Trình tự đăng ký nhận hỗ trợ Covid 19 trực tuyến

Theo Nghị quyết số 116/NQ-CP và Quyết định số 28/2021/QĐ-TTg người lao động (NLĐ) và người sử dụng lao động (SDLĐ) bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh Covid-19 sẽ được hỗ trợ từ Quỹ bảo hiểm thất nghiệp (BHTN). Để thuận lợi và nhanh chóng, cơ quan BHXH Việt Nam đã có hướng dẫn NLĐ ký nhận hỗ trợ Covid theo hình thức trực tuyến. Điều kiện và hình thức đăng ký được quy định cụ thể như sau:

1. Điều kiện đăng ký theo hình thức trực tuyến

  • Hình thức đăng ký trực tuyến áp dụng cho các đối tượng:

– Nhóm NLĐ đã dừng tham gia BHTN do chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc trong khoảng thời gian từ ngày 01/01/2020 đến hết ngày 30/9/2021

– NLĐ có thời gian đóng BHTN được bảo lưu theo quy định của pháp luật về việc làm.

  • Hình thức đăng ký trực tuyến không áp dụng cho các đối tượng :

– Nhóm NLĐ đang tham gia BHTN

Đối với các đối tượng này, đơn vị sử dụng lao động sẽ chịu trách nhiệm nộp danh sách NLĐ nhận hỗ trợ của đơn vị cho cơ quan BHXH.

2. Thủ tục đăng ký nhận hỗ trợ Covid 19

NLĐ có thể đăng ký trực tuyến nhận hỗ trợ Covid thông qua ứng dụng BHXH số – VssID và Cổng dịch vụ công của cơ quan BHXH Việt Nam.

Trình tự đăng ký như sau:

– Bước 1: Đăng nhập vào ứng dụng VssID

           NLĐ đăng nhập vào ứng dụng bằng cách nhập mã BHXH và mật khẩu.

– Bước 2: Chọn menu Dịch vụ công

– Bước 3: Chọn Dịch vụ công hỗ trợ Covid 19

– Bước 4: Kiểm tra:

          NLĐ kiểm tra lại số tháng đã tham gia BHTN chưa được tính hưởng trợ cấp thất nghiệp

– Bước 5: Lựa chọn hình thức nhận hỗ trợ

          NLĐ có thể đăng ký nhận hỗ trợ: nhận bằng tiền mặt hoặc thông qua tài khoản ngân hàng. Nếu đăng ký nhận bằng hình thức chuyển khoản, NLĐ cần cung cấp thông tin số tài khoản và chọn ngân hàng nhận.

– Bước 6: Chọn cơ quan tiếp nhận hồ sơ

          Cơ quan tiếp nhận hồ sơ nên chọn là cơ quan tiếp nhận tại nơi mình đang sinh sống và làm việc để thuận tiện cho việc nhận trợ cấp. Sau khi chọn, NLĐ nhấn nút gửi. 

– Bước 7: Xác nhận bằng mã OTP và kết thúc

 

 

 

Điều kiện thực hiện thế chấp quyền sử dụng đất

Thế chấp quyền sử dụng đất là một trong những quyền cơ bản của người sử dụng đất. Để thực hiện được cần đáp ứng đủ các điều kiện được quy định tại Luật đất đai 2013.

Theo điểm g khoản 1 Điều 179 Luật đất đai 2013, hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất thuộc một trong những loại đất sau được quyền thế chấp quyền sử dụng đất tại ngân hàng, tổ chức kinh tế khác hoặc cá nhân, bao gồm:

  • Đất nông nghiệp được Nhà nước giao trong hạn mức;
  • Đất được Nhà nước giao có thu tiền sử dụng đất;
  • Đất được cho thuê trả tiền đất một lần cho cả thời gian thuê;
  • Đất được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất;
  • Đất nhận chuyển đổi, nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho, nhận thừa kế.

