Những trường hợp không được quyền ly hôn

Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của tòa án. Tuy nhiên pháp luật vẫn quy định các trường hợp không được giải quyết khi có đơn yêu cầu ly hôn.

Theo quy định tại Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình 2014 thì chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong hai trường hợp sau:

  • Vợ đang có thai, sinh con
  • Đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.

Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định không có quyền yêu cầu ly hôn khi:

  • Không có căn cứ về việc vợ/chồng có hành vi bạo lực gia đình.
  • Vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

Tùy vào trường hợp không được quyền ly hôn nêu trên mà vợ/chồng sẽ không được giải quyết ly hôn như các trường hợp bình thường khác. Do đó, khi ly hôn, vợ chồng cần trình bày được lý do để Tòa làm căn cứ cho ly hôn.

 

Trình tự thủ tục thuận tình ly hôn

1. Điều kiện tiến hành thủ tục thuận tình ly hôn

Thuận tình ly hôn được quy định tại Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình 2014 (LHNGĐ) như sau:

“Trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thỏa thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án công nhận thuận tình ly hôn; nếu không thỏa thuận được hoặc có thỏa thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án giải quyết việc ly hôn”.

Như vậy, để được xác định là thuận tình ly hôn, cần đáp ứng đủ các điều kiện sau:

– Hai bên thật sự tự nguyện ly hôn;

– Hai bên đã thỏa thuận được về việc chia tài sản;

– Hai bên đã thỏa thuận về việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con.

Đồng thời, tại khoản 2 Điều 29 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 thì yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn được xác định là việc dân sự và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

2. Trình tự thủ tục ly hôn thuận tình

Thủ tục giải quyết việc dân sự, bao gồm công nhận thuận tình ly hôn được quy định tại Chương XXIII (từ Điều 361 đến Điều 375) Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Theo đó, thủ tục này bao gồm các bước sau:

Bước 1: Nộp hồ sơ yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn tại TAND cấp huyện nơi cư trú, làm việc của vợ hoặc chồng.

Hồ sơ yêu cầu công nhận ly hôn thuận tình bao gồm: 

-Đơn yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn (theo mẫu được ban hành kèm theo Nghị quyết 01/2017/NQ-HĐTP).

– Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn (bản chính);

– Sổ hộ khẩu (bản sao có chứng thực);

– CMND/hộ chiếu (bản sao có chứng thực);

– Giấy khai sinh của con (bản sao);

– Các tài liệu, chứng cứ khác chứng minh tài sản chung.

Hồ sơ có thể nộp trực tiếp tại Tòa án hoặc gửi qua đường bưu điện.

Bước 2: Nộp lệ phí và thụ lý vụ án

Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đơn yêu cầu và tài liệu, chứng cứ kèm theo, Chánh án Tòa án phân công Thẩm phán giải quyết. Trường hợp xét thấy đơn yêu cầu và tài liệu, chứng cứ kèm theo đã đủ điều kiện thụ lý, Thẩm phán được phân công sẽ ra thông báo về việc nộp lệ phí yêu cầu giải quyết việc dân sự. Thời hạn nộp lệ phí này là 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được thông báo.

Đơn yêu cầu được thụ lý khi người yêu cầu nộp cho Tòa án biên lai thu tiền lệ phí.

Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày thụ lý đơn yêu cầu, Tòa án thông báo bằng văn bản cho người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, cho Viện kiểm sát cùng cấp về việc đã thụ lý đơn yêu cầu.

Bước 3: Tòa án chuẩn bị xét đơn yêu cầu và mở phiên họp công khai để giải quyết việc yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn.

Thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu là 01 tháng, kể từ ngày thụ lý. Trong thời gian chuẩn bị này, Tòa án phải ra quyết định mở phiên họp giải quyết và tiến hành mở phiên họp trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày ra quyết định.

Bước 4: Toà án ra quyết định công nhận thuận tình ly hôn.

Quan hệ hôn nhân chấm dứt kể từ ngày quyết định công nhận thuận tình ly hôn có hiệu lực pháp luật.

Cấp dưỡng cho con khi cha mẹ ly hôn

Đối với việc ly hôn khi con cái chưa thành niên, cấp dưỡng là một vấn đề quan trọng. Nếu hai bên không thể thỏa thuận được thì tòa sẽ căn cứ vào hoàn cảnh và quy định của pháp luật để giải quyết vấn đề này.

