NGƯỜI VIỆT NAM Ở NƯỚC NGOÀI NHỜ NGƯỜI Ở VIỆT NAM ĐỨNG TÊN MUA NHÀ ĐẤT-ÁN LỆ SỐ 2

Trường hợp người Việt Nam định cư ở nước ngoài đưa tiền cho người đang ở Việt Nam nhờ đứng tên nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, sau đó người được nhờ đứng tên ở Việt Nam đã quản lý rồi chuyển nhượng quyền sử dụng đất đó với giá trị cao hơn thì Tòa án buộc người được nhờ đứng tên trả lại khoản tiền gốc cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài, khoản tiền còn lại không bị tịch thu mà được coi là lợi nhuận chung và phải chia cho người được nhờ đứng tên ở Việt Nam tương ứng với công sức của họ trong việc bảo quản, giữ gìn, tôn tạo làm tăng giá trị đất; nếu không xác định được chính xác công sức thì khoản lợi nhuận đó được chia đều cho hai bên.

I.Quy định pháp luật

1.1. Khi giải quyết vụ án

Không có quy định của pháp luật cho phép người Việt Nam định cư ở nước ngoài được nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua bán nhà ở tại Việt Nam.

Điều 50 Luật Đất đai năm 1987 (hết hiệu lực ngày 15-10-1993)

Việc giao đất cho tổ chức, cá nhân nước ngoài, tổ chức quốc tế, tổ chức liên doanh, hợp tác của Việt Nam và nước ngoài để sử dụng do Hội đồng Bộ trưởng nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quyết định.

Điều 9 Nghị định số 30-HĐBT ngày 23-3-1989 của Hội đồng Bộ trưởng về việc thi hành Luật Đất đai

Việc giao đất cho người nước ngoài nói tại điều 50 Luật Đất đai này quy định như sau:

  1. Giao đất để xây dựng trụ sở cơ quan đại diện ngoại giao, lãnh sự và các cơ quan đại diện khác của nước ngoài được thực hiện trên cơ sở Hiệp định giữa Chính phủ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với Chính phủ nước ngoài hoặc tổ chức quốc tế hữu quan với hình thức giao đất có thời hạn.
  2. Giao đất để sản xuất kinh doanh theo Luật Đầu tư nước ngoài:
  3. a) Xí nghiệp có vốn 100% của nước ngoài được thuê đất theo luận chứng kinh tế – kỹ thuật đã được Ủy ban Nhà nước về hợp tác đầu tư phê chuẩn,
  4. b) Đối với xí nghiệp liên doanh thì giá trị khu đất được tinh vào phần vốn góp của phía Việt Nam.

Điều 80 Luật Đất đai năm 1993

Chính phủ quyết định việc cho các tổ chức, cá nhân nước ngoài, tổ chức quốc tế (gọi chung là người nước ngoài), người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuê đất.

Điều 15. Hợp đồng vô hiệu Pháp lệnh Hợp đồng dân sự năm 1991 (áp dụng vào thời điểm giao dịch)

  1. Hợp đồng vô hiệu toàn bộ trong các trường hợp sau đây:
  2. a) Nội dung hợp đồng vi phạm điều cấm của pháp luật hoặc trải với đạo đức xã hội;
  3. b) Một hoặc các bên không có quyền giao kết hợp đồng […]

Điều 16. Xử lý hợp đồng vô hiệu

  1. Hợp đồng vô hiệu không có giá trị từ thời điểm giao kết.
  2. Nếu hợp đồng chưa được thực hiện hoặc đã được thực hiện một phần, thì các bên không được tiếp tục thực hiện.
  3. Trong trường hợp hợp đồng đã được thực hiện một phần hoặc toàn bộ, thì các bên có nghĩa vụ hoàn trả cho nhau tài sản đã nhận, nếu tài sản đó không bị tịch thu theo quy định của pháp luật; nếu không hoàn trả được bằng hiện vật, thì phải hoàn trả bằng tiền.
  4. Bên có lỗi trong việc giao kết hợp đồng vô hiệu mà gây ra thiệt hại cho bên kia, thì phải bồi thường, trừ trường hợp bên bị thiệt hại biết rõ lý do làm cho hợp đồng vô hiệu mà vẫn giao kết.
  5. Khoản thu nhập không hợp pháp từ việc thực hiện hợp đồng vô hiệu phải bị tịch thu.

Bộ luật Dân sự năm 1995

Điều 137. Giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội

  1. Giao dịch dân sự có nội dung vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội, thì vô hiệu; tài sản giao dịch và hoa lợi, lợi tức thu được bị tịch thu, sung quỹ nhà nước. […]

Bộ luật Dân sự năm 2005

Điều 137. Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu

  1. Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm xác lập.
  2. Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận; nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì phải hoàn trả bằng tiền, trừ trường hợp tài sản giao dịch, hoa lợi, lợi tức thu được bị tịch thu theo quy định của pháp luật. Bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường

Điều 235. Xác lập quyền sở hữu đối với hoa lợi, lợi tức

Chủ sở hữu, người sử dụng tài sản có quyền sở hữu đối với hoa lợi, lợi tức theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật, kể từ thời điểm thu được hoa lợi, lợi tức đó.

1.2. Tại thời điểm công bố án lệ

Án lệ số 02 được ban hành vào ngày 06-4-2016. Tại thời điểm đó. pháp luật Việt Nam đã cho phép người Việt Nam định cư ở nước ngoài sở hữu nhà ở tại Việt Nam. Cụ thể:

Luật Nhà ở năm 2014

Điều 7. Đối tượng được sở hữu nhà ở tại Việt Nam

[…]

  1. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài […]

Luật Đất đai năm 2013

Điều 169. Nhận quyền sử dụng đất

  1. Người nhận quyền sử dụng đất được quy định như sau:

đ) Người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc diện được sở hữu nhà ở tại Việt Nam theo quy định của pháp luật về nhà ở được nhận chuyển quyền sử dụng đất ở thông qua hình thức mua, thuê mua, nhận thừa kế, nhận tặng cho nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở hoặc được nhận quyền sử dụng đất ở trong các dự án phát triển nhà ở; […]

Liên hệ Luật STC để được tư vấn về giao dịch dân sự
Liên hệ Luật STC để được tư vấn về giao dịch dân sự

II.Phân tích và bình luận

Căn cứ các quy định pháp luật áp dụng vào thời điểm người Việt Nam định cư ở nước ngoài nhờ người ở Việt Nam đứng tên “mua” đất, giao dịch đó bị cấm vì pháp luật tại thời điểm đó không cho phép người Việt Nam định cư ở nước ngoài nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất nói riêng và quyền sử dụng đất nói chung ở Việt Nam. Giao dịch đó được thực hiện vào thời điểm Pháp lệnh Hợp đồng dân sự có hiệu lực và bị điều chính bởi Pháp lệnh đó – Khoản 5 Điều 1.

Pháp lệnh quy định: “Khoản thu nhập không hợp pháp từ việc thực hiện hợp đồng vô hiệu phải bị tịch thu”. Do đó, các giao dịch tương tự đã bị Tòa án tuyên bố vô hiệu và khoản lợi nhuận thu được bị tịch thu.

Quy định trên vẫn tiếp tục được thể hiện tại BLDS 1995 về xử lý hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu. Tuy nhiên, đến BLDS 2005 đã không quy định “cứng nhắc” như trên mà chỉ quy định chung tại Điều 137 rằng hoa lợi, lợi tức có thể bị tịch thu “theo quy định của pháp luật”.

Theo nguyên tắc về áp dụng pháp luật để giải quyết vụ án thì lẽ ra trong trường hợp này phải áp dụng pháp luật có hiệu lực tại thời điểm giao dịch dân sự được xác lập và thực hiện. Tuy nhiên, HĐTP TANDTC đã chấp nhận nhận định được nêu trong Quyết định kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao (“Đối với chênh lệch giá trị đất, thời điểm xét xử sơ thẩm và xét xử phúc thẩm là thời điểm thi hành Bộ luật Dân sự năm 2005, không có quy định buộc phải tịch thu sung công quỹ nên khoản chênh lệch này bà Thảnh và ông Tám củng được hưởng”) để cho rằng Tòa án cấp phúc thẩm tịch thu sung công quỹ nhà nước khoản lợi nhuận là “không đúng với quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005″.

Có lẽ, HĐTP TANDTC đã tính đến sự thay đổi của pháp luật theo hưởng có lợi hơn đối với các đương sự để “áp dụng hồi tố”. Trong vụ việc này có hai quy định có lợi hơn đối với các đương sự. Thứ nhất, pháp luật đã cho phép người Việt Nam định cư ở nước ngoài được quyền sở hữu nhà, sử dụng đất ở Việt Nam trong một số trường hợp. Thứ hai, việc tịch thu hoa lợi, lợi tức thu được từ việc thực hiện giao dịch vô hiệu không phải là trong mọi trường hợp mà chỉ trong trường hợp pháp luật có quy định cụ thể.

