Trình tự thủ tục chấm dứt hoạt động của địa điểm kinh doanh

Theo quy định tại khoản 3 Điều 44 Luật doanh nghiệp năm 2020 (LDN) thì địa điểm kinh doanh là nơi doanh nghiệp tiến hành hoạt động kinh doanh cụ thể. Trong nhiều trường hợp địa điểm kinh doanh hoạt động không hiệu qua thì chấm dứt theo trình tự thủ tục dưới đây.

Căn cứ Điều 72 Nghị định 01/2021/NĐ-CP, trình tự để doanh nghiệp tiến hành chấm dứt hoạt động của địa điểm kinh doanh bao gồm:

Bước 1: Doanh nghiệp ra quyết định chấm dứt hoạt động địa điểm kinh doanh;

Bước 2: Doanh nghiệp liên hệ với Cơ quan thuế để hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế theo quy định của pháp luật về thuế;

Bước 3: Gửi Thông báo về việc chấm dứt hoạt động địa điểm kinh doanh đến Phòng Đăng ký kinh doanh nơi đặt địa điểm kinh doanh;

Bước 4: Phòng Đăng ký kinh doanh gửi thông tin về địa điểm kinh doanh chấm dứt hoạt động cho Cơ quan thuế. Cơ quan thuế gửi ý kiến về việc hoàn thành nộp thuế của địa điểm kinh doanh cho Phòng Đăng ký kinh doanh.

Bước 5: Phòng Đăng ký kinh doanh ra quyết định chấm dứt địa điểm kinh doanh.

Như vậy, doanh nghiệp phải nộp thông báo khi chấm dứt địa điểm kinh doanh. Nếu có thắc mắc liên quan đến vấn đề này, độc giả vui lòng liên hệ tổng đài 024 32000 536 để được hỗ trợ nhanh nhất.

Đăng ký khai sinh cho con khi cha mẹ không đăng ký kết hôn

Hiện nay, vẫn có nhiều trường hợp cha, mẹ khi cưới nhưng lại không đăng ký kết hôn. Vậy trong trường hợp không đăng ký kết hôn khi sinh con có làm được giấy khai sinh cho con không, bài viết dưới đây làm rõ về vấn đề này.

Điều 30 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về quyền được khai sinh của một cá nhân thì từ khi sinh ra, cá nhân được quyền khai sinh. Riêng đối với trẻ em thì:

– Nếu được sinh ra mà sống từ 24h trở lên mới chết thì phải được khai sinh.

– Nếu sinh ra mà sống dưới 24h thì không phải làm khai sinh trừ trường hợp cha đẻ, mẹ đẻ có yêu cầu.

Theo quy định tại Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, nam nữ không đăng ký kết hôn khi đủ điều kiện đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Tuy nhiên, quyền và nghĩa vụ đối với con cái thì như khi có đăng ký kết hôn.

Theo đó, trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày sinh con, cha hoặc mẹ phải có trách nhiệm đăng ký khai sinh cho con. Nếu không có thể bị phạt.

Nếu cha, mẹ không thể đi đăng ký khai sinh cho con được thì ông hoặc bà hoặc người thân thích khác hoặc cá nhân, tổ chức đang nuôi dưỡng trẻ em có trách nhiệm đăng ký khai sinh cho trẻ em.

Nếu cha mẹ không đăng ký kết hôn thì con vẫn được làm giấy khai sinh. Nhưng lúc này, các cán bộ hộ tịch sẽ đăng ký khai sinh cho con trong trường hợp trẻ chưa xác định được cha hoặc mẹ. Bởi theo Điều 9 Nghị định 123/2015/NĐ-CP nếu cha mẹ đã đăng ký hết hôn thì phải xuất trình giấy đăng ký kết hôn. Trong trường hợp chưa đăng ký kết hôn thì phần tên mẹ hoặc cha sẽ bị bỏ trống nếu người đi đăng ký là người còn lại.

Do đó, khi muốn giấy khai sinh của con có đầy đủ thông tin về cha, mẹ thì phải làm thủ tục nhận con theo quy định của pháp luật. Khi đó, cán bộ hộ tịch có thể kết hợp giải quyết việc nhận con và đăng ký khai sinh theo quy định tại Điều 15 Nghị định 123/2015/NĐ-CP.

