Di chúc miệng có hiệu lực pháp luật hay không?

Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết. Có nhiều trường hợp người đã mất chỉ để lại “di chúc miệng”, gây tranh chấp về việc chia di sản.

Vậy “di chúc miệng” có hiệu lực pháp luật hay không?

1. Di chúc miệng là gì?

Căn cứ vào Điều 629 BLDS 2015 quy định về việc lập di chúc bằng miệng:

Trường hợp tính mạng một người bị cái chết đe dọa và không thể lập di chúc bằng văn bản thì có thể lập di chúc bằng miệng

– Sau 03 tháng kể từ thời điểm di chúc miệng mà người lập di chúc chúc còn sống, minh mẫn, sáng suốt thì di chúc miệng mặc nhiên bị hủy bỏ.

Đây là trường hợp tự động mất hiệu lực của di chúc không cần phải thông qua thủ tục pháp lý nào.

2. Điều kiện để di chúc miệng được coi là hợp pháp (Điều 630 BLDS năm 2015)

– Người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất 02 người làm chứng;

– Ngay sau khi người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng, người làm chứng ghi chép lại và cùng ký tên hoặc điểm chỉ;

– Trong 05 ngày làm việc, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng.

Ngoài 03 điều kiện nêu trên, di chúc miệng chỉ được coi là hợp pháp nếu đáp ứng các điều kiện chung khác như: Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt; không bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép; Nội dung di chúc không trái pháp luật, đạo đức…

Các trường hợp ngoại tình không bị xử phạt

1. Hành vi ngoại tình được hiểu như thế nào?

Hiện không có văn bản nào định nghĩa về việc ngoại tình cũng như hành vi ngoại tình. Tuy nhiên, điểm c khoản 2 Điều 5 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nêu rõ, một trong các hành vi bị cấm trong quan hệ hôn nhân và gia đình là:

Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ

Có thể thấy, pháp luật không định nghĩa ngoại tình là gì mà đây chỉ là cách gọi thông thường trong đời sống hằng ngày của hành vi “kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có vợ hoặc đang có chồng”.

Theo đó, việc “chung sống với nhau như vợ chồng” được giải thích cụ thể tại khoản 1 Điều 3 Thông tư liên tịch 01/2001/TTLT-BTP-BCA-TANDTC-VKSNDTC như sau:

– Là việc người đang có vợ, có chồng chung sống với người khác;

– Người chưa có vợ, chưa có chồng mà lại chung sống với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ một cách công khai hoặc không công khai nhưng cùng sinh hoạt chung như một gia đình.

2. Người có hành vi ngoại tình bị xử phạt như thế nào?

Xử phạt hành chính:

Căn cứ khoản 1 Điều 59 Nghị định số 82/2020/NĐ-CP sẽ phạt tiền từ 03 – 05 triệu đồng với một trong các hành vi:

– Đang có vợ hoặc đang có chồng mà kết hôn với người khác, chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà kết hôn với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;

– Đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác;

– Chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ.

Chịu trách nhiệm hình sự:

Theo Điều 182 Bộ luật hình sự 2015, người nào đang có vợ/có chồng mà chung sống như vợ/chồng với người khác hoặc chưa có vợ/chồng mà chung sống như vợ/chồng với người mình biết rõ là đang có chồng/vợ thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm nếu thuộc một trong các trường hợp:

– Làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn;

– Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.

Nếu làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát hoặc đã có quyết định của Tòa án hủy việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó thì bị phạt tù từ 06 tháng – 03 năm.

Như vậy, nếu thuộc các trường hợp bị coi là “sống chung như vợ chồng” hoặc bị xử phạt hành chính hoặc phải chịu trách nhiệm hình sự nêu trên thì sẽ bị coi là ngoại tình và bị xử phạt. Ngược lại, nếu không thuộc một trong các trường hợp trên thì sẽ không bị xử phạt.

Cho thuê nhà trọ có cần đăng ký kinh doanh không?

