử dụng đúng hai khái niệm này:

Doanh nghiệp Công ty
– Gọi chung cho tất cả các loại hình doanh nghiệp được quy định trong pháp luật doanh nghiệp.

– Gọi theo tính chất của loại hình doanh nghiệp: Doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp xã hội…

Gọi chung cho các loại hình doanh nghiệp, trừ hộ kinh doanh và Doanh nghiệp tư nhân.

 

Những ưu và nhược điểm của mô hình công ty gia đình

Luật doanh nghiệp không quy định về mô hình công ty gia đình bởi thực tế đây không phải là một loại hình doanh nghiệp. Tuy nhiên có thể hiểu công ty gia đình là những công ty được thành lập và hoạt động theo pháp luật doanh nghiệp, thành viên công ty là những người cùng thuộc một gia đình và nắm giữ hầu hết tổng số vốn điều lệ hoặc cổ phần của công ty. 

Công ty gia đình có thể được thành lập dưới dạng hộ kinh doanh, công ty hợp danh, công ty TNHH hai thành viên trở lên hoặc cũng có thể là công ty cổ phần.

1. Ưu điểm 

– Có lợi thế trong việc quản trị công ty bởi các thành viên trong công ty thường có mối quan hệ thân thiết với nhau:

+ Quyền sở hữu và tỷ lệ vốn góp thường tập trung vào một người hoặc một nhóm người trong gia đình nên sẽ hạn chế việc người ngoài tham gia quản lý và điều hành công ty;

+ Việc tổ chức và quản lý công ty được thực hiện linh động, ngoài áp dụng điều lệ công ty thì có thể được giải quyết bởi các nguyên tắc, truyền thống gia đình;

– Các thành viên trong công ty thường có trách nhiệm lớn đối với công việc.

– Quan hệ hợp tác và sự tin tưởng giữa các thành viên trong công ty cao, chặt chẽ. Đây cũng là cơ sở để tạo niềm tin cho các đối tác trong hoạt động kinh doanh.

2. Nhược điểm

– Khó khăn trong việc huy động vốn cũng như các nguồn lực khác ở bên ngoài như: cơ sở vật chất, nhân sự…vì bản chất của công ty gia đình là mô hình quản trị kinh doanh khép kín trong phạm vi gia đình.

– Sự phát triển và tính duy trì của công ty phải phụ thuộc cao vào yếu tố con người. Thông thường các doanh nghiệp muốn duy trì theo mô hình công ty gia đình thì phải có sự kế thừa của thế hệ sau. Những người quản lý sau yêu cầu phải có năng lực và triển vọng để phát triển công ty.

– Sự mâu thuẫn, chia rẽ giữa các thành viên trong gia đình sẽ ảnh hưởng đến việc quản lý và hoạt động kinh doanh của công ty. Một số công ty gia đình tan rã, ngừng hoạt động là do mâu thuẫn nội bộ.

Mặc dù trong những năm gần đây mô hình công ty gia đình xuất hiện ngày càng nhiều nhưng những nhược điểm của nó làm cho thời gian hoạt động không dài. Do đó cần lựa chọn mô hình công ty phù hợp để ổn định và phát triển.

Những thay đổi của Công ty cổ phần theo Luật doanh nghiệp 2020

Luật Doanh nghiệp 2020 (LDN) ra đời thay thế Luật Doanh nghiệp 2014 đã có những thay đổi nhằm phù hợp hơn với tình hình kinh tế cũng như xu thế phát triển của thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Bài viết làm rõ những bổ sung, những điểm mới của Công ty cổ phần từ luật mới so với luật cũ.

1. Quyền và nghĩa vụ của cổ đông

Theo quy định tại khoản 2 Điều 115 LDN thì cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu từ 5% tổng số cổ phần phổ thông trở lên hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn theo quy định tại điều lệ công ty có một số quyền như: Xem xét biên bản, nghị quyết, quyết định, báo cáo tài chính của Hội đồng quản trị (HĐQT),.. thay vì ở mức từ 10% như trước.