Án lệ không nhận định rõ là giao dịch trong vụ án này có bị coi là vô hiệu hay không. Tòa án cấp phúc thẩm chắc đã quyết định giao dịch này là vô hiệu nên mới quyết định tịch thu khoản lợi nhuận này. Căn cứ vào việc án lệ không có nhận định về vấn đề này, đồng thời án lệ cùng dẫn chiếu đến Điều 137 BLDS 2005 (trong phần về “Quy định của pháp luật liên quan đến án lệ”), chúng tôi cho rằng HĐTP TANDTC có lẽ cũng coi giao dịch này là vô hiệu và án lệ này chỉ giới hạn trong việc đưa ra đường lối xử lý hậu quả của giao dịch vô hiệu liên quan đến hoa lợi, lợi tức thu được. Như vậy, án lệ số 02 đã không dựa trên các quy định của pháp luật áp dụng vào thời điểm giao dịch mà áp dụng các quy định của pháp luật vào thời điểm giải quyết vụ án theo hướng có lợi hơn cho các đương sự.

Án lệ số 02 không thể được khái quát hóa theo hướng công nhận việc “đầu tư chui” của người không được phép đầu tư, kinh doanh, bao gồm người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài…, thông qua người khác được phép đầu tư, kinh doanh.

Đối với những vụ án với tình tiết tương tự như việc “nhờ” đứng tên “mua” đất, bất động sản khác được thực hiện trong những năm gần đây khi mà pháp luật đã có quy định rõ ràng về những trường hợp nào người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài được quyền sử dụng đất, sở hữu bất động sản khác ở Việt Nam thì theo chúng tôi cần phải căn cứ theo các quy định đó để giải quyết.

Việc áp dụng Án lệ số 02 nếu không tính đến các yếu tố mang tính “xử lý tình huống” như chúng tôi phân tích ở trên rất có thể sẽ dẫn đến việc các bên vi phạm pháp luật về quản lý đất đai (không được phép mua bán, đầu tư nhưng thông qua người khác để mua bán, đầu tư) vì họ cho rằng cuối cùng nếu tranh chấp có xảy ra thì Tòa án cũng sẽ bảo vệ họ (được phép lấy lại vốn đầu tư, được chia lợi nhuận đầu tư). Ngoài ra, nếu không áp dụng án lệ một cách rất thận trọng thì có thể dẫn đến trường hợp rất nghiêm trọng là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài “bỏ tiền” mua bán nhà, đất với số lượng lớn và ở những vị trí nhạy cảm thông qua những người ở Việt Nam có quyền mua bán, trong khi chế độ sử dụng đất đai được quản lý chặt chẽ nhất là đối với người nước ngoài.

Vì vậy, theo chúng tôi, kết luận pháp lý từ Án lệ số 02 với nội dung như chúng tôi trình bày ở trên chỉ nên áp dụng trong những vụ án có các tình tiết cơ bản sau đây:

(i) Việc người Việt Nam định cư ở nước ngoài “nhờ đứng tên” xảy ra trong thời kỳ pháp luật đất đai chưa cho phép người Việt Nam định cư ở nước ngoài được quyền sử dụng đất, bất động sản khác tại Việt Nam;

(ii) Giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua bán bất động sản khác giữa “người dùng tên họ” và bên chuyển nhượng là hợp pháp,

(iii) Có lợi nhuận từ việc “đầu tư” nêu trên.

Ngoài ra, cũng cần lưu ý rằng việc áp dụng Án lệ số 02 rất thận trọng nếu như có sự thay đổi so với các tình tiết nêu trên. Ví dụ, trong các vụ án có một trong các trường hợp sau đây: người “nhờ” là người nước ngoài giao dịch mua bán được thực hiện trong khi pháp luật đã quy định rõ các trường hợp người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài được phép nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, bất động sản khác tại Việt Nam, theo chúng tôi Án lệ số 02 không được áp dụng.

Mọi thắc mắc liên quan, mời Quý Khách liên hệ: Công ty Luật TNHH STC

Văn phòng tại Hà Nội: Tầng 5, Tòa nhà AC, Ngõ 78, Phố Duy Tân, Phường Dịch Vọng Hậu, Quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội.

Hotline: 0988873883

Email: stclawfirm.vn@gmail.com

Website: https://stclawfirm.com/

Văn phòng tại Thành phố Hồ Chí Minh: Landmark 81, Vinhomes Central Park, số 208 Nguyễn Hữu Cảnh và số 720A Điện Biên Phủ, phường 22, quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh.

 

HIỆU LỰC HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM KHI KHÔNG ĐÓNG PHÍ BẢO HIỂM -ÁN LỆ SỐ 23

Trường hợp, hợp đồng bảo hiểm quy định thu phí bảo hiểm tại nhà của bên mua bảo hiểm mà việc không đóng phí bảo hiểm đúng hạn là do nhân viên doanh nghiệp bảo hiểm không đến nhà bên mua bảo hiểm thu phí thì hợp đồng bảo hiểm không thể bị coi là hết hiệu lực với lý do chậm đóng phi bảo hiểm.

  1. Quy định pháp luật
  2. Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000

Điều 18. Quyền và nghĩa vụ của bên mua bảo hiểm

  1. Bên mua bảo hiểm có nghĩa vụ:
  2. a) Đóng phí bảo hiểm đầy đủ, theo thời hạn và phương thức đã thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm; […]

Điều 23. Chấm dứt hợp đồng bảo hiểm

Ngoài các trường hợp chấm dứt hợp đồng theo quy định của Bộ luật Dân sự, hợp đồng bảo hiểm còn chấm dứt trong các trường hợp sau đây:

[…]

  1. Bên mua bảo hiểm không đóng đủ phí bảo hiểm trong thời gian gia hạn đóng phí bảo hiểm theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm.

Điều 35. Đóng phí bảo hiểm nhân thọ

  1. Bên mua bảo hiểm có thể đóng phí bảo hiểm một lần hoặc nhiều lần theo thời hạn, phương thức thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm.
  2. Trong trường hợp phí bảo hiểm được đóng nhiều lần và bên mua bảo hiểm đã đóng một hoặc một số lần phí bảo hiểm nhưng không thể đóng được các khoản phí bảo hiểm tiếp theo thì sau thời hạn 60 ngày, kể từ ngày gia hạn đóng phí, doanh nghiệp bảo hiểm có quyền đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng, bên mua bảo hiểm không có quyền đòi lại khoản phí bảo hiểm đã đóng nếu thời gian đã đóng phí bảo hiểm dưới hai năm, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.
  3. Bộ luật Dân sự năm 1995

Điều 308. Trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ dân sự

  1. Người có nghĩa vụ mà không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ, thì phải chịu trách nhiệm dân sự đối với người có quyền.
  2. Trong trường hợp người có nghĩa vụ không thể thực hiện được nghĩa vụ dân sự do sự kiện bất khả kháng, thì không phải chịu trách nhiệm dân sự, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.
  3. Người có nghĩa vụ không phải chịu trách nhiệm dân sự, nếu nghĩa vụ dân sự không thực hiện được là hoàn toàn do lỗi của người có quyền.

Điều 309. Lỗi trong trách nhiệm dân sự

  1. Người không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ dân sự, thì phải chịu trách nhiệm dân sự khi có lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác. […]

Các quy định của Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 nếu trên được giữ nguyên tại Luật Kinh doanh bảo hiểm được sửa đổi, bổ sung 2010.

  1. Bộ luật Dân sự năm 2015

Điều 351. Trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ

  1. Bên có nghĩa vụ mà vi phạm nghĩa vụ thì phải chịu trách nhiệm dân sự đối với bên có quyền. Vi phạm nghĩa vụ là việc bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ đúng thời hạn, thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ hoặc thực hiện không đúng nội dung của nghĩa vụ.
  2. Trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện đúng nghĩa vụ do sự kiện bất khả kháng thì không phải chịu trách nhiệm dân sự, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.
  3. Bên có nghĩa vụ không phải chịu trách nhiệm dân sự nếu chứng minh được nghĩa vụ không thực hiện được là hoàn toàn do lỗi của bên có quyền.

Điều 364. Lỗi trong trách nhiệm dân sự

Lỗi trong trách nhiệm dân sự bao gồm lỗi cố ý, lỗi vô ý.

Lỗi cố ý là trường hợp một người nhận thức rõ hành vi của mình sẽ gây thiệt hại cho người khác mà vẫn thực hiện và mong muốn hoặc tuy không mong muốn nhưng để mặc cho thiệt hại xảy ra.

Lỗi vô ý là trường hợp một người không thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại, mặc dù phải biết hoặc có thể biết trước thiệt hại sẽ xảy ra hoặc thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại, nhưng cho rằng thiệt hại sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được.