1. Nghĩa vụ cấp dưỡng cho con

Theo quy định tại khoản 24 Điều 3 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 (LHNGĐ), cấp dưỡng là nghĩa vụ đóng góp tiền bạc hoặc tài sản để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người không sống chung với mình nhưng có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng.

Khoản 2 Điều 82 LHNGĐ cũng quy định: “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con”.

Đồng thời, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở cũng như có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người còn lại.

Như vậy, khi hai vợ chồng ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.

2. Các trường hợp con cái được cấp dưỡng

Căn cứ quy định tại Điều 110 LHNGĐ, cha, mẹ khi ly hôn mà không sống cùng con thì có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Người con được cấp dưỡng là:

– Người chưa thành niên;

– Người đã thành niên mà không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình;

– Người gặp khó khăn, túng thiếu theo quy định của LHNGĐ.

Theo đó, người thành niên là người từ đủ 18 tuổi trở lên, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ (Điều 20 Bộ luật dân sự 2015); người chưa thành niên là người chưa đủ 18 tuổi trở lên (Điều 21 Bộ luật dân sự 2015).

Như vậy, cha mẹ khi ly hôn, người không sống chung với con phải cấp dưỡng khi con:

– Chưa đủ 18 tuổi;

– Đủ 18 tuổi nhưng không có khả năng lao động cũng không có tài sản để tự nuôi sống bản thân.

Đồng thời, tại Điều 118 LHNGĐ, nghĩa vụ này sẽ chấm dứt nếu người được cấp dưỡng đã đủ 18 tuổi và có khả năng lao động hoặc có tài sản để tự nuôi mình…

Như vậy, có thể thấy, khi cha mẹ ly hôn, người không sống cùng với con phải cấp dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi (với trường hợp cấp dưỡng cho con chưa thành niên) hoặc khi con có khả năng lao động hoặc có tài sản để tự nuôi sống mình (với trường hợp còn lại).

Sống chung như vợ chồng không đăng ký kết hôn có phạm luật?

Trong những năm gần đây, sống chung mà không đăng ký kết hôn đang trở thành xu hướng trong một bộ phận không nhỏ giới trẻ. Bởi họ cho rằng khi không chung sống với nhau nữa sẽ dễ dàng giải quyết hơn so với những người đã đăng ký kết hôn. 

1. Sống chung không kết hôn có giá trị pháp lý hay không?

Theo quy định tại khoản b Điều 2 Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP, được coi là nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

– Có tổ chức lễ cưới khi về chung sống với nhau;

– Việc họ về chung sống với nhau được gia đình (một bên hoặc cả hai bên) chấp nhận;

– Việc họ về chung sống với nhau được người khác hay tổ chức chứng kiến;

– Họ thực sự có chung sống với nhau, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau xây dựng gia đình.

Đồng thời, theo quy định tại Điều 131 Luật hôn nhân và gia đình 2014 (LHNGĐ):

“Quan hệ hôn nhân và gia đình được xác lập trước ngày LHNGĐ có hiệu lực thì áp dụng pháp luật về hôn nhân và gia đình tại thời điểm xác lập để giải quyết”.

Theo đó, căn cứ quy định của pháp luật, việc xác định giá trị pháp lý khi nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng theo 03 thời điểm như sau:

1.1. Nam nữ chung sống như vợ chồng không kết hôn trước ngày 03/01/1987

Theo khoản 2 Điều 44 Nghị định số 23/2015/NĐ-CP, quan hệ hôn nhân của trường hợp này được công nhận kể từ ngày các bên xác lập quan hệ chung sống với nhau như vợ chồng. Khi đó, nam nữ được khuyến khích và tạo điều kiện đăng ký kết hôn.

1.2. Nam và nữ chung sống như vợ chồng không kết hôn từ ngày 03/01/1987 đến trước ngày 01/01/2001

Nam nữ sống chung với nhau trong trường hợp này mà đủ điều kiện kết hôn nhưng chưa đăng ký kết hôn và đang chung sống với nhau như vợ chồng thì họ phải có nghĩa vụ đăng ký kết hôn kể từ ngày 01/01/2001 đến hết ngày 01/01/2003 (theo điểm b khoản 3 Nghị quyết số 35/2000/QH10).

Sau ngày 01/01/2003 nếu nam nữ chưa đăng ký kết hôn thì không được công nhận là vợ chồng.