Tuy nhiên, quyền đề cử người vào HĐQT, ban kiểm soát vẫn được quy định ở mức từ 10% tổng số cổ phần phổ thông trở lên hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn theo quy định tại điều lệ công ty giống như LDN 2014.

Ngoài ra, Luật mới còn bổ sung bổ sung thêm nghĩa vụ của cổ đông phổ thông (theo khoản 5 Điều 119 LDN 2020), bao gồm:

– Bảo mật các thông tin được công ty cung cấp theo quy định tại điều lệ công ty và pháp luật;

– Chỉ sử dụng thông tin được cung cấp để thực hiện và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình;

– Nghiêm cấm phát tán hoặc sao, gửi thông tin được công ty cung cấp cho tổ chức, cá nhân khác.

2. Không được chào bán cổ phần riêng lẻ qua phương tiện thông tin đại chúng

Khoản 1 Điều 125 LDN 2020 quy định điều kiện chào bán cổ phần riêng lẻ không phải là công ty đại chúng, cụ thể:

– Không chào bán thông qua phương tiện thông tin đại chúng;

 Chào bán cho dưới 100 nhà đầu tư, không kể nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp hoặc chỉ chào bán cho nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp.

Bên cạnh đó, LDN 2020 bổ sung thêm trường hợp cổ đông và người nhận chuyển quyền ưu tiên mua không hết thì số cổ phần còn lại được bán cho người khác theo phương án chào bán cổ phần riêng lẻ với điều kiện không thuận lợi hơn so với điều kiện chào bán cho các cổ đông, trừ trường hợp Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ) có chấp thuận khác.

3. Đổi tên Ban kiểm toán thành Uỷ ban kiểm toán

Theo quy định mới, công ty cổ phần có thể thành lập theo mô hình: ĐHĐCĐ, HĐQT và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc.

Trường hợp này ít nhất 20% số thành viên HĐQT phải là thành viên độc lập và có Ủy ban kiểm toán trực thuộc HĐQT (theo điểm b khoản 1 Điều 137 LDN 2020).

Như vậy so với LDN 2014, Ban kiểm toán đã được đổi tên thành Uỷ ban kiểm toán.

Bên cạnh đó, LDN 2020 cũng quy định chi tiết cơ cấu, chức năng, quyền và nghĩa vụ của Uỷ ban kiểm toán tại Điều 161.

4. Ngưỡng biểu quyết chỉ còn trên 50%

Theo khoản 1 Điều 145 LDN 2020, cuộc họp ĐHĐCĐ được tiến hành khi có số cổ đông dự họp đại diện trên 50% tổng số phiếu biểu quyết; tỷ lệ cụ thể do điều lệ công ty quy định.

Như vậy thay vì con số ít nhất 51% tổng số phiếu biểu quyết tại LDN 2014, nay cổ đông hoặc nhóm cổ đông chỉ cần sở hữu tổng số phiếu biểu quyết là trên 50% thì sẽ có quyền triệu tập cuộc họp và thông qua nghị quyết của ĐHĐCĐ (trừ một số trường hợp quy định tại các khoản 1, 3, 4 và 6 Điều 148 LDN 2020).

5. Biên bản họp ĐHĐCĐ vẫn có hiệu lực nếu chủ toạ và thư ký không ký

Trước đây, điểm i khoản 1 Điều 146 LDN 2014 yêu cầu biên bản họp ĐHĐCĐ phải có chữ ký của chủ toạ và thư ký.