1. Điều kiện thế chấp quyền sử dụng đất

Căn cứ khoản 1 Điều 188 Luật Đất đai 2013, người sử dụng đất được thực hiện quyền thế chấp khi có đủ điều kiện sau:

– Có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

– Đất không có tranh chấp;

– Quyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án;

– Trong thời hạn sử dụng đất.

Ngoài ra, việc thế chấp quyền sử dụng đất phải đăng ký tại cơ quan đăng ký đất đai và có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký vào sổ địa chính.

2. Hộ gia đình, cá nhân được nhận thế chấp sổ đỏ

Theo Điều 35 Nghị định số 21/2021/NĐ-CP thì cá nhân, tổ chức kinh tế không phải là tổ chức tín dụng được nhận thế chấp đối với quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất (sổ đỏ) của hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất khi đáp ứng các điều kiện được quy định tại Điều này.

Như vậy, khi có nhu cầu thế chấp sổ đỏ, hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất có thể thế chấp tại hộ gia đinh, cá nhân (trong trường hợp hộ gia đinh, cá nhân đủ điều kiện) mà không nhất thiết phải thế chấp tại ngân hàng như trước đây.

Những quy định mới về sổ đỏ áp dụng từ ngày 08.02.2021

Ngày 18.12.2020, Chính phủ đã ban hành Nghị định 148/2020/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số nghị định quy định chi tiết thi hành luật đất đai. Nghị định này có hiệu lực từ ngày 08.02.2021 và có những thay đổi quan trọng liên quan đến sổ đỏ. 

1. Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai được tiếp nhận hồ sơ cấp sổ đỏ

Khoản 19 Điều 1 Nghị định 148 sửa đổi Điều 60 Nghị định 43/2014/NĐ-CP quy định cơ quan tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả giải quyết thủ tục đăng ký đất đai, tài sản khác gắn liền với đất; cấp, cấp đổi, cấp lại Giấy chứng nhận là:

  • Văn phòng đăng ký đất đai
  • Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai

Như vậy, người dân có nhu cầu cấp sổ đỏ hiện nay có thể đến chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai. Quy định này tạo điều kiện thuận lợi cho người dân trong trường hợp họ gần chi nhánh văn phòng hơn. 

2. Người dân có thể thỏa thuận để thực hiện thủ tục cấp sổ đỏ tại nhà

Theo quy định tại Khoản 19 Điều 1 Nghị định 148 thì: 

Đối với trường hợp Văn phòng đăng ký đất đai, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thực hiện việc tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả giải quyết thủ tục đăng ký đất đai, tài sản khác gắn liền với đất; cấp, cấp đổi, cấp lại Giấy chứng nhận theo nhu cầu của người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất thì thời gian, địa điểm tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả giải quyết thủ tục được thực hiện theo thỏa thuận giữa người có nhu cầu và Văn phòng đăng ký đất đai, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai nhưng không quá thời gian thực hiện thủ tục do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định.

Như vậy, người dân có thể thỏa thuận để làm sổ đỏ nhanh, tại nhà theo nhu cầu và phải đáp ứng thời gian theo quy định của UBND cấp tỉnh. Đây cũng là một quy định tiến bộ, tạo điều kiện cho các trường hợp người dân không thể đến các cơ quan có thẩm quyền để giải quyết. 

3. Dồn điền đổi thửa không được cấp đổi sổ đỏ mới

Khoản 24 Điều 1 Nghị định 148 quy định một trong những trường hợp được cấp đổi sổ đỏ cũng như cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, Giấy chứng nhận sở hữu công trình xây dựng đã cấp là “do đo đạc xác định lại diện tích, kích thước thửa đất”.

Điều luật này đã sửa đổi quy định tại điểm c khoản 1Điều 76 Nghị định 43 quy định trường hợp trên còn bao gồm “do dồn điền đổi thửa”.

4. Sửa đổi quy định về thủ tục thu hồ sổ đỏ đã cấp không đúng quy định

Hiện nay, ngoài các quy định về việc thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đã cấp không đúng quy định của pháp luật về đất đai được bổ s/ung quy định như sau: 

Tại khoản 26 Điều 1 Nghị định 148/2020: “Trường hợp Tòa án nhân dân có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai có bản án, quyết định có hiệu lực thi hành, trong đó có kết luận về việc thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp thì việc thu hồi Giấy chứng nhận được thực hiện theo bản án, quyết định đó”. 