Liên hệ Luật STC để được luật sư tư vấn miễn phí về tranh chấp hợp đồng bảo hiểm
Liên hệ Luật STC để được luật sư tư vấn miễn phí về tranh chấp hợp đồng bảo hiểm
  1. Phân tích và bình luận

Trường hợp hợp đồng bảo hiểm quy định thu phí bảo hiểm tại nhà của bên mua bảo hiểm, mà việc không đóng phí bảo hiểm đúng hạn là do nhân viên doanh nghiệp bảo hiểm không đến nhà bên mua bảo hiểm thu phí, thì hợp đồng bảo hiểm không thể bị coi là hết hiệu lực với lý do chậm đóng phí bảo hiểm.

Căn cứ vào các quy định có sẵn của pháp luật dân sự về trách nhiệm dân sự, cụ thể là quy định về việc bên có nghĩa vụ không có lỗi trong vi phạm nghĩa vụ thì không phải chịu trách nhiệm dân sự (khoản 1 Điều 309 BLDS 1995) hoặc quy định về việc bên có nghĩa vụ không thực hiện được nghĩa vụ là hoàn toàn do lỗi của bên có quyền (khoản 3 Điều 308 BLDS 1995) thì không phải chịu trách nhiệm dân sự.

Theo điểm a khoản 2 Điều 18 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000, bên mua bảo hiểm có nghĩa vụ đóng phí bảo hiểm đầy đủ, theo thời hạn và phương thức đã thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm. Khoản 2 Điều 35 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 quy định trường hợp bên mua bảo hiểm đã đóng một hoặc một số lần phí bảo hiểm nhưng không thể đóng được các khoản phí bảo hiểm tiếp theo thì sau thời hạn 60 ngày, kể từ ngày gia hạn đóng phí, doanh nghiệp bảo hiểm có quyền đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng, bên mua bảo hiểm không có quyền đòi lại khoản phí bảo hiểm đã đóng nếu thời gian đã đóng phí bảo hiểm dưới hai năm, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.

Theo khoản 3 Điều 308 BLDS 1995, người có nghĩa vụ mà không thực hiện thì phải chịu trách nhiệm dân sự đối với người có quyền trừ trường hợp nghĩa vụ dân sự không thực hiện được là hoàn toàn do lỗi của bên về quyền. Trong vụ việc nêu tại án lệ, nghĩa vụ đóng phí bảo hiểm đúng hạn không được thực hiện là hoàn toàn do lỗi của bên có quyền (doanh nghiệp bảo hiểm) bởi lẽ nhân viên của doanh nghiệp đã không đến nhà bên mua bảo hiểm để thu phí như đã thỏa thuận tại hợp đồng bảo hiểm.

Ngoài ra, khoản 1 Điều 309 BLDS 1995 cũng quy định: “Người không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ dân sự, thì phải chịu trách nhiệm dân sự khi có lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác”. Quy định này cho thấy trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác, bên có nghĩa vụ chỉ chịu trách nhiệm đối với việc không thực hiện nghĩa vụ khi có lỗi (cố ý hoặc vô ý).

Trong vụ án nêu tại Án lệ số 23, rõ ràng rằng người mua bảo hiểm hoàn toàn không có lỗi trong việc không đóng phí bảo hiểm đúng hạn. Cũng không có quy định nào của pháp luật hoặc thỏa thuận giữa bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm về trách nhiệm đối với việc chậm đóng phí bảo hiểm, là trách nhiệm không phụ thuộc vào việc bên mua bảo hiểm có lỗi hay không có lỗi. Do đó, căn cứ điều luật trên thì bên mua bảo hiểm cũng không phải chịu trách nhiệm dân sự đối với việc không đóng phí bảo hiểm đúng hạn.

Từ các căn cứ pháp luật nêu trên cho thấy doanh nghiệp bảo hiểm không thể buộc bên mua bảo hiểm phải chịu trách nhiệm dân sự do nghĩa vụ đóng phí bảo hiểm đúng hạn đã không được thực hiện. Điều đó có nghĩa không thể coi hợp đồng bảo hiểm hết hiệu lực với lý do phí bảo hiểm đã không được thanh toán đúng hạn vì việc không thanh toán đúng hạn không phải do lỗi của bên mua bảo hiểm và hơn nữa đó là hoàn toàn do lỗi của doanh nghiệp bảo hiểm.

 

Mọi thắc mắc liên quan, mời Quý Khách liên hệ: Công ty Luật TNHH STC

Văn phòng tại Hà Nội: Tầng 5, Tòa nhà AC, Ngõ 78, Phố Duy Tân, Phường Dịch Vọng Hậu, Quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội.

Hotline: 0988873883

Email: stclawfirm.vn@gmail.com

Website: https://stclawfirm.com/

Văn phòng tại Thành phố Hồ Chí Minh: Landmark 81, Vinhomes Central Park, số 208 Nguyễn Hữu Cảnh và số 720A Điện Biên Phủ, phường 22, quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh.

HỢP ĐỒNG CHUYỂN NHƯỢNG NHÀ ĐẤT KHÔNG CÓ CHỮ KÝ CỦA VỢ HOẶC CHỒNG-ÁN LỆ SỐ 4

Việc chuyển nhượng nhà đất của vợ chồng theo quy định chung chỉ hợp pháp khi có đủ chữ ký của hai vợ chồng, tuy nhiên có trường hợp  chỉ có chữ ký vợ hoặc chồng nhưng người còn lại đã biết mà không phản đối, đã nhận toàn bộ tiền chuyển nhượng và người nhận chuyển nhượng đã sử dụng nhà đất đó thì được coi là hợp pháp.

I.QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT

  1. Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986

Điều 15 Tài sản chung được sử dụng để bảo đảm những nhu cầu chung của gia đình. […]

  1. Nghị quyết số 01/NQ-HĐTP ngày 20-01-1988 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình

[…]

  1. Chế độ tải sản vợ chồng (các điều 15, 16, 17, 18 và 42).
  2. Tài sản chung và tài sản riêng của vợ chồng.

[…]. Nếu là việc mua, bán, cầm cố tài sản mà pháp luật quy định phải có hợp đồng viết (như việc mua, bán nhà) thì vợ và chống đều phải ký vào hợp đồng và nếu chỉ có một bên ký thi phải có sự ủy nhiệm của vợ, chồng cho mình ký thay.

 

  1. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000

Điều 28. Chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung

[…]

  1. Tài sản chung của vợ chồng được chỉ dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện các nghĩa vụ chung của vợ chồng.

 

  1. Nghị định số 70/2001/NĐ-CP ngày 03-10-2001 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Hôn nhân và gia đình

Điều 4. Việc xác lập, thực hiện, chấm dứt các giao dịch dân sự liên quan đến tài sản của vợ, chồng

  1. Trong trường hợp việc xác lập, thực hiện hoặc chấm dứt các giao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung có giá trị lớn của vợ chồng …. phải tuân theo hình thức nhất định, thì sự thỏa thuận của vợ chồng cũng phải tuân theo hình thức đó (lập thành văn bản có chữ ký của vợ, chồng hoặc phải có công chứng, chứng thực)

 

  1. Bộ luật Dân sự năm 1995

Điều 176. Căn cứ xác lập quyền sở hữu

Quyền sở hữu được xác lập đối với tài sản trong các trường hợp sau đây:

  1. […]
  2. Được chuyển giao quyền sở hữu theo thỏa thuận hoặc theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; …

 

Điều 154. Hậu quả của giao dịch dân sự do người không có thẩm quyền đại diện xác lập, thực hiện

  1. Giao dịch dân sự do người không có thẩm quyền đại diện xác lập, thực hiện không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với người được đại diện, trừ trường hợp người được đại diện chấp thuận; [..]

 

Điều 155. Hậu quả của giao dịch dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện vượt quá thẩm quyền đại diện

  1. Giao dịch dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện vượt quá thẩm quyền đại diện không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với người. được đại diện, trừ trường hợp người được đại diện chấp thuận; […]

 

  1. Bộ luật Dân sự năm 2005

Điều 145. Hậu quả của giao dịch dân sự do người không có quyền đại diện xác lập, thực hiện

  1. Giao dịch dân sự do người không có quyền đại diện xác lập, thực hiện không làm phát sinh quyển, nghĩa vụ đối với người được đại diện, trở trường hợp người đại diện hoặc người được đại diện đồng ý. […]

 

Điểu 146. Hậu quả của giao dịch dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện vượt quá phạm vi đại diện

  1. Giao dịch dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện vượt quá phạm vi đại diện không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của người được đại diện đối với phần giao dịch được thực hiện vượt quá phạm vi đại diện, trừ trường hợp người được đại diện đồng ý hoặc biết mà không phản đối; …

 

Điều 234. Xác lập quyền sở hữu theo thỏa thuận

Người được giao tài sản thông qua hợp đồng mua bán, tặng cho, trao đổi, cho vay có quyền sở hữu tài sản đó, kể từ thời điểm chuyển giao tài sản, nếu các bên không có thỏa thuận khác hoặc pháp luật không có quy định khác.