Phân biệt mang thai hộ hợp pháp và bất hợp pháp

Hiện nay, mang thai hộ là một cơ hội và niềm hy vọng lớn đối với các cặp vợ chồng vô sinh. Tuy nhiên, thực tế còn rất nhiều biến tướng. Bài viết dưới đây phân tích mang thai hộ vì mục đích nhân đạo theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình hiện hành và mang thai hộ bất hợp pháp.

Giống nhau:

Mang thai hộ hợp pháp và mang thai hộ bất hợp pháp đều là việc một phụ nữ không phải người vợ trong quan hệ hôn nhân mang thai con cho cặp vợ chồng không sinh được con.

Khác nhau:

STT

Tiêu chí

Mang thai hộ hợp pháp

Mang thai hộ bất hợp pháp

1

Căn cứ pháp lý  Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Bộ luật Hình sự 2015; Luật Hôn nhân và gia đình 2014.

2

Mục đích Dựa trên cơ sở tự nguyện của các bên, không vì mục đích thương mại và được lập thành văn bản Để được hưởng lợi về kinh tế hoặc lợi ích khác

3

Điều kiện của người mang thai hộ – Là người thân thích cùng hàng của bên vợ hoặc bên chồng;

– Đã từng sinh con

– Chỉ được mang thai hộ một lần

– Ở độ tuổi phù hợp và có xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền về khả năng mang thai hộ

– Nếu người phụ nữ mang thai hộ có chồng thì phải có sự đồng ý bằng văn bản của người chồng

– Đã được tư vấn về y tế, pháp lý, tâm lý

Do hai bên thỏa thuận, không bao gồm điều kiện nào

4

Cách thức Lấy noãn của người vợ và tinh trùng của người chồng để thụ tinh trong ống nghiệm, sau đó cấy vào tử cung của người phụ nữ tự nguyện mang thai để người này mang thai và sinh con Bằng việc áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản

5

Trách nhiệm – Do hai bên thỏa thuận, phải được lập thành văn bản có công chứng.

– Nếu vi phạm thì Tòa án là cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp

– Tổ chức mang thai hộ vì mục đích thương mại bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng

– Bị phạt tù cao nhất là 05 năm tù

– Cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm

Trình tự thủ tục đăng ký kết hôn với người nước ngoài

1.Hồ sơ đăng ký kết hôn với người nước ngoài

Điều 30 Nghị định 123/2015/NĐ-CP quy định hồ sơ đăng ký kết hôn được lập theo quy định tại khoản 1 Điều 38 của Luật Hộ tịch 2014 như sau:

  • Tờ khai đăng ký kết hôn; 
  • Giấy tờ chứng minh tình trạng hôn nhân của người nước ngoài là giấy do cơ quan có thẩm quyền nước ngoài cấp còn giá trị sử dụng xác nhận hiện tại người đó không có vợ hoặc không có chồng;

Trường hợp nước ngoài không cấp xác nhận tình trạng hôn nhân thì thay bằng giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền nước ngoài xác nhận người đó có đủ điều kiện kết hôn theo pháp luật nước đó.

Nếu giấy tờ chứng minh tình trạng hôn nhân của người nước ngoài không ghi thời hạn sử dụng thì giấy tờ này và giấy xác nhận của tổ chức y tế theo quy định tại khoản 1 Điều 38 Luật Hộ tịch 2014 chỉ có giá trị 6 tháng, kể từ ngày cấp.

– Bản sao hộ chiếu hoặc giấy tờ có giá trị thay hộ chiếu (giấy tờ đi lại quốc tế hoặc thẻ cư trú).

– Nếu bên kết hôn là công dân Việt Nam đã ly hôn hoặc hủy việc kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền nước ngoài thì còn phải nộp bản sao trích lục hộ tịch về việc đã ghi vào sổ việc ly hôn hoặc hủy việc kết hôn;

– Nếu là công chức, viên chức hoặc đang phục vụ trong lực lượng vũ trang thì phải nộp văn bản của cơ quan, đơn vị quản lý xác nhận việc người đó kết hôn với người nước ngoài không trái với quy định của ngành đó.