Quy định này sửa đổi phù hợp hơn với quy định tại khoản 2 Điều 106 Luật đất đai 2013.

5. Sửa quy định cấp sổ đỏ cho người nhận chuyển nhượng QSDĐ trong dự án phát triển nhà ở

Khoản 22 Điều 1 Nghị định 148/2020/NĐ-CP đã bổ sung quy định về một số giấy tờ mà chủ đầu tư dự án phát triển nhà ở có trách nhiệm gửi Sở Tài nguyên và Môi trường sau khi hoàn thành công trình:

+ Trường hợp có thay đổi nghĩa vụ tài chính thì phải nộp chứng từ chứng minh việc hoàn thiện nghĩa vụ tài chính đối với sự thay đổi đó;

+ Thông báo của cơ quan chuyên môn về xây dựng cho phép chủ đầu tư nghiệm thu công trình hoặc chấp thuận kết quả nghiệm thu hoàn thành công trình đưa vào sử dụng theo quy định của pháp luật về xây dựng).

 

 

Những lưu ý khi tham gia giao dịch mua bán, cho thuê nhà ở

Nhà ở là tài sản có giá trị lớn của con người. Vì vậy, khi tham gia mua bán nhà ở, người mua, người bán cần lưu ý tuân theo các trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. 

1. Các điều kiện để nhà ở trở thành đối tượng của giao dịch dân sự

Theo quy định tại Điều 118 Luật nhà ở năm 2014, giao dịch về mua bán, cho thuê mua, tặng cho, đổi, thế chấp, góp vốn bằng nhà ở thì nhà ở phải có các điều kiện như sau: 

 – Có Giấy chứng nhận theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp giao dịch nhà ở không bắt buộc phải có giấy chứng nhận;

– Không thuộc diện đang có tranh chấp, khiếu nại, khiếu kiện về quyền sở hữu; đang trong thời hạn sở hữu nhà ở đối với trường hợp sở hữu nhà ở có thời hạn;

– Không bị kê biên để thi hành án hoặc không bị kê biên để chấp hành quyết định hành chính đã có hiệu lực pháp luật của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;

– Không thuộc diện đã có quyết định thu hồi đất, có thông báo giải tỏa, phá dỡ nhà ở của cơ quan có thẩm quyền.

Lưu ý, điều kiện về không thuộc diện tranh chấp, không bị kê biên để thi hành án không áp dụng đối với trường hợp mua bán, thuê mua nhà ở hình thành trong tương lai.

Ngoài ra, Điều 118 Luật nhà ở 2014 cũng quy định về những trường hợp giao dịch nhà ở không bắt buộc phải có giấy chứng nhận:

– Mua bán, thế chấp nhà ở hình thành trong tương lai.

– Tổ chức thực hiện tặng cho nhà tình nghĩa, nhà tình thương.

– Mua bán, thuê mua nhà ở thuộc sở hữu nhà nước; mua bán, thuê mua nhà ở xã hội, nhà ở để phục vụ tái định cư không thuộc sở hữu nhà nước; bán nhà ở quy định tại Khoản 4 Điều 62 của Luật nhà ở 2014.

– Cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ, ủy quyền quản lý nhà ở.

– Nhận thừa kế nhà ở.

– Chuyển nhượng hợp đồng mua bán nhà ở thương mại được xây dựng trong dự án đầu tư xây dựng nhà ở bao gồm cả trường hợp đã nhận bàn giao nhà ở từ chủ đầu tư nhưng chưa nộp hồ sơ đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đối với nhà ở đó.