Cho thuê nhà trọ là hoạt động thương mại rất phổ biến hiện nay, đặc biệt là các thành phố lớn có nhu cầu cao về nhà ở. Theo quy định của pháp luật, cho thuê nhà trọ có cần đăng ký kinh doanh hay không?

  1. Những hoạt động thương mại không phải đăng ký kinh doanh

Theo khoản 1 Điều 3 Nghị định 39/2007/NĐ-CP, những hoạt động thương mại không cần đăng ký kinh doanh gồm:

– Buôn bán rong (buôn bán dạo) là các hoạt động mua, bán không có địa điểm cố định.

– Buôn bán vặt là hoạt động mua bán những vật dụng nhỏ lẻ có hoặc không có địa điểm cố định;

– Bán quà vặt là hoạt động bán quà bánh, đồ ăn, n­ước uống (hàng nước) có hoặc không có địa điểm cố định;

– Buôn chuyến là hoạt động mua hàng hóa từ nơi khác về theo từng chuyến để bán cho người mua buôn hoặc ng­ười bán lẻ…

Theo đó, việc cho thuê nhà trọ là hoạt động thương mại không thuộc các trường hợp không phải đăng ký kinh doanh. Do vậy, cho thuê nhà trọ phải đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật.

2. Cho thuê nhà trọ đăng ký kinh doanh dưới hình thức nào?

Hộ gia đình, cá nhân cho thuê trọ có thể đăng ký dưới hình thức hộ kinh doanh theo quy định tại Nghị định 78/2015/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định 108/2018/NĐ-CP), cụ thể:

Điều kiện đăng ký:

– Công dân Việt Nam đủ 18 tuổi, có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự đầy đủ;

– Cá nhân thành lập và tham gia góp vốn thành lập hộ kinh doanh không được đồng thời là chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh của công ty hợp danh trừ trường hợp được sự nhất trí của các thành viên hợp danh còn lại.

Hồ sơ đăng ký hộ kinh doanh:

Theo Điều 71 Nghị định 78/2015/NĐ-CP, hồ sơ đăng ký hộ kinh doanh gồm:

– Giấy đề nghị đăng ký hộ kinh doanh

– Bản sao hợp lệ Thẻ căn cước công dân hoặc Chứng minh nhân dân hoặc Hộ chiếu còn hiệu lực của các cá nhân tham gia hộ kinh doanh hoặc người đại diện hộ gia đình.

– Bản sao hợp lệ biên bản họp nhóm cá nhân về việc thành lập hộ kinh doanh đối với trường hợp hộ kinh doanh do một nhóm cá nhân thành lập.

3. Cho thuê nhà trọ không đăng ký kinh doanh bị phạt tới 3 triệu 

Khoản 7 Điều 1 Nghị định 124/2015/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 185/2013/NĐ-CP, người cho thuê nhà trọ mà không có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh theo quy định bị phạt tiền từ 02 – 03 triệu đồng.

Trường hợp tiếp tục cho thuê trọ trong thời gian bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền đình chỉ hoạt động thì bị phạt tiền từ 05 – 10 triệu đồng.

Các trường hợp kết hôn trái luật vẫn được coi là vợ chồng

Nam, nữ khi kết hôn phải đáp ứng điều kiện tại Luật Hôn nhân và Gia đình. Nếu không sẽ không được công nhận là vợ chồng hợp pháp. Tuy nhiên, liệu có trường hợp nào kết hôn trái luật vẫn được công nhận là vợ chồng?

  1. Kết hôn trái luật là gì?

Theo quy định tại khoản 2 Điều 5 Luật Hôn nhân và Gia đình, pháp luật cấm các trường hợp sau đây:

– Kết hôn giả tạo.

– Tảo hôn, cưỡng ép, lừa dối, cản trở kết hôn.

– Người đang có vợ, chồng mà kết hôn/chung sống với người khác như vợ chồng.

– Những người có các mối quan hệ sau đây mà kết hôn với nhau: Cùng dòng máu trực hệ, có họ trong phạm vi ba đời, cha mẹ nuôi với con nuôi; cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng…

– Yêu sách của cải trong kết hôn.