Thủ tục đăng ký kết hôn với người nước ngoài mới nhất (Ảnh minh họa)

2. Thẩm quyền thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn

Điều 37 Luật Hộ tịch 2014 quy định thẩm quyền thực hiện đăng ký kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài thuộc về Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi cư trú của công dân Việt Nam.

Trường hợp người nước ngoài cư trú tại Việt Nam có yêu cầu đăng ký kết hôn tại Việt Nam thì Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi cư trú của một trong hai bên thực hiện đăng ký kết hôn.

3. Trình tự đăng ký kết hôn với người nước ngoài

Trình tự đăng ký kết hôn được thực hiện theo quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều 38 của Luật Hộ tịch 2014 và Điều 31 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP: 

– Trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Phòng Tư pháp tiến hành nghiên cứu, thẩm tra hồ sơ và xác minh nếu thấy cần thiết. Trưởng phòng Phòng Tư pháp chịu trách nhiệm về kết quả thẩm tra và đề xuất của Phòng Tư pháp trong việc giải quyết hồ sơ đăng ký kết hôn.

– Nếu hồ sơ hợp lệ, các bên có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, không thuộc trường hợp từ chối kết hôn đăng ký kết hôn thì Phòng Tư pháp báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện ký 02 bản chính Giấy chứng nhận kết hôn.

Nguyện vọng của con khi cha mẹ ly hôn

Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn là vấn đề quan trọng. Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định tại khoản 2 Điều 81, khi con đủ 7 tuổi phải xem xét nguyện vọng của con về việc muốn sống với ai khi bố, mẹ ly hôn.

Về nguyên tắc phân chia quyền nuôi con sau khi ly hôn, khoản 2 Điều 81 quy định, vợ chồng được quyền thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền hạn của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con.

Nếu không thỏa thuận được, Tòa án quyết định giao con cho chồng hoặc vợ nuôi, căn cứ vào quyền lợi mọi mặt của con. Đặc biệt, trong trường hợp con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

Theo đó, Luật chỉ quy định “xem xét nguyện vọng của con từ đủ 07 tuổi”, tức trong quá trình phán quyết ai sẽ là người nuôi con sau khi ly hôn, Thẩm phán sẽ hỏi ý kiến của con. Trên thực tế, ý kiến của con thường chỉ mang tính định hướng, tham khảo, là một phần để Tòa án xem xét đi đến quyết định, không có ý nghĩa hoàn toàn quyết định.

Việc quyết định ai có quyền nuôi con khi ly hôn còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác, như chỗ ở, thu nhập, thời gian chăm sóc con… của mỗi bên, nhằm đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con. 

Theo Luật Hôn nhân và gia đình 2014, trong trường hợp con dưới 03 tuổi, mặc định quyền nuôi con thuộc về người mẹ, trừ khi người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác.

Khi vợ, chồng không thỏa thuận được việc nuôi con thì điều này sẽ do Tòa án quyết định. Theo đó, Thẩm phán phụ trách phiên tòa giải quyết ly hôn là người có thẩm quyền lấy ý kiến trẻ từ đủ 07 tuổi về việc muốn sống với bố hay mẹ. 

Khoản 2 Điều 208 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định, việc lấy ý kiến của trẻ phải bảo đảm thân thiện, phù hợp với tâm lý, lứa tuổi, mức độ trưởng thành, khả năng nhận thức của trẻ; bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của trẻ. Đặc biệt, vệc lấy ý kiến phải đảm bảo giữ bí mật cá nhân của trẻ. Văn bản giải đáp số 01/2017/GĐ-TANDTC của Tòa án nhân dân tối cao cũng hướng dẫn về quy định nêu trên như sau: Phương pháp lấy ý kiến phải bảo đảm thân thiện với trẻ em; đồng thời, căn cứ vào quyền lợi mọi mặt của trẻ để quyết định giao cho một bên trực tiếp nuôi dưỡng.

Trường hợp một bên được giao quyền nuôi dưỡng con, bên còn lại phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con theo Điều 107 của Luật Hôn nhân và gia đình 2014. 