 

Thay đổi người giám hộ theo quy định của pháp luật hiện hành

Giám hộ là một chế định được quy định cụ thể tại Bộ luật dân sự 2015. Việc phát sinh, thay đổi, hay chấm dứt đều được thực hiện theo quy định của pháp luật. Việc thay đổi người giám hộ sẽ phát sinh khi người được giám hộ vẫn cần có người giám hộ và được quy định cụ thể như sau: 

Tại Điều 60 Bộ luật dân sự 2015, người giám hộ sẽ thay đổi trong các trường hợp sau đây: 

1. Người giám hộ được thay đổi trong trường hợp sau đây:

a) Người giám hộ không còn đủ các điều kiện quy định tại Điều 49, Điều 50 của Bộ luật này;

Để trở thành người giám hộ thì cá nhân, pháp nhân phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định tại Điều 49 và Điều 50 Bộ luật dân sự 2015. Trường hợp người giám hộ không còn đáp ứng được các điều kiện này nữa thì họ không còn đủ khả năng làm người giám hộ.

b) Người giám hộ là cá nhân chết hoặc bị Tòa án tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự, có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, mất năng lực hành vi dân sự, mất tích; pháp nhân làm giám hộ chấm dứt tồn tại;

Đây là trường hợp người giám hộ đã mất tư cách chủ thể, mất hoặc tạm ngừng năng lực hành vi dân sự. Do đó đã bị chấm dứt/tạm ngừng các quyền và nghĩa vụ dân sự.

c) Người giám hộ vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ giám hộ;

Khi đồng ý trở thành người giám hộ tức là đã chấp nhận và phải tuân theo các quy định về nghĩa vụ của người giám hộ. Vì vậy, nếu người giám hộ không thực hiện các nghĩa vụ chăm sóc, bảo vệ tức là đã vi phạm nghĩa vụ, vì vậy người giám hộ cần được thay đổi. Tuy nhiên, việc xác định thế nào là “vi phạm nghiêm trọng” thì cần phải được cơ quan có thẩm quyền căn cứ thực tế và nhận định. 

d) Người giám hộ đề nghị được thay đổi và có người khác nhận làm giám hộ.

Vì một lý do nào đó mà người giám hộ không thể tiếp tục làm ngời đại diện cho người được giám hộ nữa và có yêu cầu thay đổi người giám hộ thì cơ quan có thẩm quyền sẽ cho phép thay đổi người giám hộ nếu có người khác đồng ý nhận làm người giám hộ.

2. Trường hợp thay đổi người giám hộ đương nhiên thì những người được quy định tại Điều 52 và Điều 53 của Bộ luật này là người giám hộ đương nhiên; nếu không có người giám hộ đương nhiên thì việc cử, chỉ định người giám hộ được thực hiện theo quy định tại Điều 54 của Bộ luật này.

3. Thủ tục thay đổi người giám hộ được thực hiện theo quy định của pháp luật về hộ tịch.

 

Người giám hộ đương nhiên được quy định trong trường hợp nào?

Giám hộ là việc cá nhân, pháp nhân được luật quy định, được Ủy ban nhân dân cấp xã cử, được Tòa án chỉ định hoặc được quy định tại Khoản 2 Điều 48 của Bộ luật dân sự Việt nam 2015 để thực hiện việc chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi của người được giám hộ. Pháp luật Việt Nam quy định có 02 trường hợp giám hộ đương nhiên như sau: 

1. Người giám hộ đương nhiên của người chưa thành niên (Điều 52 Bộ luật dân sự 2015) 

Người giám hộ đương nhiên của người chưa thành niên được xác định theo thứ tự sau: 

1. Anh ruột là anh cả hoặc chị ruột là chị cả là người giám hộ; nếu anh cả hoặc chị cả không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì anh ruột hoặc chị ruột tiếp theo là người giám hộ, trừ trường hợp có thỏa thuận anh ruột hoặc chị ruột khác làm người giám hộ.

2. Trường hợp không có người giám hộ quy định tại khoản 1 Điều này thì ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại là người giám hộ hoặc những người này thỏa thuận cử một hoặc một số người trong số họ làm người giám hộ.

3. Trường hợp không có người giám hộ quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này thì bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột hoặc dì ruột là người giám hộ.