1.3. Nam và nữ chung sống như vợ chồng không kết hôn sau ngày 01/01/2003

Trong thời gian này, bắt buộc nam, nữ phải đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền thì mới có giá trị pháp lý. (Theo quy định tại khoản 1 Điều 11 LHNGĐ năm 2000 và Điều 9 LHNGĐ năm 2014).

Hiện nay, quan hệ hôn nhân của nam nữ chỉ được pháp luật công nhận khi đáp ứng điều kiện về đăng ký kết hôn và bắt buộc phải thực hiện tại cơ quan có thẩm quyền tuân theo quy định của LHNGĐ về:

– Điều kiện đăng ký kết hôn: Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên; do nam nữ tự nguyện quyết định; không bị mất năng lực hành vi dân sự; không thuộc trường hợp bị cấm kết hôn… theo Điều 8 LHNGĐ.

– Thủ tục đăng ký kết hôn: Hai bên nam nữ muốn đăng ký kết hôn thì phải đáp ứng điều kiện nêu trên, chuẩn bị đầy đủ giấy tờ và đến cơ quan có thẩm quyền thực hiện. 

2. Bị phạt nặng nếu sống chung như vợ chồng mà không kết hôn

Việc đang có vợ, có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ là hành vi bị pháp luật nghiêm cấm (căn cứ điểm c khoản 2 Điều 5 LHNGĐ 2014).

Theo đó, tại Điều 48 Nghị định 110/2013/NĐ-CP sửa đổi bởi khoản 35 Điều 1 Nghị định 67/2015/NĐ-CP sẽ phạt tiền từ 01 – 03 triệu đồng với các hành vi sau đây:

– Đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác;

– Chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;

– Chung sống như vợ chồng giữa những người có họ trong phạm vi ba đời;

– Chung sống như vợ chồng giữa cha mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, bố chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, bố dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng.

Tuy nhiên, từ 01/9/2020 khi Nghị định số 82/2020/NĐ-CP chính thức có hiệu lực thì mức phạt các hành vi này đã tăng lên từ 03 – 05 triệu đồng (theo khoản 1 Điều 59).

Riêng việc chung sống như vợ chồng với người có cùng dòng máu về trực hệ thì sẽ bị phạt tiền từ 10 – 20 triệu đồng.

Thủ tục ly hôn nhanh mà không cần hòa giải

Hòa giải là một bước quan trọng khi hai vợ chồng tiến hành thủ tục ly hôn. Tuy nhiên trong thực tế, khi hai vợ chồng ly hôn đều muốn thủ tục này nhanh chóng để chấm dứt hôn nhân. Bài viết trình bày về thủ tục ly hôn nhanh chóng mà không cần hòa giải.

1. Thủ tục hòa giải khi ly hôn

Theo quy định tại khoản 2 Điều 4 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 (LHNGĐ), Nhà nước và xã hội phải có trách nhiệm kịp thời hòa giải mâu thuẫn trong gia đình, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các thành viên.

Đặc biệt khi vợ, chồng có yêu cầu ly hôn thì Nhà nước và xã hội khuyến khích việc hòa giải ở cơ sở (theo Điều 52 LHNGĐ).

Trong đó, theo khoản 2 Điều 2 Luật Hòa giải tại cơ sở năm 2013, cơ sở là thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc, tổ dân phố, khu phố, khối phố và cộng đồng dân cư khác hay còn gọi là thôn, tổ dân phố.

Việc hòa giải ở cơ sở phải tôn trọng sự tự nguyện của các bên, không bắt buộc, áp đặt các bên trong hòa giải ở cơ sở, khách quan, công bằng, kịp thời, có lý, có tình, giữ bí mật thông tin đời tư của các bên, đảm bảo bình đẳng giới… (theo Điều 4 Luật Hòa giải ở cơ sở).

Do đó, có thể thấy, việc hòa giải ở cơ sở không phải là yêu cầu bắt buộc khi hai vợ chồng muốn ly hôn với nhau.

Nếu hòa giải ở cơ sở không thành thì sau khi nộp đơn ly hôn và được thụ lý thì Tòa án sẽ tiến hành hòa giải theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.

Theo đó, Điều 205 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 quy định, trong thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án, Tòa án tiến hành hòa giải để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án trừ những vụ án không được hòa giải hoặc không hòa giải được hoặc được giải quyết theo thủ tục rút gọn.