Đồng thời, về điều kiện kết hôn, Điều 8 Luật Hôn nhân và Gia đình nêu rõ, điều kiện là nam phải từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên; nam, nữ tự nguyện kết hôn với nhau; hai bên không bị mất năng lực hành vi dân sự…

Do đó, nếu các trường hợp vi phạm các quy định nêu trên hoặc thuộc các trường hợp bị cấm kết hôn thì sẽ bị coi là kết hôn trái hôn.

Đặc biệt, khoản 2 Điều 8 Luật Hôn nhân và Gia đình khẳng định:

Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính.

Như vậy, nếu thuộc các trường hợp sau đây thì việc kết hôn sẽ bị coi là trái pháp luật: Kết hôn vi phạm về tuổi; sự tự nguyện của hai bên; giữa người mất năng lực hành vi dân sự; thuộc trường hợp bị cấm và giữa những người cùng giới tính

2. Khi nào kết hôn trái luật vẫn được công nhận vợ chồng?

Căn cứ quy định nêu trên, việc công nhận quan hệ vợ chồng khi kết hôn trái luật được hướng dẫn tại khoản 2 Điều 11 Luật Hôn nhân và Gia đình như sau:

Trong trường hợp tại thời điểm Tòa án giải quyết yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật mà cả hai bên kết hôn đã có đủ các điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 của Luật này và hai bên yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân thì Tòa án công nhận quan hệ hôn nhân đó. Trong trường hợp này, quan hệ hôn nhân được xác lập từ thời điểm các bên đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này.

Như vậy, có thể thấy, khi Tòa án giải quyết yêu cầu hủy kết hôn trái luật, nếu nam, nữ có đủ điều kiện sau đây thì vẫn được Tòa án công nhận quan hệ hôn nhân đó:

– Cả hai bên kết hôn đã có đủ các điều kiện kết hôn theo quy định.

– Hai bên kết hôn yêu cầu Tòa án công nhận quan hệ hôn nhân.

Cụ thể như sau:

2.1 Kết hôn vi phạm về tuổi

Theo quy định điểm a khoản 1 Điều 8 Luật Hôn nhân và Gia đình, điều kiện về tuổi để nam, nữ được đăng ký kết hôn là:

Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên

Trong đó, việc xác định “đủ” căn cứ theo ngày, tháng, năm sinh. Ví dụ, người nữ sinh ngày 10/01/1997 thì đến ngày 10/01/2015 người nữ sẽ được tính là đủ 18 tuổi.

Như vậy, nếu nam, nữ kết hôn khi chưa đủ các điều kiện về tuổi thì được xác định là kết hôn trái luật và tại thời điểm Tòa án giải quyết việc hủy kết hôn trái luật mà nam, nữ đã đủ tuổi, cùng yêu cầu Tòa án công nhận quan hệ hôn nhân thì nam, nữ này vẫn được công nhận là vợ, chồng hợp pháp.

2.2 Lừa dối, cưỡng ép… kết hôn

Trường hợp này, điểm d.2 khoản d Điều 2 Nghị quyết 02/2000/NQ-HĐTP hướng dẫn sau khi bị ép buộc, lừa dối hoặc cưỡng ép mà bên bị ép buộc, lừa dối, cưỡng ép đã biết, thông cảm và tiếp tục chung sống hòa thuận thì không hủy việc kết hôn trái luật này.

Do đó, trong trường hợp này, dù kết hôn trái luật nhưng thì vẫn không bị hủy quan hệ hôn nhân và vẫn được công nhận là vợ chồng hợp pháp nếu đáp ứng điều kiện nêu trên.

2.3 Kết hôn với người mất năng lực hành vi dân sự

Theo khoản 1 Điều 22 Bộ luật Dân sự, khi không còn căn cứ tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự thì khi nhận được yêu cầu, Tòa án sẽ ra quyết định hủy bỏ việc tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự.