Tuy nhiên, ngoại lệ có trường hợp chủ tọa và thư ký từ chối nhưng biên bản họp ĐHĐCĐ vẫn có hiệu lực, nội dung này được quy định rõ tại điểm i khoản 1 Điều 150 LDN 2020 như sau:

 “1. Cuộc họp Đại hội đồng cổ đông phải được ghi biên bản và có thể ghi âm hoặc ghi và lưu giữ dưới hình thức điện tử khác. Biên bản phải lập bằng tiếng Việt, có thể lập thêm bằng tiếng nước ngoài và có các nội dung chủ yếu sau đây:

i) Họ, tên, chữ ký của chủ tọa và thư ký.

Trường hợp chủ tọa, thư ký từ chối ký biên bản họp thì biên bản này có hiệu lực nếu được tất cả thành viên khác của Hội đồng quản trị tham dự họp ký và có đầy đủ nội dung theo quy định tại khoản này. Biên bàn họp ghi rõ việc chủ tọa, thư ký từ chối ký biên bản họp”.

6. Quyền khởi kiện của cổ đông, nhóm cổ đông

Theo khoản 1 Điều 166 LDN 2020, cổ đông, nhóm cổ đông sở hữu ít nhất 1% tổng số cổ phần phổ thông có quyền tự mình hoặc nhân danh công ty khởi kiện trách nhiệm cá nhân, trách nhiệm liên đới đối với các thành viên HĐQT, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc để yêu cầu hoàn trả lợi ích hoặc bồi thường thiệt hại cho công ty hoặc người khác trong các trường hợp quy định tại điểm a, b, c, d khoản 1 Điều 166 LDN 2020.

So với quy định mới, quy định cũ tại LDN 2014 có phần bị hạn chế hơn khi mà cổ đông, nhóm cổ đông sở hữu ít nhất 1% tổng số cổ phần phổ thông trong thời gian liên tục 06 tháng thì mới có quyền khởi kiện.

7. Tăng thêm quyền hạn cho đại hội đồng cổ đông

Ngoài những quy định cũ, ĐHĐCĐ được tăng thêm một số quyền hạn đáng kể mà LDN 2014 không đề cập đến như:

– Quyết định ngân sách hoặc tổng mức thù lao, thưởng và lợi ích khác cho Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát;

– Phê duyệt quy chế quản trị nội bộ; quy chế hoạt động Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát;

– Phê duyệt danh sách công ty kiểm toán độc lập; quyết định công ty kiểm toán độc lập thực hiện kiểm tra hoạt động của công ty, bãi miễn kiểm toán viên độc lập khi xét thấy cần thiết.

Trên đây là một số thay đổi của Công ty cổ phần của Luật doanh nghiệp 2020 so với Luật doanh nghiệp 2014.

Khi nào mở thừa kế?

Mở thừa kế chỉ được thực hiện khi người để lại di sản chết. Trường hợp không có di chúc, di chúc không hợp pháp hoặc di chúc không phát sinh được hiệu lực pháp luật, thì việc chuyển giao tài sản sẽ thực hiện theo pháp luật. Trong trường hợp có tranh chấp về chia tài sản thừa kế thì người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.

1. Về thời điểm mở thừa kế

Điều 611 BLDS 2015 quy định:

Thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết. Trường hợp Tòa án tuyên bố một người là đã chết, thì thời điểm mở thừa kế là ngày mà Tòa án xác định người đó đã chết. Nếu không xác định được chính xác ngày chết của người đó thì ngày bản án tuyên bố một người đã chết có hiệu lực pháp luật được coi là ngày mà người đó chết.

Địa điểm mở thừa kế là nơi cư trú cuối cùng của người để lại di sản; nếu không xác định được nơi cư trú cuối cùng thì địa điểm mở thừa kế là nơi có toàn bộ di sản hoặc nơi có phần lớn di sản”.

Việc xác định thời điểm, địa điểm mở thừa kế là yêu cầu đầu tiên của quan hệ thừa kế và đóng vai trò rất quan trọng. Vì tại thời điểm và địa điểm này sẽ xác định được người thừa kế của người chết, di sản mà người chết để lại, xác định Tòa án có thẩm quyền thụ lý, nơi thực hiện nghĩa vụ cũng như thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế.