Đồng thời, khoản 2 Điều 397 Bộ luật Tố tụng dân sự cũng nêu rõ, khi giải quyết yêu cầu ly hôn thuận tình:

“Thẩm phán phải tiến hành hòa giải để vợ chồng đoàn tụ, giải thích về quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng, giữa cha mẹ và con… về trách nhiệm cấp dưỡng và các vấn đề khác”.

Từ những quy định này, khi đơn ly hôn được gửi đến Tòa án, dù đơn phương ly hôn hay thuận tình ly hôn thì cũng đều phải tiến hành hòa giải tại Tòa trừ một số trường hợp đặc biệt.

Như vậy, có thể thấy, khi ly hôn có thể không bắt buộc hòa giải tại thôn, tổ dân phố nhưng khi đã gửi đơn đến Tòa án thì Tòa án phải tiến hành hòa giải nếu không thuộc các trường hợp không thể hòa giải hoặc không được hòa giải.

2. Trường hợp ly hôn nhanh mà không cần phải hòa giải

Theo phân tích ở trên, trong các vụ thuận tình ly hôn, bắt buộc Tòa án phải tiến hành hòa giải. Đồng thời, trường hợp ngoại lệ Tòa án có thể không tiến hành hòa giải khi giải quyết vụ án dân sự trong các trường hợp:

– Những vụ án dân sự không được hòa giải (Điều 206 BLTTDS):

Yêu cầu đòi bồi thường vì lý do gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước; Những vụ án phát sinh từ giao dịch dân sự vi phạm điều cấm của luật hoặc trái đạo đức xã hội;

Những vụ án dân sự không hòa giải được (Điều 207 BLTTDS):

  • Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 02 mà vẫn cố tình vắng mặt;
  • Đương sự không thể tham gia được vì có lý do chính đáng;
  • Đương sự là vợ hoặc chồng trong vụ án ly hôn là người mất năng lực hành vi dân sự;
  • Một trong các đương sự đề nghị không tiến hành hòa giải.

Do đó, trong vụ án ly hôn đơn phương, nếu muốn ly hôn mà không cần hòa giải thì một trong hai bên vợ chồng có thể làm đơn đề nghị không hòa giải gửi đến Tòa án. Riêng bị đơn trong yêu cầu ly hôn đơn phương có thể vắng mặt sau 02 lần Tòa án triệu tập hòa giải hợp lệ thì sẽ không hòa giải được.

Nói tóm lại, khi ly hôn thuận tình thì bắt buộc các bên phải tiến hành hòa giải. Riêng vụ án ly hôn đơn phương, nếu một trong hai bên làm đơn đề nghị không hòa giải hoặc bị đơn vắng mặt trong 02 lần triệu tập hợp lệ thì không tiến hành hòa giải được. Khi đó, vụ án ly hôn sẽ không cần hòa giải.

Trình tự thủ tục đăng ký kết hôn

Kết hôn là một sự kiện trọng đại trong cuộc sống của mỗi người. Do đó cần phải nắm rõ những quy định của pháp luật hiện hành về vấn đề này.

1. Điều kiện đăng ký kết hôn

Theo khoản 13 Điều 3 Luật hôn nhân và gia đình 2014 (LHNGĐ), thời kỳ hôn nhân là khoảng thời gian tồn tại quan hệ vợ chồng, được tính từ ngày đăng ký kết hôn đến ngày chấm dứt hôn nhân. Đồng thời, quan hệ vợ chồng chỉ được xác lập khi hai bên đăng ký kết hôn.

Theo đó, khi đăng ký kết hôn, hai bên nam, nữ phải đáp ứng một số điều kiện nêu tại Điều 8 LHNGĐ như sau:

– Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên;

– Việc kết hôn do hai bên tự nguyện quyết định;

– Hai bên không bị mất năng lực hành vi dân sự;

– Không thuộc các trường hợp bị cấm kết hôn như: kết hôn giả tạo; tảo hôn; bị cưỡng ép kết hôn; đang có vợ hoặc chồng mà kết hôn với người khác,….

Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thực hiện. Nếu không đăng ký thì không có giá trị pháp lý.

2. Trình tự thủ tục đăng ký kết hôn

Bước 1: Chuẩn bị giấy tờ

* Kết hôn trong nước

Theo Điều 10 Nghị định 123/2015/NĐ-CP, khi đăng ký kết hôn, hai bên nam, nữ cần chuẩn bị các giấy tờ sau:

– Tờ khai đăng ký kết hôn theo mẫu;

– Chứng minh nhân dân, hộ chiếu, thẻ Căn cước công dân hoặc giấy tờ khác có dán ảnh. Lưu ý, những loại giấy tờ này đều phải đang còn thời hạn sử dụng;

– Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân do UBND cấp xã nơi cư trú cấp.