Như vậy, với tường hợp này, nếu người bị mất năng lực hành vi dân sự được Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự thì sẽ đáp ứng điều kiện kết hôn tại Luật Hôn nhân và Gia đình nên sẽ vẫn được công nhận là vợ chồng khi đáp ứng đủ điều kiện kết hôn.

Có được đơn phương chấm dứt hợp đồng thuê nhà hay không?

Hợp đồng thuê nhà là sự thỏa thuận giữa các bên, được lập thành văn bản và có thể có công chứng. Vậy trong trường hợp nào thì được đơn phương chấm dứt hợp đồng thuê nhà?

  1. Các trường hợp được đơn phương chấm dứt hợp đồng

Theo quy định tại Điều 428 Bộ luật dân sự 2015, một bên trong giao dịch dân sự có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng và không phải bồi thường thiệt hại khi:

 – Bên kia vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trong hợp đồng

– Các bên có thỏa thuận

– Pháp luật quy định

Lưu ý là bên đơn phương chấm dứt hợp đồng phải thông báo cho bên kia biết về việc mình không thực hiện hợp đồng nữa. Nếu có thiệt hại do việc không thông báo thì người chấm dứt hợp đồng đơn phương phải bồi thường.

Hậu quả của việc đơn phương chấm dứt hợp đồng là kết thúc việc thực hiện hợp đồng. Theo đó, các quyền và nghĩa vụ được hai bên trong thỏa thuận sẽ mặc nhiên chấm dứt. Và thời điểm hợp đồng không còn hiệu lực nữa sẽ là thời điểm bên chấm dứt thông báo cho bên kia về việc không thực hiện hợp đồng.

  1. Các trường hợp được đơn phương chấm dứt hợp đồng thuê nhà

Hợp đồng thuê nhà là một loại giao dịch dân sự được xây dựng dựa trên sự thỏa thuận của các bên. Theo đó, một bên giao nhà cho bên kia sử dụng, một bên giao số tiền đã thỏa thuận để sử dụng căn nhà.

Bên cho thuê

Trong thời gian thuê, bên cho thuê không được đơn phương chấm dứt hợp đồng ngoài các trường hợp sau:

– Cho thuê nhà không đúng thẩm quyền, đối tượng và điều kiện

– Bên thuê không trả tiền thuê nhà từ 03 tháng trở lên không có lý do chính đáng

– Bên thuê sử dụng nhà ở không đúng mục đích

– Bên thuê tự ý đục phá, cơi nới, cải tạo, phá dỡ ngôi nhà thuê

– Bên thuê chuyển đổi, cho mượn, cho thuê lại nhà ở đang thuê mà không có sự đồng ý của bên cho thuê

– Bên thuê làm mất trật tự, vệ sinh môi trường, bị lập biên bản 03 lần mà không sửa chữa

– Hai bên không thỏa thuận được giá cả khi bên cho thuê điều chỉnh giá thuê sau khi cải tạo nhà ở

(Điều 132 Luật Nhà ở 2014)

Bên thuê

Bên thuê chỉ được đơn phương chấm dứt hợp đồng khi bên cho thuê có những hành vi sau:

– Không sửa chữa nhà ở khi có hư hỏng nặng

– Tăng tiền thuê nhà bất hợp lý hoặc không thông báo cho bên thuê

– Khi quyền sử dụng nhà ở bị hạn chế do lợi ích của người thứ ba

Đặc biệt: Bên đơn phương chấm dứt hợp đồng phải thông báo cho bên còn lại biết trước ít nhất 30 ngày. Nếu không thực hiện mà có thiệt hại thì phải bồi thường trừ khi có thỏa thuận khác.

Thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai

Hiện nay, thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai được quy định tại Điều 88 Nghị định 43/2014/NĐ-CP, sửa đổi, bổ sung tại Nghị định 148/2020/NĐ-CP, cụ thể:

  1. Khi nhận được đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai, UBND cấp xã có trách nhiệm thực hiện các công việc:

– Thẩm tra, xác minh tìm hiểu nguyên nhân phát sinh tranh chấp, thu thập giấy tờ, tài liệu có liên quan do các bên cung cấp về nguồn gốc đất, quá trình sử dụng đất và hiện trạng sử dụng đất

– Thành lập Hội đồng hòa giải tranh chấp đất đai để thực hiện hòa giải.