Quy định của pháp luật về hôn nhân đồng giới

Cụ thể hóa Hiến pháp năm 2013 về nguyên tắc hôn nhân “một vợ- một chồng, vợ chồng bình đẳng”, Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định “kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định của Luật này về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn”. Vậy hôn nhân giữa những người đồng giới được quy định như thế nào, bài viết dưới đây sẽ làm rõ về vấn đề này.

Hôn nhân đồng giới tạm hiểu là kết hôn giữa những người có cùng giới tính sinh học. Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định kết hôn giữa những người có cùng giới tính là một trong 5 trường hợp cấm kết hôn.

Tuy nhiên, khi Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 có hiệu lực thi hành và áp dụng, thay thế cho Luật năm 2000, thì kết hôn đồng giới không còn thuộc trường hợp bị cấm. Thay vào đó chỉ quy định: “Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người có cùng giới tính” (Điều 8).

Điều này cho thấy, pháp luật đã thay đổi cách nhìn với hôn nhân đồng giới, không nghiêm cấm một cách cứng nhắc như trước đây mà chỉ không thừa nhận, tức là không khuyến khích nhưng cũng không cho phép. Theo đó, các cặp đôi đồng tính vẫn có thể tổ chức đám cưới, vẫn được chung sống với nhau nhưng sẽ không được thừa nhận là vợ chồng về mặt pháp lý. Do đó, khi có tranh chấp xảy ra thì áp dụng quy định của Bộ luật dân sự để giải quyết chứ không áp dụng Luật hôn nhân và gia đình.

Tương tự, nếu như trước đây, Nghị định số 87/2001/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình quy định hành vi kết hôn giữa những người có cùng giới tính sẽ bị phạt tiền từ 100.000 đồng – 500.000 đồng thì nay, Nghị định số 110/2013/NĐ-CP thay thế đã bỏ quy định này.

Bao giờ Việt Nam cho phép kết hôn đồng giới?

Pháp luật hiện hành không thừa nhận kết hôn đồng giới (Ảnh minh họa)

Như vậy, dù hiện nay pháp luật chưa thừa nhận kết hôn đồng giới nhưng sự thay đổi nêu trên vẫn được coi là tín hiệu vui đối với những cặp đôi có cùng giới tính, là kết quả của một quá trình vận động và thảo luận trong suốt một thời gian dài. Các cặp đôi đồng tính tại Việt Nam đều kỳ vọng rằng, việc Việt Nam cho phép kết hôn đồng giới như 25 quốc gia khác trên thế giới sẽ không còn xa.

Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ, Việt Nam hiện có khoảng 2,5 triệu người đồng tính và hầu hết trong số họ đều khao khát được kết hôn với những người có cùng giới tính để đồng cảm, chia sẻ, quan tâm và chăm sóc lẫn nhau, cùng xây dựng hạnh phúc gia đình.

Tuy nhiên, để thừa nhận kết hôn đồng giới vẫn là một vấn đề khó với các nhà làm luật. Bởi lẽ, nếu thừa nhận có thể sẽ gây ra những hệ lụy tiêu cực với xã hội, không phù hợp với thuần phong mỹ tục và nền văn hóa Á Đông. Dưới góc độ pháp lý, thừa nhận hôn nhân đồng giới thì sẽ phải sửa đổi, bổ sung tất cả các quy định liên quan trong hệ thống pháp luật, như xác định quan hệ vợ chồng, quan hệ tài sản, xác định cha, mẹ con…

Tội phản bội Tổ quốc

Nhóm tội xâm phạm an ninh quốc gia được quy định ở ngay đầu tiên của phần các tội phạm bởi nó xâm phạm độc lập, chủ quyền, sự thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, xâm phạm chế độ của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Bài viết này phân tích tội phản bội Tổ quốc.

Điều 108 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 (BLHS) quy định về tội phản bội Tổ quốc như sau:

1. Công dân Việt Nam nào câu kết với nước ngoài nhằm gây nguy hại cho độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, chế độ xã hội chủ nghĩa và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tiềm lực quốc phòng, an ninh, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình.

2. Phạm tội trong trường hợp có nhiều tình tiết giảm nhẹ, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm.

3. Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm”.