2. Người giám hộ đương nhiên của người mất năng lực hành vi dân sự (Điều 53 Bộ luật dân sự 2015)

Người giám hộ đương nhiên của người mất năng lực hành vi dân sự được xác định như sau: 

1. Trường hợp vợ là người mất năng lực hành vi dân sự thì chồng là người giám hộ; nếu chồng là người mất năng lực hành vi dân sự thì vợ là người giám hộ.

2. Trường hợp cha và mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự hoặc một người mất năng lực hành vi dân sự, còn người kia không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì người con cả là người giám hộ; nếu người con cả không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì người con tiếp theo có đủ điều kiện làm người giám hộ là người giám hộ.

3. Trường hợp người thành niên mất năng lực hành vi dân sự chưa có vợ, chồng, con hoặc có mà vợ, chồng, con đều không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì cha, mẹ là người giám hộ.

Người giám hộ đương nhiên có đầy đủ các quyền của người giám hộ theo quy định tại Điều 58 Bộ luật dân sự 2015 và có các nghĩa vụ được quy định cụ thể tại Điều 56, Điều 57 Bộ luật dân sự 2015. Trường hợp người giám hộ đương nhiên mà không đăng ký việc giám hộ thì vẫn phải thực hiện nghĩa vụ của người giám hộ.

 

Giám hộ là gì? Quy định về người giám hộ theo pháp luật hiện hành

Giám hộ là một chế định mang tính nhân văn cao của pháp luật Việt Nam. Đây là một chế định lâu đời của pháp luật dân sự Việt Nam được ghi nhận ngay từ Bộ luật dân sự Việt Nam năm 1995. Kế thừa quy định cũ, Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2015 tiếp tục kế thừa, bổ sung và có những điều chỉnh cho phù hợp hơn với thực tiễn. 

1. Giám hộ là gì? 

Theo quy định tại khoản 1 Điều 46 Bộ luật dân sự Việt Nam 2015 quy định: “Giám hộ là việc cá nhân, pháp nhân được luật quy định, được Ủy ban nhân dân cấp xã cử, được Tòa án chỉ định hoặc được quy định tại khoản 2 Điều 48 của Bộ luật này (sau đây gọi chung là người giám hộ) để thực hiện việc chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi (sau đây gọi chung là người được giám hộ)”. 

2. Quy định về người giám hộ

Người giám hộ là người thực hiện việc chăm sóc, nuôi dưỡng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, người bị bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của người được giám hộ. 

Tại Khoản 1 Điều 48 Bộ luật dân sự Việt Nam 2015 quy định: “Người giám hộ là cá nhân, pháp nhân có đủ điều kiện quy định tại Bộ luật này được làm người giám hộ”. 

Trường hợp người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ lựa chọn người giám hộ cho mình thì khi họ ở tình trạng cần được giám hộ, cá nhân, pháp nhân được lựa chọn là người giám hộ nếu người này đồng ý. Việc lựa chọn người giám hộ phải được lập thành văn bản có công chứng hoặc chứng thực (Khoản 2 Điều 48). 

Một người, một pháp nhân có thể làm người giám hộ cho nhiều người. 

3. Điều kiện để trở thành người giám hộ

Đối với cá nhân phải đáp ứng đủ các điều kiện quy định tại Điều 49 Bộ luật dân sự Việt Nam 2015 như sau: 

1. Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ.

2. Có tư cách đạo đức tốt và các điều kiện cần thiết để thực hiện quyền, nghĩa vụ của người giám hộ.

3. Không phải là người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc người bị kết án nhưng chưa được xoá án tích về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của người khác.

4. Không phải là người bị Tòa án tuyên bố hạn chế quyền đối với con chưa thành niên.

Đối với pháp nhân phải đáp ứng đủ các điều kiện quy định tại Điều 50 Bộ luật dân sự Việt Nam 2015 như sau:

1. Có năng lực pháp luật dân sự phù hợp với việc giám hộ.

2. Có điều kiện cần thiết để thực hiện quyền, nghĩa vụ của người giám hộ.

 

Quyền và nghĩa vụ của người quản lý di sản thừa kế

Người quản lý di sản thừa kế là người có quyền nắm giữ quản lý tài sản của người đã chết trong thời gian di sản chưa được chia cho những người thừa kế. Vậy quyền và nghĩa vụ của người quản lý là như thế nào? 