– Tổ chức cuộc họp hòa giải có sự tham gia của các bên tranh chấp, thành viên Hội đồng hòa giải tranh chấp đất đai và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Việc hòa giải chỉ được tiến hành khi các bên tranh chấp đều có mặt.

Trường hợp một trong các bên tranh chấp vắng mặt đến lần thứ hai thì được coi là việc hòa giải không thành.

  1. Kết quả hòa giải tranh chấp đất đai phải được lập thành biên bản, gồm các nội dung:

– Thời gian và địa điểm tiến hành hòa giải;

– Thành phần tham dự hòa giải;

– Tóm tắt nội dung tranh chấp thể hiện rõ về nguồn gốc, thời điểm sử dụng đất đang tranh chấp, nguyên nhân phát sinh tranh chấp (theo kết quả xác minh, tìm hiểu;

– Ý kiến của Hội đồng hòa giải tranh chấp đất đai;

– Những nội dung đã được các bên tranh chấp thỏa thuận, không thỏa thuận.

Biên bản hòa giải phải có chữ ký của Chủ tịch Hội đồng, các bên tranh chấp có mặt tại buổi hòa giải, các thành viên tham gia hòa giải và phải đóng dấu của UBND cấp xã và phải được gửi ngay cho các bên tranh chấp và lưu tại UBND cấp xã.

  1. Sau thời hạn 10 ngày kể từ ngày lập biên bản hòa giải thành mà các bên tranh chấp có ý kiến bằng văn bản về nội dung khác với nội dung đã thống nhất trong biên bản hòa giải thành thì Chủ tịch UBND cấp xã tổ chức lại cuộc họp Hội đồng hòa giải để xem xét giải quyết đối với ý kiến bổ sung và phải lập biên bản hòa giải thành hoặc không thành.
  2. Trường hợp hòa giải thành mà có thay đổi hiện trạng về ranh giới sử dụng đất, chủ sử dụng đất thì UBND cấp xã gửi biên bản hòa giải thành đến cơ quan có thẩm quyền để giải quyết theo quy định tại Khoản 5 Điều 202 Luật đất đai 2013

Trường hợp hòa giải không thành hoặc sau khi hòa giải thành mà có ít nhất một trong các bên thay đổi ý kiến về kết quả hòa giải thì UBND cấp xã lập biên bản hòa giải không thành và hướng dẫn các bên tranh chấp gửi đơn đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp tiếp theo.

Thời điểm mở thừa kế? Thời hiệu khởi kiện vụ án tranh chấp chia sản thừa kế?

Thời điểm mở thừa kế và thời hiệu khởi kiện là những nội dung quan trọng nhằm xác định việc thừa kế, nhất là trong các vụ tranh chấp chia di sản thừa kế. Pháp luật dân sự Việt Nam có các quy định cụ thể như sau:

1. Thời điểm mở thừa kế

Thời điểm mở thừa kế là thời điểm phát sinh quan hệ thừa kế. Theo quy định tại Khoản 1 Điều 611 Bộ luật dân sự 2015: Thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết.

Trường hợp Tòa án tuyên bố một người là đã chết thì thời điểm mở thừa kế là ngày được Tòa án xác định ngày chết của người bị tuyên bố là đã chết.

Việc xác định thời điểm mở thừa kế có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định di sản của người chết để lại, xác định người được hưởng thừa kế, thời hiệu khởi kiện và pháp luật áp dụng để giải quyết tranh chấp về thừa kế…

2. Thời hiệu khởi kiện vụ án tranh chấp chia di sản thừa kế

Điều 623 Bộ luật dân sự 2015 quy định: Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế.

Trong thời hạn đó, những người thừa kế có quyền thỏa thuận chia di sản hoặc khởi kiện yêu cầu Tòa án chia di sản.

Trường hợp hết thời hạn theo quy định mà những người thừa kế không yêu cầu chia di sản, thì di sản thuộc về người đang quản lý di sản đó theo Điều 616 BLDS.