– Quyết định hoặc bản án ly hôn của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nếu trước đó đã từng kết hôn và ly hôn.

* Kết hôn có yếu tố nước ngoài

Nếu việc kết hôn có yếu tố nước ngoài thì căn cứ theo Điều 30 Nghị định 123/2015/NĐ-CP, hồ sơ cần chuẩn bị gồm:

– Tờ khai đăng ký kết hôn (theo mẫu);

– Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân còn giá trị sử dụng, do cơ quan có thẩm quyền nước ngoài cấp thể hiện nội dung: Hiện tại người nước ngoài này không có vợ/có chồng. Nếu nước đó không cấp thì thay bằng giấy tờ khác xác định người này đủ điều kiện đăng ký kết hôn.

– Giấy xác nhận không mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác, có đủ khả năng nhận thức, làm chủ hành vi của mình (do cơ quan y tế của thẩm quyền của Việt Nam hoặc nước ngoài xác nhận).

– Hộ chiếu hoặc giấy tờ có giá trị thay hộ chiếu (bản sao). 

Bước 2: Nộp hồ sơ tới cơ quan có thẩm quyền

Theo quy định tại khoản 1 Điều 17 Luật Hộ tịch 2014, sau khi chuẩn bị đầy đủ các loại giấy tờ nêu trên, các cặp đôi cần đến UBND xã, phường, thị trấn nơi cư trú của một trong hai bên để đăng ký kết hôn.

Ngoài ra, theo quy định tại Điều 37 Luật Hộ tịch năm 2014, trong những trường hợp sau đây, nơi thực hiện việc đăng ký kết hôn cho các cặp nam, nữ là UBND cấp huyện:

– Công dân Việt Nam với người nước ngoài;

– Công dân Việt Nam cư trú ở trong nước với công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài;

– Công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài với nhau;

– Công dân Việt Nam đồng thời có quốc tịch nước ngoài với công dân Việt Nam hoặc với người nước ngoài.

Riêng hai người nước ngoài khi có nhu cầu đăng ký kết hôn tại Việt Nam thì đến UBND cấp huyện nơi cư trú của một trong hai bên để thực hiện việc đăng ký kết hôn (Căn cứ khoản 1 Điều 37 Luật Hộ tịch).

Bước 3: Giải quyết đăng ký kết hôn

Nếu thấy đủ điều kiện kết hôn, Điều 18 Luật Hộ tịch 2014 nêu rõ, cán bộ tư pháp ghi việc kết hôn vào Sổ hộ tịch. Hai bên nam nữ ký tên vào Sổ hộ tịch và Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn.

Đồng thời hai bên nam, nữ cùng ký vào Sổ đăng ký kết hôn và Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn. Sau đó, cán bộ tư pháp báo cáo Chủ tịch UBND cấp xã trao Giấy chứng nhận kết hôn cho hai bên nam, nữ.

Bước 4: Cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn

Giấy chứng nhận kết hôn được cấp ngay sau khi cán bộ tư pháp nhận được đầy đủ hồ sơ hợp lệ và xét thấy đủ điều kiện kết hôn theo quy định (theo Điều 18 Nghị định 123/2015/NĐ-CP).

Trong trường hợp nếu cần xác minh thêm các điều kiện kết hôn của hai bên nam, nữ thì thời hạn cấp Giấy chứng nhận kết hôn không quá 05 ngày làm việc.

Do đó, có thể thấy thời hạn cấp Giấy đăng ký kết hôn là ngay sau khi hai bên được xét đủ điều kiện kết hôn và được UBND nơi có thẩm quyền thực hiện đăng ký kết hôn cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn. 

Riêng trường hợp có yếu tố nước ngoài, theo Điều 32 Nghị định 123/2015/NĐ-CP, việc trao giấy chứng nhận đăng ký kết hôn được thực hiện trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày ký.

Nếu trong 60 ngày kể từ ngày ký mà hai bên không thể có mặt để nhận giấy chứng nhận đăng ký kết hôn thì Giấy này sẽ bị hủy. Nếu hai bên vẫn muốn kết hôn thì phải thực hiện thủ tục lại từ đầu. 

Điều kiện ly hôn đơn phương khi bị bạo lực gia đình

Ly hôn đơn phương hay còn gọi là ly hôn theo yêu cầu của một bên là trường hợp vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn và Tòa án giải quyết nếu có căn cứ khiến tình trạng hôn nhân trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được.