 

  1. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014

Điều 35. Chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung

  1. […]
  2. Việc định đoạt tài sản chung phải có sự thỏa thuận bằng văn bản của vợ chồng trong những trường hợp sau đây: minh
  3. a) Bất động sản;
  4. b) Động sản mà theo quy định của pháp luật phải đăng ký quyền sở hữu;
  5. c) Tài sản đang là nguồn tạo ra thu nhập chủ yếu của gia đình.

 

  1. Bộ luật Dân sự năm 2015

Điều 142. Hậu quả của giao dịch dân sự do người không có quyền đại diện xác lập, thực hiện

  1. Giao dịch dân sự do người không có quyền đại diện xác lập, thực hiện không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với người được đại diện, trừ một trong các trường hợp sau đây:
  2. a) Người được đại diện đã công nhận giao dịch;
  3. b) Người được đại diện biết mà không phản đối trong một thời hạn hợp lý; […]

Điều 143. Hậu quả của giao dịch dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện vượt quá phạm vi đại diện

  1. Giao dịch dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện vượt quá phạm vi đại diện không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của người được đại diện đối với phần giao dịch được thực hiện vượt quá phạm vi đại diện, trừ một trong các trường hợp sau đây:
  2. a) Người được đại diện đồng ý;
  3. b) Người được đại diện biết mà không phản đối trong một thời hạn hợp lý

 

Điều 223. Xác lập quyền sở hữu theo hợp đồng

Người được giao tài sản thông qua hợp đồng mua bán, tặng cho, trao đổi, cho vay hoặc hợp đồng chuyển quyền sở hữu khác theo quy định của pháp luật thi có quyền sở hữu tài sản đó.

 

II.PHÂN TÍCH VÀ BÌNH LUẬN

Trong Án lệ số 04, hợp đồng chuyển nhượng nhà đất chỉ do người chồng ký, mà không có đủ chữ ký của hai vợ chồng cũng không có văn bản ủy quyền của người liên quan đến việc ký hợp đồng. Người vợ cho rằng không biết về việc chuyển nhượng đó nhưng các chứng cứ cho thấy người vợ đã biết việc chuyển nhượng và người nhận chuyển nhượng đã nhận, sử dụng nhà đất và sửa chữa nhà mà không phản đối. Ngoài ra, người vợ cùng chồng đã nhận đầy đủ số tiền chuyển nhượng.

Trong phần “Quy định của pháp luật liên quan đến án lệ” chỉ dẫn chiếu đến quy định tại khoản 2 Điều 176 BLDS 1995 về căn cứ xác lập quyền sở hữu theo thỏa thuận. Tuy nhiên, trong tình huống án lệ, giao dịch chuyển nhượng nhà đất của người chồng thuộc quyền sử dụng (đối với đất) và sở hữu (đối với nhà) chung của vợ chồng không có sự ủy quyền của người vợ cho người chồng đại diện mình để ký kết giao dịch đó. Như vậy, rõ ràng là người chồng đã xác lập, thực hiện giao dịch đó không có thẩm quyền đại diện cho người vợ, hợp đồng chỉ có chữ ký của chồng/vợ.

Tại thời điểm xác lập giao dịch nêu trên, căn cứ Điều 154 BLDS 1995 như đã dẫn chiếu ở trên thì giao dịch đó không phát sinh nghĩa vụ của người được đại diện (người vợ) chuyển nhượng quyền sử dụng đất và sở hữu nhà, trừ trường hợp người được đại diện (người vợ) chấp thuận. Theo quy định này, sự “chấp thuận” phải được hiểu là sự chấp thuận sau khi giao dịch đã được xác lập và thực hiện. BLDS 1995 không làm rõ khái niệm thế nào là chấp thuận. Tuy nhiên, việc người vợ đã cùng nhận số tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất, đã biết về việc người nhận chuyển nhượng về ở và sửa chữa nhà trên đất đó mà không có sự phản đối của người vợ tại thời điểm đó thì rõ ràng cho thấy người vợ (người được đại diện) đã chấp thuận việc xác lập và thực hiện việc chuyển nhượng nhà đất được thực hiện bởi người chồng đại diện cho mình mặc dù người chồng không có quyền đại diện. Như vậy, căn cứ Điều 154 BLDS 2015, người vợ có nghĩa vụ đối với việc xác lập và thực hiện việc chuyển nhượng nhà đất đó.

Thông qua Án lệ số 04, khái niệm “chấp thuận” cần được hiểu ở nghĩa rộng, cụ thể là bao gồm “biết mà không phản đối”. Chúng tôi cho rằng có lẽ án lệ này cũng đã tính đến quy định của pháp luật tại thời điểm ban hành án lệ. Cụ thể là theo điểm b khoản 1 Điều 142 BLDS 2015 thì giao dịch dân sự do người không có quyền đại diện xác lập, thực hiện không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với người được đại diện, trừ trường hợp người đại diện biết mà không phản đối trong một thời hạn hợp lý. Quy định này đã thay thế quy định về “người được đại diện chấp thuận” tại BLDS 1995 áp dụng vào thời điểm xác lập và thực hiện giao dịch trong vụ án được nêu tại án lệ.

Chúng tôi cho rằng Án lệ số 04 với nội dung “giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác của vợ chồng mà pháp luật quy định cần phải có sự đồng ý của cả vợ và chồng nhưng được xác lập và thực hiện chỉ bởi vợ hoặc chồng vẫn được coi là có hiệu lực” trong phạm vi giới hạn và đối với các vụ án có những tình tiết cơ bản sau đây:

  • Người vợ hoặc chồng không xác lập, thực hiện giao dịch nhưng đã biết mà không phản đối việc xác lập và thực hiện giao dịch đó; và

(ii)      Người nhận chuyển nhượng đã thực hiện các nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch.

Án lệ 04 gợi mở hướng giải quyết cho việc xét điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự và hậu quả do người không có quyền đại diện xác lập, thực hiện hoặc do người đại diện xác lập, thực hiện vượt quá thẩm quyền, song vẫn xác định giao dịch dân sự có hiệu lực nếu có 2 yếu tố sau:

  • Người được đại diện đó có biết mà không phản đối giao dịch đó hay không?
  • Và bên còn lại đã thực hiện hết các nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch chưa?
Liên hệ Luật STC để được luật sư tư vấn miễn phí về tranh chấp hợp đồng
Liên hệ Luật STC để được luật sư tư vấn miễn phí về tranh chấp hợp đồng

Mọi thắc mắc liên quan, mời Quý Khách liên hệ: Công ty Luật TNHH STC

Văn phòng tại Hà Nội: Tầng 5, Tòa nhà AC, Ngõ 78, Phố Duy Tân, Phường Dịch Vọng Hậu, Quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội.

Hotline: 0988873883

Email: stclawfirm.vn@gmail.com

Website: https://stclawfirm.com/

Văn phòng tại Thành phố Hồ Chí Minh: Landmark 81, Vinhomes Central Park, số 208 Nguyễn Hữu Cảnh và số 720A Điện Biên Phủ, phường 22, quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh.

ÁN LỆ SỐ 20:  XÁC LẬP HỢP ĐỒNG SAU KHI HẾT THỜI GIAN THỬ VIỆC

Trường hợp hết thời hạn thử việc mà người sử dụng lao động không có thông báo về kết quả thử việc, không có chứng cứ chứng minh người sử dụng lao động và người lao động gia hạn thời gian thử việc, người lao động vẫn tiếp tục làm việc và người sử dụng lao động nhận thức rằng sau khi kết thúc thời gian thử việc (60 ngày) nếu chưa ký hợp đồng lao động thì người lao động được làm việc chính thức theo loại hợp đồng xác định thời hạn 12 tháng, được coi là người sử dụng lao động và người lao động đã ký kết hợp đồng lao động xác định thời hạn 12 tháng.

1/Quy định pháp luật có liên quan

1.1. Nghị định 44/2003/NĐ-CP

Điều 7. Người sử dụng lao động và người lao động thoả thuận về việc làm thử quy định tại Điều 32 của Bộ luật Lao động được quy định như sau:

  1. Thời gian thử việc không được quá 60 ngày đối với công việc có chức danh nghề cần trình độ chuyên môn, kỹ thuật từ cao đẳng trở lên.
  2. Thời gian thử việc không được quá 30 ngày đối với chức danh nghề cần trình độ trung cấp, công nhân kỹ thuật, nhân viên nghiệp vụ.
  3. Thời gian thử việc không được quá 6 ngày đối với những lao động khác.
  4. Hết thời gian thử việc, người sử dụng lao động thông báo kết quả làm thử cho người lao động. Nếu đạt yêu cầu hai bên phải tiến hành ký kết hợp đồng lao động hoặc người lao động không được thông báo mà vẫn tiếp tục làm việc thì người đó đương nhiên được làm việc chính thức.