Trường hợp không có người thừa kế đang quản lí di sản thì di sản được giải quyết như sau:

  1. Di sản thuộc quyền sở hữu của người đang chiếm hữu theo quy định tại Điều 236 của Bộ luật này.

Theo đó, người đang chiếm hữu hoặc người được hưởng lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình, liên tục, công khai trong thời hạn 10 năm đối với di sản là động sản và 30 năm đối với di sản là bất động sản.

    2. Di sản thuộc về Nhà nước, nếu không có người chiếm hữu theo quy định tại khoản a Điều này.

Nếu di sản không có người thừa kế, không có người đang chiếm hữu theo quy định của pháp luật thì di sản sẽ thuộc về Nhà nước. Nhà nước có quyền sử dụng theo mục đích như các tài sản công khác.

Hợp đồng hôn nhân có hiệu lực pháp luật hay không?

Việc nam, nữ kết hôn phải tuân thủ các điều kiện các quy định tại Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. 
Vậy việc "kết hôn" dưới hình thức "Hợp đồng hôn nhân" có đúng theo quy định của pháp luật hay không? 

 1. Hợp đồng hôn nhân là gì?

Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự theo quy định tại Điều 385 Bộ luật Dân sự 2015. Hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi kết hôn theo Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.

Tuy nhiên, trong quan hệ hôn nhân, hiện nay pháp luật Việt Nam chưa có quy định cụ thể về hợp đồng hôn nhân là gì nhưng Luật Hôn nhân và Gia đình đã đề cập đến Thỏa thuận về tài sản của vợ, chồng trước khi kết hôn. Đây có thể coi là một trong các hình thức của hợp đồng hôn nhân hiện nay.

Trong khi đó, hiện nay, khái niệm hợp đồng hôn nhân được nhiều người sử dụng để thỏa thuận về quan hệ hôn nhân bao gồm cả kết hôn, ly hôn, quyền, nghĩa vụ của vợ chồng, cha mẹ và con cái, cấp dưỡng…

2. Hợp đồng hôn nhân là hợp đồng trái pháp luật?

Việc xác lập quan hệ hôn nhân được pháp luật đặt ra nhằm mục đích xây dựng gia đình giữa 01 nam và 01 nữ, dựa trên tinh thần tự nguyện, do hai người có đủ điều kiện để kết hôn và được đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền thì sẽ được pháp luật tôn trọng và bảo vệ.

Theo đó, bất cứ việc kết hôn nào không nhằm mục đích xây dựng gia đình mà chỉ lợi dụng việc kết hôn để thực hiện mục đích khác như xuất cảnh, nhập cảnh, cư trú, nhập quốc tịch Việt Nam, nước ngoại… là trái pháp luật và sẽ bị pháp luật xử lý nghiêm khắc.

Ngoài ra, hiện nay, theo quy định tại Điều 47 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, giữa vợ chồng chỉ có thỏa thuận về chế độ tài sản là dạng thỏa thuận có thể lập thành hợp đồng. Thỏa thuận này phải lập trước khi kết hôn dưới hình thức là văn bản có công chứng hoặc chứng thực và được xác lập kể từ ngày đăng ký kết hôn.

Trong đó, nội dung của văn bản này là thỏa thuận về tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng; quyền và nghĩa vụ của mỗi người đối với các khối tài sản này; điều kiện, thủ tục phân chia tài sản khi ly hôn.

Hợp đồng về quyền sử dụng đất là gì?

Đất đai là tài sản đặc biệt do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Các chủ thể được Nhà nước trao quyền sử dụng đất có thể tiến hành giao dịch thông qua hợp đồng về quyền sử dụng đất.

Điều 500 Bộ luật dân sự 2015 quy định Hợp đồng về quyền sử dụng đất bao gồm 7 loại hợp đồng như sau:

1. Hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất

Hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất là sự thỏa thuận của các bên, theo đó, các bên chuyển giao đất đai và quyền sử dụng đất cho nhau theo quy định của pháp luật.

2. Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó, bên chuyển quyền sử dụng đất chuyển giao đất và quyền sử dụng đất cho bên nhận chuyển nhượng, còn bên nhận chuyển nhượng thì trả tiền cho bên chuyển nhượng

3. Hợp đồng cho thuê quyền sử dụng đất

Hợp đồng cho thuê quyền sử dụng đất là sự thỏa thuận của các bên, theo đó, bên cho thuê chuyển giao quyền sử dụng đất cho bên thuê trong một thời hạn nhất định, bên thuê có nghĩa vụ sử dụng đất đúng mục đích, trả tiền thuê, và đất đai khi hết thời hạn thuê theo hợp đồng hoặc theo quy định của pháp luật

4. Hợp đồng cho thuê lại quyền sử dụng đất

Hợp đồng cho thuê lại quyền sử dụng đất là sự thỏa thuận của các bên, theo đó, bên thuê quyền sử dụng đất chuyển giao cho chủ thể khác quyền sử dụng đất trong thời hạn nhất định, bên thuê lại có nghĩa vụ sử dụng đất đúng mục đích, trả tiền thuê và đất đai khi hết thời hạn thuê.

Bên cho thuê lại chỉ được cho thuê lại khi bên cho thuê đồng ý và phải phù hợp với hợp đồng cho thuê ban đầu.

5. Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất

Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó, bên tặng cho chuyển giao quyền sử dụng đất cho bên được tặng cho, mà không yêu cầu phải đền bù

6.  Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất

Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất là sự thỏa thuận của các bên, theo đó, bên sử dụng đất thế chấp quyền sử dụng đất của mình để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ dân sự với bên kia.

7. Hợp đồng góp vốn quyền sử dụng đất hoặc thực hiện quyền khác theo quy định của Luật đất đai

Hợp đồng góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất là sự thỏa thuận của các bên, theo đó, người sử dụng đất góp phần vốn của mình là quyền sử dụng đất để hợp tác sản xuất, kinh doanh với cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình hoặc chủ thể khác.

Sổ đỏ có bắt buộc ghi tên cả hai vợ chồng không?

Việc ghi tên trong sổ đỏ thể hiện cá nhân đó có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và các tài sản khác gắn liền với đất có trên sổ. Vậy sau khi kết hôn có bắt buộc phải ghi tên vợ, chồng vào sổ đỏ hay không? 

Đối với đất đai, nhà ở,… là tài sản riêng của vợ, chồng

Theo quy định tại Điều 43,44 Luật hôn nhân và gia đình 2014: 

– Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.

– Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng.

– Đặc biệt, vợ, chồng có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng của mình; nhập hoặc không nhập tài sản riêng vào tài sản chung.

Như vậy, nếu đất đai, nhà cửa,… được xác định là tài sản riêng của vợ, chồng thì chỉ người đó có tên trên sổ đỏ, người kia không có quyền sở hữu, sử dụng nếu không có thỏa thuận khác.

Việc có ghi tên vợ, chồng vào sổ đỏ là tài sản riêng hay không là quyền của chủ sở hữu, pháp luật không có quy định bắt buộc.

Đối với đất đai, nhà ở là tài sản chung của vợ, chồng

Theo quy định tại Điều 33, 34 Luật hôn nhân và gia đình 2014: 

– Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

– Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng thì giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng phải ghi tên cả hai vợ chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

Bên cạnh đó, tại khoản 4 Điều 98 Luật đất đai 2013 quy định: 

Trường hợp quyền sử dụng đất hoặc quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là tài sản chung của vợ và chồng thì phải ghi cả họ, tên vợ và họ, tên chồng vào Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, trừ trường hợp vợ và chồng có thỏa thuận ghi tên một người.

Vậy, nếu đất đai, nhà cửa,… là tài sản chung của vợ, chồng, tức là tài sản hình thành trong thời kỳ hôn nhân, trừ thỏa thuận ghi tên một người thì trên sổ đỏ phải ghi tên cả vợ và chồng mới đúng theo quy định của pháp luật.

 

0988873883