Đồng thời, việc xác định chính xác địa điểm mở thừa kế còn có ý nghĩa khi xác định việc từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 620 BLDS 2015 có hợp pháp hay không.

Kể từ thời điểm mở thừa kế, những người thừa kế có các quyền, nghĩa vụ tài sản do người chết để lại.

2. Thời hiệu thừa kế

Theo quy định tại Điều 623 BLDS:

“1.Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế. Hết thời hạn này thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó. Trường hợp không có người thừa kế đang quản lý di sản thì di sản được giải quyết như sau:

a) Di sản thuộc quyền sở hữu của người đang chiếm hữu theo quy định tại Điều 236 của Bộ luật này;

b) Di sản thuộc về Nhà nước, nếu không có người chiếm hữu quy định tại điểm a khoản này.

2. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.

3. Thời hiệu yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là 03 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế”.

Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế. Thời hiệu yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là 03 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.

Trong thời hiệu yêu cầu chia di sản, trường hợp đã chia tài sản thừa kế mà tìm thấy di chúc thì phải chia lại theo di chúc nếu người thừa kế theo di chúc yêu cầu.

Phân biệt di chúc vô hiệu và di chúc không có hiệu lực

STT

Tiêu chí

Di chúc vô hiệu

Di chúc không có hiệu lực

1

Căn cứ

Điều 630 Bộ luật Dân sự 2015 Điều 643 Bộ luật Dân sự 2015

2

Định nghĩa

Là bản di chúc không đáp ứng các điều kiện có hiệu lực, hợp pháp theo quy định. Là bản di chúc hợp pháp nhưng thuộc các trường hợp khiến di chúc không có hiệu lực.

3

Trường hợp

– Người lập di chúc không minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc;

– Người lập di chúc bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép;

– Nội dung di chúc vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội;

– Hình thức di chúc trái quy định của pháp luật;

– Di chúc của người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi không được lập thành văn bản, không được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc;

– Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ không được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực;

– Di chúc miệng không được thể hiện trước ít nhất 02 người làm chứng, người làm chứng không ghi chép lại, ký tên hoặc điểm chỉ và trong 05 ngày không được chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng.

Di chúc không có hiệu lực toàn bộ hoặc một phần:

+ Người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc;

+ Cơ quan, tổ chức được chỉ định là người thừa kế không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế;

– Di chúc không có hiệu lực khi di sản để lại cho người thừa kế không còn vào thời điểm mở thừa kế.

Xác định phạm vi 3 đời để kết hôn

Theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình 2014, người có họ trong phạm vi ba đời được xác định là những người có cùng một gốc sinh ra. Do có cùng nguồn gốc sinh ra nên pháp luật cấm những người trong phạm vi ba đời kết hôn với nhau. 

Ba đời được xác định cụ thể như sau:

– Đời thứ nhất: Cha mẹ

– Đời thứ hai: Anh, chị, em cùng cha mẹ, cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha

– Đời thứ ba: anh, chị, em con chú, con bác, con cô, con cậu, con dì.

Trong đó, những người có cùng dòng máu về trực hệ là những người có quan hệ huyết thống, trong đó người này sinh ra người kia kế tiếp nhau.
Căn cứ vào quy định trên, có thể hiểu, đời thứ nhất sinh ra đời thứ hai, đời thứ hai sinh ra đời thứ ba.

Do đó, xét về mặt tình cảm, những người trong phạm vi ba đời có quan hệ huyết thống rất gần nhau. Xét về mặt pháp luật, Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 cấm các hành vi kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa:

– Những người cùng dòng máu về trực hệ;

– Những người có họ trong phạm vi ba đời;

Như vậy, cách xác định phạm vi 3 đời để kết hôn đóng vai trò vô cùng quan trọng.

Kết hôn trong phạm vi 3 đời bị phạt thế nào?