 

  1. Nghị định 44/2013/NĐ-CP

Điều 13. Hiệu lực thi hành

  1. Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2013.
  2. Nghị định số 44/2003/NĐ-CP ngày 09 tháng 5 năm 2003 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật lao động về hợp đồng lao động và các quy định trước đây trái với quy định tại Nghị định này hết hiệu lực thi hành kể từ ngày Nghị định này có hiệu lực.
  3. Bộ luật lao động 2012

Điều 26. Thử việc

  1. Người sử dụng lao động và người lao động có thể thoả thuận về việc làm thử, quyền, nghĩa vụ của hai bên trong thời gian thử việc. Nếu có thoả thuận về việc làm thử thì các bên có thể giao kết hợp đồng thử việc.

Nội dung của hợp đồng thử việc gồm các nội dung quy định tại các điểm a, b, c, d, đ, g và h khoản 1 Điều 23 của Bộ luật này.

  1. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động mùa vụ thì không phải thử việc.

Điều 27. Thời gian thử việc

Thời gian thử việc căn cứ vào tính chất và mức độ phức tạp của công việc nhưng chỉ được thử việc 01 lần đối với một công việc và bảo đảm các điều kiện sau đây:

  1. Không quá 60 ngày đối với công việc có chức danh nghề cần trình độ chuyên môn, kỹ thuật từ cao đẳng trở lên;
  2. Không quá 30 ngày đối với công việc có chức danh nghề cần trình độ chuyên môn kỹ thuật trung cấp nghề, trung cấp chuyên nghiệp, công nhân kỹ thuật, nhân viên nghiệp vụ.
  3. Không quá 6 ngày làm việc đối với công việc khác.

 

Điều 29. Kết thúc thời gian thử việc

  1. Khi việc làm thử đạt yêu cầu thì người sử dụng lao động phải giao kết hợp đồng lao động với người lao động.
  2. Trong thời gian thử việc, mỗi bên có quyền huỷ bỏ thoả thuận thử việc mà không cần báo trước và không phải bồi thường nếu việc làm thử không đạt yêu cầu mà hai bên đã thoả thuận.
  3. Bộ Luật lao động 2019

Điều 24. Thử việc

  1. Người sử dụng lao động và người lao động có thể thỏa thuận nội dung thử việc ghi trong hợp đồng lao động hoặc thỏa thuận về thử việc bằng việc giao kết hợp đồng thử việc.
  2. Nội dung chủ yếu của hợp đồng thử việc gồm thời gian thử việc và nội dung quy định tại các điểm a, b, c, đ, g và h khoản 1 Điều 21 của Bộ luật này.
  3. Không áp dụng thử việc đối với người lao động giao kết hợp đồng lao động có thời hạn dưới 01 tháng.

 

Điều 25. Thời gian thử việc

Thời gian thử việc do hai bên thỏa thuận căn cứ vào tính chất và mức độ phức tạp của công việc nhưng chỉ được thử việc một lần đối với một công việc và bảo đảm điều kiện sau đây:

  1. Không quá 180 ngày đối với công việc của người quản lý doanh nghiệp theo quy định của Luật Doanh nghiệp, Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp;
  2. Không quá 60 ngày đối với công việc có chức danh nghề nghiệp cần trình độ chuyên môn, kỹ thuật từ cao đẳng trở lên;
  3. Không quá 30 ngày đối với công việc có chức danh nghề nghiệp cần trình độ chuyên môn, kỹ thuật trung cấp, công nhân kỹ thuật, nhân viên nghiệp vụ;
  4. Không quá 06 ngày làm việc đối với công việc khác.

 

Điều 27. Kết thúc thời gian thử việc

1.Khi kết thúc thời gian thử việc, người sử dụng lao động phải thông báo kết quả thử việc cho người lao động.

Trường hợp thử việc đạt yêu cầu thì người sử dụng lao động tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động đã giao kết đối với trường hợp thỏa thuận thử việc trong hợp đồng lao động hoặc phải giao kết hợp đồng lao động đối với trường hợp giao kết hợp đồng thử việc.

Trường hợp thử việc không đạt yêu cầu thì chấm dứt hợp đồng lao động đã giao kết hoặc hợp đồng thử việc.

2.Trong thời gian thử việc, mỗi bên có quyền hủy bỏ hợp đồng thử việc hoặc hợp đồng lao động đã giao kết mà không cần báo trước và không phải bồi thường.

2.Phân tích bình luận

Theo quy định tại Điều 29 Bộ luật Lao động 2012 thì hết thời hạn thử việc người sử dụng lao động phải ký kết hợp đồng lao động với người lao động trong trường hợp việc làm thử đạt yêu cầu. Không có quy định nào trong Bộ luật này về việc nếu hết thời hạn thử việc mà người lao động không được thông báo kết quả thử việc và tiếp tục làm việc thì xử lý như thế nào.

Trước đó, tại khoản 4 Điều 7 Nghị định số 44/2003/NĐ-CP ngày 09-5-2003 như trích dẫn ở trên có quy định trường hợp hết thời gian thử việc người lao động không được thông báo kết quả thử việc và tiếp tục làm việc thì người lao động đương nhiên được coi là người lao động chính thức và hai bên coi như đã giao kết hợp đồng lao động.

Tuy nhiên, theo Nghị định số 44/2013/NĐ-CP ngày 10-5-2013 thì Nghị định số 44/2003/NĐ-CP ngày 09-5-2003 hết hiệu lực thi hành kể từ ngày 01-7-2013. Án lệ áp dụng quy định tại khoản 4 Điều 7 Nghị định 44/2003/NĐ-CP, bởi quy định này không được đặt ra tại nghị định định 44/2013/NĐ-CP, vì vậy quy định cũ không trái với quy định mới, như vậy quy định cũ không bị hết hiệu lực pháp luật dù đã có văn bản mới thay thế.

Căn cứ để HĐTP TANDTC dựa ra kết luận pháp lý tại án lệ này bao gồm hai tình tiết cơ bản:

  • không có chứng cứ chứng minh hai bên đã gia hạn thời gian thử việc;
  • người sử dụng lao động nhận thức rằng nếu hết thời hạn thử việc mà người lao động tiếp tục làm việc nhưng chưa ký hợp đồng lao động thì người lao động được làm việc chính thức theo loại hợp đồng xác định thời hạn 12 tháng.

Về tình tiết (i) nêu trên (không có chứng cứ chứng minh hai bên đã gia hạn thời hạn thử việc), chúng tôi cho rằng tình tiết này không quan trọng và thực chất là không cần thiết. Bởi lẽ, Điều 27 Bộ luật Lao động 2012 đã quy định rõ là “chỉ được thử việc một lần”, nghĩa là không được phép gia hạn thời gian thử việc. Vậy tại sao HĐTP TANDTC lại đề cập đến tình tiết này? Chúng tôi cho rằng, có lẽ việc nêu tình tiết này để chứng minh một điểm duy nhất là người lao động nhận thức rằng đã trở thành người lao động chính thức mà không phải là đang tiếp tục thử việc. Vấn đề này liên quan đến tình tiết (ii) sẽ phân tích dưới đây.

Như vậy, chỉ còn tình tiết (ii) nêu trên (người sử dụng lao động nhận thức rằng nếu hết thời hạn thử việc mà người lao động tiếp tục làm việc nhưng chưa ký hợp đồng lao động thì người lao động được làm việc chính thức theo loại hợp đồng xác định thời hạn 12 tháng) là căn cứ để coi rằng hai bên đã ký kết hợp đồng lao động.

Chúng tôi cho rằng HĐTP TANDTC đã hợp lý khi đưa ra kết luận như vậy. Bởi lẽ, tại thời điểm kết thúc thời gian thử việc, khi người lao động tiếp tục làm việc cho người sử dụng lao động, người lao động ý thức rằng quan hệ lao động vẫn tiếp tục mà quan hệ đó không phải là quan hệ thử việc. Còn đối với người sử dụng lao động, người sử dụng lao động cũng ý thức rằng người lao động đang làm việc cho mình theo quan hệ lao động có thời hạn xác định là 12 tháng. Và như vậy, về bản chất hai bên đều đã xác lập quan hệ lao động (hợp đồng) mặc dù chưa ký kết hợp đồng lao động.

Căn cứ duy nhất để đưa ra kết luận của Án lệ số 20 là phải có chứng cứ chứng minh về ý thức chủ quan của cả hai bên (người sử dụng lao động và người lao động) tại thời điểm kết thúc thời hạn thử việc là: nếu người lao động tiếp tục làm việc cho người sử dụng lao động thì mỗi bên đều coi việc tiếp tục làm việc đó không còn là thử việc, mà là theo hợp đồng lao động chính thức cho dù hai bên chưa ký kết hợp đồng lao động.

Liên hệ Luật STC để được tư vấn về pháp luật lao động
Liên hệ Luật STC để được tư vấn về pháp luật lao động

Mọi thắc mắc liên quan, mời Quý Khách liên hệ: Công ty Luật TNHH STC

Văn phòng tại Hà Nội: Tầng 5, Tòa nhà AC, Ngõ 78, Phố Duy Tân, Phường Dịch Vọng Hậu, Quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội.