Trong đó, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình 2014 (LHNGĐ) nêu rõ, căn cứ để Tòa án giải quyết khi có yêu cầu ly hôn đơn phương là:

– Vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình;

– Vợ, chồng vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ vợ, chồng.

Mà bạo lực gia đình theo Điều 2 Luật phòng chống bạo lực gia đình 2007 gồm các hành vi:

ly hon don phuong khi bi bao luc gia dinh

– Hành hạ, ngược đãi, đánh đập hoặc hành vi cố ý khác xâm hại đến sức khỏe, tính mạng;

– Lăng mạ hoặc hành vi cố ý khác xúc phạm danh dự, nhân phẩm;

– Cô lập, xua đuổi hoặc gây áp lực thường xuyên về tâm lý gây hậu quả nghiêm trọng;

– Cưỡng ép quan hệ tình dục;

– Có hành vi trái pháp luật buộc thành viên gia đình ra khỏi chỗ ở…

Căn cứ vào những quy định trên, một trong hai bên có thể đơn phương ly hôn. Tuy nhiên, để chắc chắn được Tòa án thụ lý và giải quyết thì cần phải chuẩn bị đầy đủ bằng chứng của việc bạo lực gia đình thông qua các cách sau đây:

– Chụp ảnh, quay video… hành vi đánh đập, vũ phu;

– Xin xác nhận của bệnh viện về việc điều trị chấn thương do bị đánh đập mà có;

Chồng bán nhà có cần chữ ký của vợ hay không?

Tài sản chung, tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân luôn là vấn đề được nhiều người quan tâm đặc biệt là khi tài sản đó là nhà, đất – một tài sản lớn đối với nhiều người. Vậy khi muốn bán nhà, đất nhưng Sổ đỏ chỉ có mình tên chồng, vợ phải ký tên không?

1. Quy định của pháp luật về Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân có thể có tài sản chung hoặc tài sản riêng. Theo đó, nhà, đất của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân cũng có thể là tài sản chung hoặc tài sản riêng.

Là tài sản chung: 

Theo khoản 1 Điều 33 Luật hôn nhân và gia đình 2014 (LHNGĐ), nhà, đất của vợ chồng được coi là tài sản chung khi thuộc các trường hợp sau đây:

– Là tài sản do vợ, chồng có được sau khi kết hôn hình thành từ thu nhập, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng… trong thời kỳ hôn nhân;

– Là tài sản vợ chồng được thừa kế chung hoặc tặng cho chung;

– Là tài sản vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Đặc biệt, khoản 1 Điều 34 LHNGĐ khẳng định:

“Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng thì giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng phải ghi tên cả hai vợ chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác”.

Theo quy định này, khi nhà, đất (tài sản phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng) là tài sản thuộc sở hữu chung của vợ, chồng thì giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở (gọi tắt là Sổ đỏ) phải có tên của hai vợ, chồng trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

Đây cũng là quy định được nêu tại khoản 4 Điều 98 Luật đất đai 2013:

“Trường hợp quyền sử dụng đất hoặc quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là tài sản chung của vợ và chồng thì phải ghi cả họ, tên vợ và họ, tên chồng vào Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, trừ trường hợp vợ và chồng có thỏa thuận ghi tên một người”.

Như vậy, căn cứ các quy định trên, nếu vợ, chồng không có thỏa thuận Sổ đỏ đứng tên một người thì trong Sổ đỏ phải ghi tên cả vợ và chồng khi nhà, đất là tài sản chung của vợ, chồng.

Là tài sản riêng: 

Bên cạnh việc nhà, đất là tài sản chung thì đây còn có thể là tài sản của mỗi người. Khi nhà, đất là tài sản có trước khi kết hôn, do được thừa kế riêng, tặng cho riêng, có được do phân chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân… thì là tài sản của riêng người đó.

Trong trường hợp này, khi nhà, đất là tài sản riêng thì trên Sổ đỏ sẽ chỉ có tên một người vợ hoặc tên một người chồng.

2. Vợ có cần ký bán khi Sổ đỏ chỉ đứng tên mình chồng?

Như phân tích ở trên, trong thời kỳ hôn nhân, vợ, chồng có thể có nhà, đất là tài sản chung hoặc tài sản riêng. Trong đó:

2.1. Nếu nhà, đất là tài sản chung

Theo khoản 2 Điều 33 LHNGĐ, tài sản chung của vợ, chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ, chồng.