1. Người quản lý di sản thừa kế là ai? 

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 616 Bộ luật dân sự 2015: Người quản lý di sản là người được chỉ định trong di chúc hoặc do những người thừa kế thỏa thuận cử ra. 

Trường hợp di chúc không chỉ định người quản lý di sản và những người thừa kế chưa cử được người quản lý di sản thì người đang chiếm hữu, sử dụng, quản lý di sản tiếp tục quản lý di sản đó cho đến khi những người thừa kế cử được người quản lý di sản.

Trường hợp chưa xác định được người thừa kế và di sản chưa có người quản lý theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này thì di sản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quản lý.

2. Nghĩa vụ của người quản lý di sản thừa kế

Nghĩa vụ của người quản lý di sản thừa kế được quy định tại Điều 617 Bộ luật dân sự 2015. Theo đó nghĩa vụ được quy định theo tính chất của người quản lý di sản thừa kế. 

Trường hợp người quản lý di sản quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 616 của Bộ luật dân sự 2015 có nghĩa vụ sau đây:

a) Lập danh mục di sản; thu hồi tài sản thuộc di sản của người chết mà người khác đang chiếm hữu, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác;

b) Bảo quản di sản; không được bán, trao đổi, tặng cho, cầm cố, thế chấp hoặc định đoạt tài sản bằng hình thức khác, nếu không được những người thừa kế đồng ý bằng văn bản;

c) Thông báo về tình trạng di sản cho những người thừa kế;

d) Bồi thường thiệt hại nếu vi phạm nghĩa vụ của mình mà gây thiệt hại;

đ) Giao lại di sản theo yêu cầu của người thừa kế.

Trường hợp người quản đang chiếm hữu, sử dụng, quản lý di sản quy định tại khoản 2 Điều 616 của Bộ luật dân sự 2015 thì có các nghĩa vụ sau: 

a) Bảo quản di sản; không được bán, trao đổi, tặng cho, cầm cố, thế chấp hoặc định đoạt tài sản bằng hình thức khác;

b) Thông báo về di sản cho những người thừa kế;

c) Bồi thường thiệt hại nếu vi phạm nghĩa vụ của mình mà gây thiệt hại;

d) Giao lại di sản theo thỏa thuận trong hợp đồng với người để lại di sản hoặc theo yêu cầu của người thừa kế.

3. Quyền của người quản lý di sản thừa kế

Quyền của người quản lý di sản thừa kế cũng được quy định theo tính chất của người quản lý di sản thừa kế, cụ thể tại Điều 618 Bộ luật dân sự 2015: 

1. Người quản lý di sản quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 616 của Bộ luật này có quyền sau đây:

a) Đại diện cho những người thừa kế trong quan hệ với người thứ ba liên quan đến di sản thừa kế;

b) Được hưởng thù lao theo thỏa thuận với những người thừa kế;

c) Được thanh toán chi phí bảo quản di sản.

2. Người đang chiếm hữu, sử dụng, quản lý di sản quy định tại khoản 2 Điều 616 của Bộ luật này có quyền sau đây:

a) Được tiếp tục sử dụng di sản theo thỏa thuận trong hợp đồng với người để lại di sản hoặc được sự đồng ý của những người thừa kế;

b) Được hưởng thù lao theo thỏa thuận với những người thừa kế;

c) Được thanh toán chi phí bảo quản di sản.

3. Trường hợp không đạt được thỏa thuận với những người thừa kế về mức thù lao thì người quản lý di sản được hưởng một khoản thù lao hợp lý.

 

Những điều cần lưu ý về hợp đồng ủy quyền

Theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2015 (BLDS), hợp đồng ủy quyền là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên được ủy quyền có nghĩa vụ thực hiện công việc nhân danh bên ủy quyền, bên ủy quyền chỉ phải trả thù lao nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định. Bài viết dưới đây làm rõ một số lưu ý khi ký kết hợp đồng ủy quyền.