Hotline: 0988873883

Email: stclawfirm.vn@gmail.com

Website: https://stclawfirm.com/

Văn phòng tại Thành phố Hồ Chí Minh: Landmark 81, Vinhomes Central Park, số 208 Nguyễn Hữu Cảnh và số 720A Điện Biên Phủ, phường 22, quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh.

 

 

Án treo và các điều kiện áp dụng

Án treo là một chế định hình sự xuất hiện từ rất sớm. Thể hiện nội dung khoan hồng, tính nhân đạo xã hội chủ nghĩa trong pháp luật hình sự của nhà nước ta, mặt khác cũng thể hiện chính sách nghiêm trị kết hợp với giáo dục, khoan hồng của Đảng và Nhà nước khi xét thấy người phạm tội không nguy hiểm tới mức nếu để ngoài xã hội, không những không ảnh hưởng xấu đến tình hình phòng ngừa và chống tội phạm, mà còn có tác dụng tốt đối với việc giáo dục họ, tạo điều kiện thuận lợi hơn để họ có thể cải tạo tốt để trở thành người có ích cho xã hội.

1.Án treo là gì?

Án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện, được Tòa án áp dụng đối với người phạm tội bị phạt tù không quá 03 năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, xét thấy không cần bắt họ phải chấp hành hình phạt tù.

2.Điều kiện hưởng án treo

Những căn cứ để áp dụng án treo đối với người bị phạt tù là những yêu cầu, đòi hỏi bắt buộc do pháp luật hình sự quy định đối với người đó mà chỉ khi nào có đầy đủ những căn cứ đó thì Tòa án mới được áp dụng đối với họ.

Người bị xử phạt tù có thể được xem xét cho hưởng án treo khi có đủ các điều kiện sau đây:

– Bị xử phạt tù không quá 03 năm

– Có nhân thân tốt hướng dẫn cụ thể tại Điểm a Khoản 1 Điều 1 Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP

– Có nhiều hơn từ 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trở lên so với tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong đó có ít nhất 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự 2015.

– Có nơi cư trú rõ ràng hoặc nơi làm việc ổn định để cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giám sát, giáo dục.

– Xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù nếu người phạm tội có khả năng tự cải tạo và việc cho họ hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

– Khi xem xét, quyết định cho bị cáo hưởng án treo Tòa án phải xem xét thận trọng, chặt chẽ các điều kiện để bảo đảm việc cho hưởng án treo đúng quy định của pháp luật, đặc biệt là đối với các trường hợp hướng dẫn tại khoản 2, khoản 4 và khoản 5 Điều 3 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP

Liên hê Luật STC để được tư vấn miễn phí các quy định của Bộ luật Hình sự
Liên hê Luật STC để được tư vấn miễn phí các quy định của Bộ luật Hình sự

3.Các trường hợp không được hưởng án treo

Các trường hợp không được hưởng quy định tại Điều 3 nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP và các điểm a,b,c khoản 2 Điều 1 nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP

Các trường hợp được đưa ra theo cách liệt kê bao gồm:

– Người phạm tội là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, ngoan cố chống đối, côn đồ, dùng thủ đoạn xảo quyệt, có tính chất chuyên nghiệp, lợi dụng chức vụ quyền hạn để trục lợi, cố ý gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

– Người thực hiện hành vi phạm tội bỏ trốn và đã bị các cơ quan tiến hành tố tụng truy nã hoặc yêu cầu truy nã, trừ trường hợp đã ra đầu thú trước khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử

– Người được hưởng án treo phạm tội mới trong thời gian thử thách; người đang được hưởng án treo bị xét xử về một tội phạm khác thực hiện trước khi được hưởng án treo

– Người phạm tội bị xét xử trong cùng một lần về nhiều tội, trừ một trong các trường hợp sau đây:

+ Người phạm tội là người dưới 18 tuổi

+ Người phạm tội bị xét xử và kết án về 02 tội đều là tội phạm ít nghiêm trọng hoặc người phạm tội là người giúp sức trong vụ án đồng phạm với vai trò không đáng kể

– Người phạm tội 02 lần trở lên, trừ một trong các trường hợp sau:

+ Người phạm tội là người dưới 18 tuổi;

+ Các lần phạm tội đều là tội phạm ít nghiêm trọng;

+ Các lần phạm tội, người phạm tội là người giúp sức trong vụ án đồng phạm với vai trò không đáng kể;

+ Các lần phạm tội do người phạm tội tự thú

–  Người phạm tội thuộc trường hợp tái phạm, tái phạm nguy hiểm.

  1. Thời gian thử thách

Khi cho người phạm tội hưởng án treo, Tòa án phải ấn định thời gian thử thách bằng hai lần mức hình phạt tù, nhưng không được dưới 01 năm và không được quá 05 năm.

Thời điểm bắt đầu tính thời gian thử thách được xác định căn cứ theo Điều 5 nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP và khoản 4 Điều 1 nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP:

– Trường hợp Tòa án cấp sơ thẩm cho hưởng án treo, bản án không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm thì thời điểm bắt đầu tính thời gian thử thách là ngày tuyên án sơ thẩm.

– Trường hợp Tòa án cấp sơ thẩm cho hưởng án treo, Tòa án cấp phúc thẩm cũng cho hưởng án treo thì thời điểm bắt đầu tính thời gian thử thách là ngày tuyên án sơ thẩm.

– Trường hợp Tòa án cấp sơ thẩm không cho hưởng án treo, Tòa án cấp phúc thẩm cho hưởng án treo thì thời điểm bắt đầu tính thời gian thử thách là ngày tuyên án phúc thẩm.

– Trường hợp Tòa án cấp sơ thẩm cho hưởng án treo, Tòa án cấp phúc thẩm không cho hưởng án treo, nhưng Hội đồng giám đốc thẩm hủy bản án phúc thẩm để xét xử phúc thẩm lại và Tòa án cấp phúc thẩm cho hưởng án treo thì thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

– Trường hợp Tòa án cấp sơ thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm cho hưởng án treo, nhưng Hội đồng giám đốc thẩm hủy bản án sơ thẩm, bản án phúc thẩm để điều tra hoặc xét xử lại và sau khi xét xử sơ thẩm lại, xét xử phúc thẩm lại, Tòa án cấp sơ thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm vẫn cho hưởng án treo thì thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm hoặc tuyên án phúc thẩm lần đầu.

– Trường hợp Tòa án cấp sơ thẩm không cho hưởng án treo, bản án không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, nhưng Hội đồng giám đốc thẩm sửa bản án sơ thẩm cho hưởng án treo thì thời gian thử thách tính từ ngày quyết định giám đốc thẩm có hiệu lực.

– Trường hợp Tòa án cấp sơ thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm không cho hưởng án treo, nhưng Hội đồng giám đốc thẩm sửa bản án phúc thẩm cho hưởng án treo thì thời gian thử thách tính từ ngày quyết định giám đốc thẩm có hiệu lực.

– Trường hợp Tòa án cấp sơ thẩm cho hưởng án treo, Tòa án cấp phúc thẩm không cho hưởng án treo, nhưng Hội đồng giám đốc thẩm hủy bản án phúc phẩm, giữ nguyên bản án sơ thẩm hoặc Hội đồng giám đốc thẩm sửa bản án phúc thẩm cho hưởng án treo, thì thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

– Trường hợp Tòa án cấp sơ thẩm cho hưởng án treo nhưng Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm để điều tra hoặc xét xử lại và sau khi xét xử sơ thẩm lại, Tòa án cấp sơ thẩm vẫn cho hưởng án treo thì thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm lần sau

Để tìm hiểu thêm chi tiết về vấn đề này bạn đọc có thể liên hệ Luật STC hoặc tìm đọc thêm tại các văn bản :

-Điều 65 Bộ luật hình sự 2015

-Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP

-Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP

Mọi thắc mắc liên quan, mời Quý Khách liên hệ: Công ty Luật TNHH STC

Văn phòng tại Hà Nội: Tầng 5, Tòa nhà AC, Ngõ 78, Phố Duy Tân, Phường Dịch Vọng Hậu, Quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội.

Hotline: 0988873883

Email: stclawfirm.vn@gmail.com

Website: https://stclawfirm.com/

Văn phòng tại Thành phố Hồ Chí Minh: Landmark 81, Vinhomes Central Park, số 208 Nguyễn Hữu Cảnh và số 720A Điện Biên Phủ, phường 22, quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh.

 

 

 

 

 

NỘI QUY PHIÊN TÒA XÉT XỬ VỤ ÁN DÂN SỰ

Khi tham gia phiên tòa dân sự, người có mặt tại phiên tòa phải chấp hành những yêu cầu gì. Quy định của Bộ luật tố tụng dân sự 2015 về Nội quy phiên tòa đã nêu những yêu cầu cơ bản mà người có mặt tại phiên tòa phải chấp hành, cụ thể:

1.Nội quy phiên tòa là gì?