Do đó, nếu vợ, chồng bán nhà, đất mà Sổ đỏ đứng tên cả hai vợ, chồng thì khi thực hiện thủ tục phải có sự đồng ý của cả hai người. Đồng nghĩa, khi ký vào hợp đồng mua bán phải có đầy đủ chữ ký của cả vợ hoặc chồng trừ trường hợp hai vợ chồng có ủy quyền.

Đặc biệt, nếu Sổ đỏ chỉ đứng tên một người do có thỏa thuận nhưng vẫn là tài sản chung của hai vợ, chồng thì khi bán vẫn cần có sự đồng ý và chữ ký của cả hai người. Nếu một trong hai bên không ký bán được thì cũng phải ủy quyền theo quy định.

2.2. Nếu nhà, đất là tài sản riêng

Khoản 1 Điều 44 LHNGĐ nêu rõ:

“Vợ, chồng có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng của mình; nhập hoặc không nhập tài sản riêng vào tài sản chung”.

Do đó, nếu nhà, đất là tài sản riêng của vợ hoặc chồng, Sổ đỏ đứng tên một trong hai người thì khi bán chỉ cần người đó ký mà không cần chữ ký của người còn lại.

Che giấu tội phạm có phải là đồng phạm?

Căn cứ Điều 18 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 (BLHS), che giấu tội phạm là việc không hứa hẹn trước, nhưng sau khi biết việc tội phạm được thực hiện đã che giấu người phạm tội, hủy hoại dấu vết, tang vật của tội phạm hoặc có hành vi khác cản trở việc phát hiện, điều tra, xử lý người phạm tội.

Cụ thể, hành vi che giấu tội phạm có thể là: Chứa chấp người phạm tội, tạo điều kiện cho người phạm tội lẩn trốn, giúp người phạm tội xoá dấu vết tội phạm, hủy hoại tang vật…

Bên cạnh đó, cũng theo khoản 1 Điều 18, người thực hiện hành vi che giấu tội phạm có thể phải chịu trách nhiệm hình sự về tội che giấu tội phạm trong những trường hợp mà Bộ luật này quy định.

Khác với che giấu tội phạm, Điều 17 Bộ luật hình sự quy định về đồng phạm như sau:

“1. Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm.

2. Phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm.

3. Người đồng phạm bao gồm người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức.

Người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm.Người tổ chức là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm.

Người xúi giục là người kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác thực hiện tội phạm.Người giúp sức là người tạo điều kiện tinh thần hoặc vật chất cho việc thực hiện tội phạm.

4. Người đồng phạm không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi vượt quá của người thực hành”

Theo quy định trên, đồng phạm là trường hợp phải có từ 02 người trở lên cùng thực hiện một tội phạm. Đặc điểm của đồng phạm là phải biết trước hoặc trực tiếp tham gia thực hiện tội phạm. Trong khi đó, người thực hiện hành vi che giấu tội phạm thì có thể không biết trước hành vi phạm tội và cũng không thực hiện tội phạm.

Vì vậy, người không hứa hẹn trước mà che giấu tội phạm thì không phải đồng phạm. Tuy nhiên, nếu biết về việc thực hiện tội phạm mà cố ý thúc đẩy, kích động, tạo điều kiện cho người phạm tội, đồng thời hứa hẹn với người phạm tội sẽ che giấu tội phạm thì người che giấu tội phạm lúc này có thể bị coi là đồng phạm với vai trò người xúi giục hoặc giúp sức.

nguoi che giau toi pham co phai dong pham

Che giấu tội phạm bị phạt thế nào?

Theo Điều 18 BLHS, người che giấu tội phạm có thể phải chịu trách nhiệm hình sự về Tội che giấu tội phạm.

Người che giấu tội phạm là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội thì không phải chịu trách nhiệm hình sự, trừ trường hợp che giấu các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng khác theo quy định tại Điều 389.