1. Thời hạn thực hiện ủy quyền do các bên thỏa thuận hoặc do pháp luật quy định

Trường hợp nếu không có thỏa thuận và pháp luật không có quy định thì hợp đồng ủy quyền có hiệu lực 01 năm, kể từ ngày xác lập việc ủy quyền (Điều 563 BLDS).

2. Uỷ quyền lại

Cụ thể, bên nhận ủy quyền được ủy quyền lại cho người khác trong 02 trường hợp sau:

  • Có sự đồng ý của bên ủy quyền;
  • Do sự kiện bất khả kháng nếu không áp dụng ủy quyền lại thì mục đích xác lập, thực hiện giao dịch dân sự vì lợi ích của người ủy quyền không thể thực hiện được.

Trong đó:

  • Việc ủy quyền lại không được vượt quá phạm vi ủy quyền ban đầu.
  • Hình thức hợp đồng ủy quyền lại phải phù hợp với hình thức ủy quyền ban đầu.

(Điều 564 BLDS).

3. Đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng ủy quyền

– Bên ủy quyền:

  • Trường hợp ủy quyền có thù lao, bên ủy quyền có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng bất cứ lúc nào, nhưng phải trả thù lao cho bên được ủy quyền tương ứng với công việc mà bên được ủy quyền đã thực hiện và bồi thường thiệt hại;
  • Nếu ủy quyền không có thù lao thì bên ủy quyền có thể chấm dứt thực hiện hợp đồng bất cứ lúc nào, nhưng phải báo trước cho bên được ủy quyền một thời gian hợp lý;
  • Bên ủy quyền phải báo bằng văn bản cho người thứ ba biết về việc bên ủy quyền chấm dứt thực hiện hợp đồng; nếu không báo thì hợp đồng với người thứ ba vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp người thứ ba biết hoặc phải biết về việc hợp đồng ủy quyền đã bị chấm dứt.

– Bên được ủy quyền:

  • Trường hợp ủy quyền có thù lao thì bên được ủy quyền có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng bất cứ lúc nào và phải bồi thường thiệt hại cho bên ủy quyền, nếu có;
  • Trường hợp ủy quyền không có thù lao, bên được ủy quyền có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng bất cứ lúc nào, nhưng phải báo trước cho bên ủy quyền biết một thời gian hợp lý.

(Điều 569 BLDS).

Người mất tích sau bao lâu thì bị tuyên bố chết?

Việc tuyên bố chết được quy định cụ thể tại Điều 71 Bộ luật dân sự năm 2015. Cụ thể, Tòa án tuyên bố một người là đã chết khi có yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan trong các trường hợp sau:

– Bị Tòa án tuyên bố mất tích: Sau 03 năm từ ngày quyết định tuyên bố mất tích có hiệu lực mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống;

– Biệt tích trong chiến tranh: Sau 05 năm kể từ ngày chiến tranh kết thúc vẫn không có tin tức xác thực là còn sống;

– Bị tai nạn hoặc thảm họa, thiên tai: Sau 02 năm kể từ ngày tai nạn, thảm họa, thiên tai chấm dứt mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống trừ trường hợp pháp luật có quy định khác;

– Biệt tích: Thời gian biệt tích là 05 năm trở lên và không có tin tức xác thực là còn sống. Trong đó, thời gian biệt tích được xác định như sau:

  • Từ ngày biết được tin tức cuối cùng về người đó;
  • Nếu không xấc định được ngày có tin tức cuối cùng thì tính từ ngày đầu tiên của tháng tiếp theo tháng có tin tức cuối cùng;
  • Nếu không xác định được ngày, tháng có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của năm tiếp theo năm có tin tức cuối cùng.

Căn cứ quy định trên, tùy vào từng trường hợp cụ thể, một người sẽ bị tuyên bố đã chết sau thời hạn mất tích tương ứng nêu trên.

0988873883