Nội quy phiên tòa là quy định về nguyên tắc xử xự của các chủ thể tại phiên tòa, có tính chất bắt buộc đối với các chủ thể phải tuân theo khi tham gia tố tụng tại phiên tòa nhằm bảo đảm cho việc xét xử được trang nghiêm, bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự cho những người tham gia phiên tòa, tạo điều kiện cho việc xét xử của Tòa án.

 2.Các nội dung cụ thể của Nội quy phiên tòa.

Điều 234 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 quy định về nội quy phiên tòa gồm các yêu cầu sau:

  1. Khi vào phòng xử án, mọi người đều phải chấp hành việc kiểm tra an ninh của lực lượng có trách nhiệm bảo vệ phiên tòa.
  2. Nghiêm cấm mang vào phòng xử án vũ khí, hung khí, chất nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, đồ vật cấm lưu hành, truyền đơn, khẩu hiệu và tài liệu, đồ vật khác ảnh hưởng đến sự tôn nghiêm của phiên tòa, trừ vật chứng của vụ án phục vụ cho công tác xét xử hoặc vũ khí, công cụ hỗ trợ được người có thẩm quyền mang theo để làm nhiệm vụ bảo vệ phiên tòa.
  3. Người tham gia phiên tòa theo yêu cầu của Tòa án phải xuất trình giấy triệu tập, giấy mời, các giấy tờ có liên quan khác cho Thư ký phiên tòa tại bàn thư ký chậm nhất là 15 phút trước giờ khai mạc phiên tòa và ngồi đúng vị trí trong phòng xử án theo hướng dẫn của Thư ký phiên tòa; trường hợp đến muộn thì phải xuất trình giấy triệu tập, giấy mời, các giấy tờ có liên quan khác cho Thư ký phiên tòa thông qua lực lượng làm nhiệm vụ bảo vệ phiên tòa.
  4. Nhà báo tham dự phiên tòa để đưa tin về diễn biến phiên tòa phải chấp hành sự điều khiển của chủ tọa phiên tòa về khu vực tác nghiệp. Nhà báo ghi âm lời nói, ghi hình ảnh của Hội đồng xét xử phải được sự đồng ý của chủ tọa phiên tòa. Việc ghi âm lời nói, ghi hình ảnh của đương sự, người tham gia tố tụng khác phải được sự đồng ý của họ.
  5. Mọi người tham dự phiên tòa phải có trang phục nghiêm chỉnh; có thái độ tôn trọng Hội đồng xét xử, giữ trật tự và tuân theo sự điều khiển của chủ tọa phiên tòa.
  6. Không đội mũ, nón, đeo kính màu trong phòng xử án, trừ trường hợp có lý do chính đáng và được sự đồng ý của chủ tọa phiên tòa; không sử dụng điện thoại di động, không hút thuốc, không ăn uống trong phòng xử án hoặc có hành vi khác ảnh hưởng đến sự tôn nghiêm của phiên tòa.
  7. Người tham gia phiên tòa theo yêu cầu của Tòa án phải có mặt tại phiên tòa trong suốt thời gian xét xử vụ án, trừ trường hợp được chủ tọa phiên tòa đồng ý cho rời khỏi phòng xử án khi có lý do chính đáng.

Người dưới mười sáu tuổi không được vào phòng xử án, trừ trường hợp được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa.

  1. Mọi người trong phòng xử án phải đứng dậy khi Hội đồng xét xử vào phòng xử án và khi tuyên án, trừ trường hợp đặc biệt được sự đồng ý của chủ tọa phiên tòa.
  2. Chỉ những người được Hội đồng xét xử đồng ý mới được hỏi, trả lời hoặc phát biểu. Người hỏi, trả lời hoặc phát biểu phải đứng dậy, trừ trường hợp vì lý do sức khỏe được chủ tọa phiên tòa đồng ý cho ngồi để hỏi, trả lời, phát biểu.

Trên đây là các yêu cầu bắt buộc đối với những người được tham gia phiên tòa. Nếu vi phạm nội quy phiên tòa, tùy tính chất mức độ mà người vi phạm có thể bị xử phạt.

Liên hê Luật STC để được tư vấn miễn phí
Liên hê Luật STC để được tư vấn miễn phí

Mọi thắc mắc liên quan, mời Quý Khách liên hệ: Công ty Luật TNHH STC

Văn phòng tại Hà Nội: Tầng 5, Tòa nhà AC, Ngõ 78, Phố Duy Tân, Phường Dịch Vọng Hậu, Quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội.

Hotline: 0988873883

Email: stclawfirm.vn@gmail.com

Website: https://stclawfirm.com/

Văn phòng tại Thành phố Hồ Chí Minh: Landmark 81, Vinhomes Central Park, số 208 Nguyễn Hữu Cảnh và số 720A Điện Biên Phủ, phường 22, quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh.

 

 

HẬU QUẢ TẠM ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ VÀ THỜI ĐIỂM TÒA ÁN TIẾP TỤC GIẢI QUYẾT VỤ ÁN

Khi tòa án ra Quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự thì tính chất pháp lý của vụ án sẽ như thế nào? Khi nào tòa án tiếp tục giải quyết vụ án?

1.Hậu quả của việc tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự như sau theo Điều 215 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

– Tòa án không xóa tên vụ án dân sự bị tạm đình chỉ giải quyết trong sổ thụ lý mà chỉ ghi chú vào sổ thụ lý số và ngày, tháng, năm của quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự đó.

– Tiền tạm ứng án phí, lệ phí mà đương sự đã nộp được gửi tại kho bạc nhà nước và được xử lý khi Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án dân sự.

– Trường hợp tạm đình chỉ theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 214 của Bộ luật này thì trước khi tạm đình chỉ, Chánh án Tòa án đang giải quyết vụ án phải có văn bản đề nghị Chánh án Tòa án nhân dân tối cao kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên theo quy định tại Điều 221 của Bộ luật này.

Trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày nhận được văn bản kiến nghị của Tòa án, cơ quan có thẩm quyền phải có văn bản trả lời. Hết thời hạn này mà cơ quan có thẩm quyền không có văn bản trả lời thì Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án theo thủ tục chung.

– Trong thời gian tạm đình chỉ giải quyết vụ án, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án vẫn phải có trách nhiệm về việc giải quyết vụ án.

Sau khi có quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án quy định tại khoản 1 Điều 214 của Bộ luật này, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án có trách nhiệm theo dõi, đôn đốc cơ quan, tổ chức, cá nhân nhằm khắc phục trong thời gian ngắn nhất những lý do dẫn tới vụ án bị tạm đình chỉ để kịp thời đưa vụ án ra giải quyết.

– Quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

Liên hệ Luật STC để được tư vấn miễn phí
Liên hệ Luật STC để được tư vấn miễn phí

2. Thời điểm tòa án phải tiếp tục giải quyết vụ án.

Điều 216 về Quyết định tiếp tục giải quyết vụ án dân sự quy định thì:

Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày lý do tạm đình chỉ quy định tại Điều 214 của Bộ luật này không còn thì Tòa án phải ra quyết định tiếp tục giải quyết vụ án dân sự và gửi quyết định đó cho đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện, Viện kiểm sát cùng cấp.

Do đó, quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự hết hiệu lực kể từ ngày ban hành quyết định tiếp tục giải quyết vụ án dân sự. Tòa án sẽ bắt đầu giải quyết tiếp vụ án kể từ khi ban hành quyết định này.

Mọi thắc mắc liên quan, mời Quý Khách liên hệ: Công ty Luật TNHH STC

Văn phòng tại Hà Nội: Tầng 5, Tòa nhà AC, Ngõ 78, Phố Duy Tân, Phường Dịch Vọng Hậu, Quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội.

Hotline: 0988873883

Email: stclawfirm.vn@gmail.com

Website: https://stclawfirm.com/

Văn phòng tại Thành phố Hồ Chí Minh: Landmark 81, Vinhomes Central Park, số 208 Nguyễn Hữu Cảnh và số 720A Điện Biên Phủ, phường 22, quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh.

 

THỜI ĐIỂM TÒA ÁN RA QUYẾT ĐỊNH CÔNG NHẬN SỰ THỎA THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ

Khi các đương sự trong vụ án dân sự thỏa thuận hòa giải được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án thì theo quy định tại Điều 212 Bộ luật tố tụng dân sự, tòa án sẽ ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, cụ thể:

1.Thời hạn tòa án phải ban hành quyết định

Hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản hòa giải thành mà không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận đó thì Thẩm phán chủ trì phiên hòa giải hoặc một Thẩm phán được Chánh án Tòa án phân công phải ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.

Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định trên, Tòa án phải gửi quyết định đó cho các đương sự và Viện kiểm sát cùng cấp.