Cụ thể, Điều 389 BLHS quy định về Tội che giấu tội phạm như sau:

1. Người nào không hứa hẹn trước mà che giấu một trong các tội phạm quy định tại các điều sau đây của Bộ luật này, nếu không thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 18 của Bộ luật này, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 05 năm:

a) Các điều 108, 109, 110, 111, 112, 113, 114, 115, 116, 117, 118, 119, 120 và 121;

b) Điều 123, các khoản 2, 3 và 4 Điều 141, Điều 142, Điều 144, khoản 2 và khoản 3 Điều 146, các khoản 1, 2 và 3 Điều 150, các điều 151, 152, 153 và 154;

c) Điều 168, Điều 169, các khoản 2, 3 và 4 Điều 173, các khoản 2, 3 và 4 Điều 174, các khoản 2, 3 và 4 Điều 175, các khoản 2, 3 và 4 Điều 178;

d) Khoản 3 và khoản 4 Điều 188, khoản 3 Điều 189, khoản 2 và khoản 3 Điều 190, khoản 2 và khoản 3 Điều 191, khoản 2 và khoản 3 Điều 192, các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều 193, các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều 194, các khoản 2, 3 và 4 Điều 195, khoản 2 và khoản 3 Điều 196, khoản 3 Điều 205, các khoản 2, 3 và 4 Điều 206, Điều 207, Điều 208, khoản 2 và khoản 3 Điều 219, khoản 2 và khoản 3 Điều 220, khoản 2 và khoản 3 Điều 221, khoản 2 và khoản 3 Điều 222, khoản 2 và khoản 3 Điều 223, khoản 2 và khoản 3 Điều 224;

đ) Khoản 2 và khoản 3 Điều 243;

e) Các điều 248, 249, 250, 251, 252 và 253, khoản 2 Điều 254, các điều 255, 256, 257 và 258, khoản 2 Điều 259;

g) Các khoản 2, 3 và 4 Điều 265, các điều 282, 299, 301, 302, 303 và 304, các khoản 2, 3 và 4 Điều 305, các khoản 2, 3 và 4 Điều 309, các khoản 2, 3 và 4 Điều 311, khoản 2 và khoản 3 Điều 329;

h) Các khoản 2, 3 và 4 Điều 353, các khoản 2, 3 và 4 Điều 354, các khoản 2, 3 và 4 Điều 355, khoản 2 và khoản 3 Điều 356, các khoản 2, 3 và 4 Điều 357, các khoản 2, 3 và 4 Điều 358, các khoản 2, 3 và 4 Điều 359, các khoản 2, 3 và 4 Điều 364, các khoản 2, 3 và 4 Điều 365;

i) Khoản 3 và khoản 4 Điều 373, khoản 3 và khoản 4 Điều 374, khoản 2 Điều 386;

k) Các điều 421, 422, 423, 424 và 425

2. Phạm tội trong trường hợp lợi dụng chức vụ, quyền hạn cản trở việc phát hiện tội phạm hoặc có những hành vi khác bao che người phạm tội, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm”.

Theo đó, người có hành vi che giấu các tội giết người, tội hủy hoại, cố ý làm hư hỏng tài sản, tội cướp tài sản, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản… thì bị cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 05 năm.

Nếu lợi dụng chức vụ, quyền hạn để cản trở việc phát hiện tội phạm hoặc có những hành vi khác để bao che người phạm tội, thì bị phạt tù từ 02 – 07 năm.

Phân biệt tội lây truyền HIV cho người khác và tội cố ý truyền HIV cho người khác

HIV/AIDS là hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người, hiện nay chưa có phương pháp điều trị triệt để. Vì vậy, hành vi lây truyền HIV cho người khác có thể được xem là tội phạm. Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017 (BLHS) quy định tại Điều 148 và Điều 149 là hai hành vi được xem là tội phạm khi lây truyền HIV cho người khác. Bài viết phân biệt hai tội phạm này.

Tiêu chí

Tội lây truyền HIV cho người khác

Tội cố ý truyền HIV cho người khác

Chủ thể Chủ thể phải là người bị HIV và biết mình bị nhiễm HIV Chủ thể có thể là người có hoặc không bị HIV
Hành vi khách quan Cố ý lây truyền bệnh từ mình cho người khác Cố ý truyền bệnh cho người khác mà nguồn gây bệnh có thể không xuất phát từ chủ thể. Hành vi này có thể xuất phát từ bất kì hình thức nào, như cố ý đâm bơm kim tiêm có chứa máu bị nhiễm HIV vào người khác, bác sĩ truyền máu có HIV cho bệnh nhân,…
Lỗi Cố ý trực tiếp Cố ý trực tiếp
Khung hình phạt cao nhất Hình phạt tối đa 7 năm tù Mức phạt cao nhất là tù chung thân
Hình phạt bổ sung Không có Có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm

 

0988873883