Các yếu tố cấu thành tội phạm của tội phản bội Tổ quốc:

Khách thể của tội phạm:

Tội phạm xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, chế độ xã hội chủ nghĩa và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tiềm lực quốc phòng, an ninh.

Chủ thể của tội phạm:

Là công dân Việt Nam- người có quốc tịch Việt Nam đang cư trú tại Việt Nam hoặc đang định cư ở nước ngoài. Theo đó, chỉ người là công dân Việt Nam mới có thể thực hiện được hành vi phạm tội được quy định tại điều luật. Tuy nhiên, người không phải là công dân Việt Nam vẫn có thể thực hiện được hành vi đồng phạm như hành vi giúp sức của tội phạm này. Chủ thể của tội phản bội Tổ quốc được quy định là người từ đủ 16 tuổi trở nên vì tội này không thuộc các tội mà tuổi chịu trách nhiệm hình sự có thể từ đủ 14 tuổi trở lên được liệt kê tại khoản 2 Điều 12 BLHS.

Mặt khách quan của tội phạm:

+ Hành vi khách quan của tội phản bội Tổ quốc được quy định là hành vi câu kết với nước ngoài. Từ đó, có thể hiểu câu kết với nước ngoài là hành vi liên kết, hợp sức với nước ngoài, có thể là cá nhân hay nhóm người không phải là công dân Việt Nam hay có thể là một tổ chức nước ngoài hay cũng có thể là nước ngoài với tính chất là một nhà nước. Sự câu kết giữa người phạm tội với nước ngoài có thể được thể hiện qua các hành vi cụ thể như: Cùng bàn bạc về ý đồ và kế hoạch gây nguy hại cho độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, cho lực lượng quốc phòng, chế độ XHCN và Nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam,…..

Mặt chủ quan của tội phạm: 

Hành vi câu kết đã thể hiện lỗi của chủ thể là lỗi cố ý. Người phạm tội nhận thức được đầy đủ tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi mà mình thực hiện nhằm mục đích gây nguy hại cho độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, cho lực lượng quốc phòng, chế độ xã hội chủ nghĩa và Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Tội giết hoặc vứt bỏ con mới đẻ

So với Bộ luật hình sự cũ năm 1999 thì bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 (BLHS) đã quy định thêm tội giết hoặc vứt bỏ con mới đẻ. Đây là quy định mới, đặc biệt của tội giết người nên bài viết này phân tích những yếu tố cấu thành tội phạm của tội này.

Tội giết hoặc vứt bỏ con mới đẻ được quy định tại điều 124 BLHS như sau:

1. Người mẹ nào do ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng lạc hậu hoặc trong hoàn cảnh khách quan đặc biệt mà giết con do mình đẻ ra trong 07 ngày tuổi, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

2. Người mẹ nào do ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng lạc hậu hoặc trong hoàn cảnh khách quan đặc biệt mà vt bỏ con do mình đẻ ra trong 07 ngày tui dẫn đến hậu quả đứa trẻ chết, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc bị phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm”.

Các yếu tố cấu thành tội phạm và hình phạt của tội giết hoặc vứt bỏ con mới đẻ:

1.Khách thể của tội phạm

Tôi phạm trực tiếp xâm phạm quyền sống của con người. Ngoài ra, tội phạm còn xâm phạm đến đạo đức xã hội, đó là tình mẫu tử, xâm phạm Công ước quốc tế về quyền trẻ em mà Việt Nam đã phê chuẩn tham gia.
 2. Mặt khách quan của tội phạm