2.Điều kiện để vụ án được công nhận hòa giải thành

Thẩm phán chỉ ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự nếu các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án.

Như vậy, nếu chỉ còn một nội dung mà các đương sự không thỏa thuận được vụ án cũng không thể được coi là hòa giải thành. Nội dung chưa hòa giải thành tiếp tục được giải quyết theo quy định.

3.Trường hợp có đương sự vắng mặt buổi hòa giải thành.

Trong trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 210 của Bộ luật này mà các đương sự có mặt thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án thì thỏa thuận đó chỉ có giá trị đối với những người có mặt và được Thẩm phán ra quyết định công nhận nếu không ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ của đương sự vắng mặt. Trường hợp thỏa thuận của họ có ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ của đương sự vắng mặt thì thỏa thuận này chỉ có giá trị và được Thẩm phán ra quyết định công nhận nếu được đương sự vắng mặt tại phiên hòa giải đồng ý bằng văn bản.

4. Hiệu lực của quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự – Điều 213.

4.1. Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

4.2 Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự chỉ có thể bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm nếu có căn cứ cho rằng sự thỏa thuận đó là do bị nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa, cưỡng ép hoặc vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội.

Mời Quý Khách liên hệ: Công ty Luật TNHH STC

Văn phòng tại Hà Nội: Tầng 5, Tòa nhà AC, Ngõ 78, Phố Duy Tân, Phường Dịch Vọng Hậu, Quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội.

Hotline: 0988873883

Email: stclawfirm.vn@gmail.com

Website: https://stclawfirm.com/

Văn phòng tại Thành phố Hồ Chí Minh: Landmark 81, Vinhomes Central Park, số 208 Nguyễn Hữu Cảnh và số 720A Điện Biên Phủ, phường 22, quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh.

 

8 CĂN CỨ TẠM ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ

            Trong quá trình giải quyết vụ án dân sự, khi có một trong các yếu tố sau đây, thẩm phán giải quyết vụ án sẽ phải ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án. 8 căn cứ này được quy định tại Điều 214 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

1.Tòa án ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự khi có một trong các căn cứ sau đây:

a) Đương sự là cá nhân đã chết, cơ quan, tổ chức đã hợp nhất, sáp nhập, chia, tách, giải thể mà chưa có cơ quan, tổ chức, cá nhân kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của cơ quan, tổ chức, cá nhân đó;

b) Đương sự là cá nhân mất năng lực hành vi dân sự, người chưa thành niên mà chưa xác định được người đại diện theo pháp luật;

c) Chấm dứt đại diện hợp pháp của đương sự mà chưa có người thay thế;

d) Cần đợi kết quả giải quyết vụ án khác có liên quan hoặc sự việc được pháp luật quy định là phải do cơ quan, tổ chức khác giải quyết trước mới giải quyết được vụ án;

đ) Cần đợi kết quả thực hiện ủy thác tư pháp, ủy thác thu thập chứng cứ hoặc đợi cơ quan, tổ chức cung cấp tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án mới giải quyết được vụ án;

e) Cần đợi kết quả xử lý văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến việc giải quyết vụ án có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên mà Tòa án đã có văn bản kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ;

g) Theo quy định tại Điều 41 của Luật phá sản;

h) Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.

Liên hệ Luật STC để được tư vấn miễn phí
Liên hệ Luật STC để được tư vấn miễn phí

2. Thời hạn tòa án phải gửi quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án.

Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, Tòa án phải gửi quyết định đó cho đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện và Viện kiểm sát cùng cấp.

3. Tiếp tục giải quyết vụ án dân sự

Điều 216 của Bộ luật quy định:

Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày lý do tạm đình chỉ giải quyết vụ án quy định tại Điều 214 của Bộ luật này không còn thì Tòa án phải ra quyết định tiếp tục giải quyết vụ án dân sự và gửi quyết định đó cho đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện, Viện kiểm sát cùng cấp.

Quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự hết hiệu lực kể từ ngày ban hành quyết định tiếp tục giải quyết vụ án dân sự. Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án kể từ khi ban hành quyết định tiếp tục giải quyết vụ án dân sự.

Mọi thắc mắc liên quan, mời Quý Khách liên hệ: Công ty Luật TNHH STC

Văn phòng tại Hà Nội: Tầng 5, Tòa nhà AC, Ngõ 78, Phố Duy Tân, Phường Dịch Vọng Hậu, Quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội.

Hotline: 0988873883

Email: stclawfirm.vn@gmail.com

Website: https://stclawfirm.com/

Văn phòng tại Thành phố Hồ Chí Minh: Landmark 81, Vinhomes Central Park, số 208 Nguyễn Hữu Cảnh và số 720A Điện Biên Phủ, phường 22, quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh.

 

 

Chuẩn bị đao, kiếm trả thù nhóm “giật đồ cúng cô hồn”. Hành vi chuẩn bị phạm tội và trách nhiệm pháp lý

Cúng cô hồn là phong tục của người dân nhiều vùng miền khi vào tháng 7 âm lịch. Dù vậy, có không ít vi phạm an ninh trật tự xã hội phát sinh từ phong tục này. Như mới đây, theo thông tin báo chí chia sẻ (Chuẩn bị đao, kiếm trả thù nhóm ‘giật đồ cúng cô hồn’ -vnexpress.net), tại một quán bar ở quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xảy ra sự việc nhân viên của quán này có hành vi chuẩn bị đao, kiếm để “trả thù” sau sự việc gây hấn, đánh nhau từ việc “giật đồ cúng cô hồn”. Luật STC nhận được câu hỏi hành vi của các đối tượng có phạm tội chưa đạt? Luật STC giải đáp như sau:

  1. Hành vi đó có vi phạm pháp luật không?

Căn cứ các tình tiết sự việc bài báo đề cập, Luật STC xác định các đối tượng trong vụ việc có dấu hiệu phạm tội chưa đạt theo quy định tại Điều 15 Bộ luật hình sự 2015, cụ thể:

“Phạm tội chưa đạt là cố ý thực hiện tội phạm nhưng không thực hiện được đến cùng vì những nguyên nhân ngoài ý muốn của người phạm tội.

Người phạm tội chưa đạt phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm chưa đạt.”

Và Điều 318 Bộ luật hình sự 2015 quy định:

“1. Người nào gây rối trật tự công cộng gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

+ Có tổ chức;

+ Dùng vũ khí, hung khí hoặc có hành vi phá phách;

+ Gây cản trở giao thông nghiêm trọng hoặc gây đình trệ hoạt động công cộng;

+ Xúi giục người khác gây rối;

+ Hành hung người can thiệp bảo vệ trật tự công cộng;

+ Tái phạm nguy hiểm.

…………………………..”

Như vậy, hành vi của các đối tượng có dấu hiệu thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt của Tội gây rối trật tự công cộng. Do đó các đối tượng có thể phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm chưa đạt.

Liên hệ Luật STC để được tư vấn về quy định Chuẩn bị phạm tội
Liên hệ Luật STC để được tư vấn về quy định Chuẩn bị phạm tội

 

  1. Quyết định hình phạt đối với phạm tội chưa đạt như thế nào?

Đối với hành vi phạm tội chưa đạt, hình phạt được quyết định theo các điều của Bộ luật hình sự 2015 về các tội phạm tương ứng tùy theo tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, mức độ thực hiện ý định phạm tội và những tình tiết khác khiến cho tội phạm không thực hiện được đến cùng.

Cụ thể hơn, tại khoản 3 Điều 57 Bộ luật hình sự 2015 quy định: “Đối với trường hợp phạm tội chưa đạt, nếu điều luật được áp dụng có quy định hình phạt cao nhất là tù chung thân hoặc tử hình thì áp dụng hình phạt tù không quá 20 năm; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt không quá ba phần tư mức phạt tù mà điều luật quy định”

Như vậy mức phạt tối đa mà các đối tượng thực hiện hành vi trên có thể gánh chịu với một hành vi là phạt tù trong thời hạn: 12 tháng x ¾ x 7 = 63 tháng. Tùy vào tình tiết, tính chất cụ thể của vụ án và từng đối tượng khi được các cơ quan tố tụng điều tra làm rõ, mức phạt có thể điều chỉnh tăng nặng hoặc giảm nhẹ.

Trên đây là giải đáp cơ bản của Luật STC. Mọi thắc mắc liên quan, mời Quý Khách liên hệ: Công ty Luật TNHH STC

Văn phòng tại Hà Nội: Tầng 5, Tòa nhà AC, Ngõ 78, Phố Duy Tân, Phường Dịch Vọng Hậu, Quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội.

Hotline: 0988873883

Email: stclawfirm.vn@gmail.com

Website: https://stclawfirm.com/

Văn phòng tại Thành phố Hồ Chí Minh: Landmark 81, Vinhomes Central Park, số 208 Nguyễn Hữu Cảnh và số 720A Điện Biên Phủ, phường 22, quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh.

 

 

0988873883