Theo quy định tại Điều 48 Nghị định 110/2013/NĐ-CP thì hành vi kết hôn với người có quan hệ trong phạm vi 3 đời sẽ bị phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng.

Ngoài ra, những người sau đây cũng không được phép kết hôn với nhau:

– Giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; 

– Giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi;

– Giữa cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể; 

– Giữa cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng;

Ly rồi rồi vẫn được hưởng thừa kế từ chồng cũ?

Một người có quyền để lại tài sản của mình cho người khác thông qua việc lập di chúc. Nếu không có di chúc thì khi người đó chết đi, phần tài sản thuộc sở hữu của họ sẽ được chia theo pháp luật. Nhưng nếu đã ly hôn thì còn được hưởng thừa kế từ chồng cũ nữa không, bài viết làm rõ các trường hợp khi ly hôn rồi vợ vẫn được hưởng thừa kế từ chồng cũ. 

Theo đó, thời điểm mở thừa kế là thời điểm người để lại di sản thừa kế chết và di sản thừa kế của người đó bao gồm:

– Tài sản riêng của người đó;

– Phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác;

Một người sẽ được nhận thừa kế từ người khác nếu thỏa mãn các điều kiện sau đây:

– Trong di chúc người chết để lại một phần hoặc toàn bộ tài sản cho người đó

– Thuộc một trong các hàng thừa kế của người để lại di sản:

+ Hàng thừa kế thứ nhất: Vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết

+ Hàng thừa kế thứ hai: Ông bà nội, ông bà ngoại, anh chị em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

+ Hàng thừa kế thứ ba: Cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại. 

Lưu ý: Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau. Nếu hàng thừa kế trước đó không còn người được hưởng di sản thừa kế (do từ chối nhận di sản thừa kế, bị truất quyền hưởng di sản thừa kế…) thì người ở hàng thừa kế sau sẽ được hưởng.

Quy định chi tiết được thể hiện tại Điều 651 Bộ luật dân sự 2015.

03 trường hợp vợ cũ được hưởng di sản thừa kế từ chồng

Khi đang hoặc đã ly hôn, người vợ vẫn có thể được hưởng di sản thừa kế từ chồng cũ khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

1. Khi đang tiến hành thủ tục ly hôn

Điều 655 Bộ luật dân sự 2015 quy định, khi một trong hai người chết trong thời gian hai vợ chồng đang tiến hành thủ tục ly hôn và bản án hoặc quyết định ly hôn của Tòa chưa có hiệu lực pháp luật thì người còn sống vẫn được hưởng thừa kế.

Lúc này, quan hệ hôn nhân giữa vợ chồng vẫn còn tồn tại. Bởi lẽ, Điều 57 Luật hôn nhân và gia đình 2014 nêu rõ:

“Quan hệ hôn nhân chỉ chấm dứt vào ngày bản án, quyết định ly hôn của Tòa án có hiệu lực pháp luật”.

Do đó, người vợ vẫn được hưởng di sản thừa kế từ chồng nếu chồng chết khi hai vợ chồng đang trong thời gian ly hôn.

2. Khi đã kết hôn với người khác  

Cũng theo Điều 655 Bộ luật dân sự 2015, tại thời điểm người chồng chết, hai người vẫn là vợ chồng. Sau này, khi phân chia di sản thừa kế của người chồng, dù người vợ đã kết hôn với người khác thì vẫn được hưởng di sản thừa kế do chồng cũ để lại.

Bởi thời điểm người chồng cũ chết, quan hệ hôn nhân giữa hai người vẫn tồn tại. Do đó, người vợ vẫn thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người để lại di sản thừa kế.

3. Được hưởng thừa kế từ con chung với chồng cũ

Người chồng cũ chết trước và con chung của hai vợ chồng chết sau thì người vợ cũ cùng với những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người con sẽ được hưởng phần di sản thừa kế mà lẽ ra người này được hưởng từ bố. 

0988873883