+ Tội giết con mới đẻ thực hiện bằng hành động như: bóp cổ, thắt cổ, đâm, chém, chôn đứa trẻ… Hành vi nói trên cũng có thể được thực hiện bằng hành động như người mẹ của đứa trẻ không cho con mình bú sữa  vì một nguyên nhân nào đó; không cho con đang ốm uống thuốc dẫn đến đứa trẻ chết. Giết con mới đẻ là hành vi của người mẹ mới đẻ con ra trong 7 ngày tuổi vì lý do nào đó đã làm con mình bị chết. Vứt bỏ con mới đẻ là hành vi của người mẹ mới đẻ con trong 7 ngày tuổi vì lý do nào đó đã bỏ con ở một nơi nào đó, không chăm sóc đứa trẻ dẫn đến đứa trẻ chết. 
Người phụ nữ giết con mới đẻ hoặc vứt bỏ con mới đẻ do ảnh hưởng từ tư tưởng lạc hậu như tin vào bói toán, thần thánh cho là phải giết con thì mới không bị con ma quấy phá, sợ dư luận xã hội ở địa phương… 
+ Hậu quả xảy ra đứa trẻ chết là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm. Để truy cứu trách nhiệm hình sự về tội này cần xác định mối quan hệ nhân quả giữa hành vi của người mẹ và hậu quả đứa trẻ chết. Nếu người mẹ vứt bỏ đứa trẻ nhưng được người khác phát hiện kịp thời nên đứa trẻ không chết thì người mẹ không phạm tội này.
3. Chủ thể của tội phạm

Là người từ đủ 16 tuổi trở lên có năng lực trách nhiệm hình sự và phải là phụ nữ đã đẻ ra đứa trẻ. 

4. Mặt chủ quan

Tội phạm được thực hiện do lỗi cố ý trực tiếp hoặc cố ý gián tiếp

5. Hình phạt

Điều 124 BLHS quy định 2 khung hình phạt như sau: 

  • Khung 1 quy định hình phạt đối với trường hợp giết con mới đẻ thì phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm.
  • Khung 2 quy định hình phạt đối với trường hợp vứt con mới đẻ thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 2 năm hoặc bị phạt tù từ 3 tháng đến 2 năm.

Tội giết người

Tội giết người được quy định tại Điều 123 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 (BLHS) thuộc nhóm tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh sự của con người và là tội phạm nguy hiểm, nghiêm trọng nhất trong nhóm này. Bài viết phân tích những yếu tố cấu thành tội phạm và hình phạt của tội giết người.

Điều 123 BLHS quy định về tội giết người như sau:

1. Người nào giết người thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Giết 02 người trở lên;

b) Giết người dưới 16 tuổi;

c) Giết phụ nữ mà biết là có thai;

d) Giết người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân;

đ) Giết ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;

e) Giết người mà liền trước đó hoặc ngay sau đó lại thực hiện một tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;

g) Để thực hiện hoặc che giấu tội phạm khác;

h) Để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân;

i) Thực hiện tội phạm một cách man r;

k) Bằng cách lợi dụng nghề nghiệp;

l) Bằng phương pháp có khả năng làm chết nhiều người;

m) Thuê giết người hoặc giết người thuê;

n) Có tính chất côn đồ;

o) Có tổ chức;

p) Tái phạm nguy hiểm;

q) Vì động cơ đê hèn.

2. Phạm tội không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm.

3. Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

4. Người phạm tội còn có thể bị cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm”.

Các yếu tố cấu thành tội phạm của tội giết người:

1. Mặt khách quan của tội giết người

+ Hành vi khách quan của tội giết người là hành vi dùng mọi thủ đoạn nhằm làm cho người khác chấm dứt cuộc sống. Hành vi được thực hiện thông qua các hình thức hành động hoặc không hành động: Hành động thể hiện qua việc người phạm tội đã chủ động thực hiện các hành vi mà pháp luật không cho phép như: dùng dao đâm, dùng súng bắn, dùng gậy đánh, dùng gạch ném… tác động vào thân thể nạn nhân nhằm tước bỏ tính mạng người đó; không hành động là việc người phạm tội không thực hiện nghĩa vụ phải làm (phải hành động) để đảm bảo sự an toàn tính mạng của người khác… nhằm giết người khác.
+ Hậu quả: Hậu quả do hành vi của tội phạm giết người gây ra là làm người khác chết. Tuy nhiên chỉ cần hành vi mà người phạm tội đã thực hiện có mục đích làm chấm dứt sự sống của người khác (hay làm cho người khác chết) thì được coi là cấu thành tội giết người cho dù hậu quả chết người có xảy ra hay không. 
+ Mối quan hệ nhân quả: hành vi giết người luôn có trước hậu quả chết người (không có trường hợp ngược lại hậu quả chết người mới thực hiện hành vi. Hành vi phải chứa đựng khả năng gây ra hậu quả chết người. Hậu quả chết người phải là kết quả của hành vi giết người chứ không phải kết quả của của những nguyên nhân khác.

2. Mặt chủ quan của tội giết người

+ Người phạm tội giết người luôn thực hiện tội phạm này với lỗi cố ý (cố ý trực tiếp hoặc cố ý gián tiếp). Giết người với lỗi cố ý trực tiếp là trường hợp một người nhận thức hành vi của mình là nguy hiểm, nhận thức hậu quả chết người sẽ xảy ra và mong muốn cho hậu quả chết người xảy ra.
Giết người với lỗi cố ý gián tiếp là trường hợp một người nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm, nhận thức được hậu quả chết người có thể xảy ra, tuy không mong muốn nhưng bỏ mặc cho hậu quả xảy ra.

3. Khách thể của tội giết người

Hành vi của người phạm tội giết người đã xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của con người.

4. Chủ thế của tội giết người

Chủ thể của tội giết người là chủ thể thường. Nghĩa là bất kỳ người nào từ 14 tuổi trở lên và có năng lực trách nhiệm hình sự đều có thể trở thể của tội giết người.Theo quy định tại Điều 12 của Bộ luật hình sự, thì người từ đủ 14 tuổi trở lên có năng lực trách nhiệm hình sự về tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng. Từ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm.

Phân biệt tội giết người và tội vô ý làm chết người

Theo quy định tại Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 (BLHS) quy định về tội giết người và vô ý làm chết người. Để cấu thành hai tội này yêu cầu hậu quả chết người phải xảy ra, vì thế bài viết này phân biệt giữa tội giết người và tội vô ý làm chết người.

Tiêu chí so sánh

Tội giết người

( Điều 123 )

Tội vô ý làm chết người

(Điều 128)

Chủ thể

Theo quy định tại Điều 12 của BLHS, thì người từ đủ 14 tuổi trở lên có năng lực trách nhiệm hình sự về tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng. Từ 16 tuổi trở lên: Chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm.

Mặt khách quan

Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả chết người có thể xảy ra và mong muốn hậu quả đó xảy ra hoặc để mặc hậu quả chết người xảy ra.

Người phạm tội tuy thấy chính hành vi của mình có thể gây ra hậu quả chết người nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra còn có thể ngăn ngừa được hoặc người phạm tội không thấy hành vi của mình có thể gây ra hậu quả chết người mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó.

Mặt khách thể

Là hành vi của người phạm tội giết người đã xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của con người.

Là quan hệ nhân thân mà nội dung là quyền sống của con người. Đối tượng tác động của tội phạm này là con người

Mặt chủ quan

Luôn thực hiện tội phạm này với lỗi cố ý (cố ý trực tiếp hoặc cố ý gián tiếp).

Thực hiện hành vi phạm tội của mình dưới hình thức lỗi do vô ý bao gồm cả vô ý do cẩu thả và vô ý do quá tự tin.

Hậu quả

– Yêu cầu phải có hậu quả chết người xảy ra thì mới cấu thành tội;

– Thực tiễn rất khó xác định yếu tố chủ quan của người phạm tội. Thông thường, sẽ xác định hậu quả đến đâu thì người phạm tội phải chịu trách nhiệm đến đó;

Khung hình phạt

các khung hình phạt với tội giết người quy định tại Điều 123 Bộ Luật Hình sự quy định như sau:

+ Người nào giết người thuộc một trong các trường hợp: Giết 2 người trở lên; giết người dưới 16 tuổi;…(khoản 1, Điều 123), thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình;

+ Phạm tội không thuộc các trường hợp nêu trên, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm;

+ Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm;

+ Người phạm tội còn có thể bị cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm.

Có hai khung hình phạt đối với tội vô ý làm chết người được quy định tại Điều 128 Bộ luật Hình sự như sau:

+ Vô ý làm chết một người thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ 1 đến 5 năm;

+ Vô ý làm chết hai người trở lên thì bị phạt tù từ ba đến 10 năm.

0988873883