Nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly hôn

Sau khi ly hôn, quan hệ vợ chồng chấm dứt. Tuy nhiên Luật hôn nhân và gia đình 2014 (LHNGĐ) vẫn có một quy định về việc vợ/chồng phải cấp dưỡng cho bên còn lại khi ly hôn. Bài viết làm rõ quy định này.

Điều 115 LHNGĐ quy định về nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly hôn như sau:

“Khi ly hôn, nếu bên khó khăn, túng thiếu có yêu cầu cấp dưỡng mà có lý do chính đáng thì bên kia có nghĩa vụ cấp dưỡng theo khả năng của mình”.

Như vậy, sau ly hôn, nếu vợ hoặc chồng muốn đối phương cấp dưỡng thì cần phải đáp ứng 4 điều kiện:

  • Khó khăn, túng thiếu;
  • Có lý do chính đáng;
  • Có yêu cầu cấp dưỡng
  • Đối phương phải có khả năng cấp dưỡng.

Các văn bản hướng dẫn LHNGĐ không giải thích cụ thể về trường hợp nào được coi là khó khăn, túng thiếu hay thế nào là lý do chính đáng. Tuy nhiên, trong thực tiễn xét xử, lý do chính đáng thường được được xác định do những điều kiện ngoại cảnh mang lại, như: Ốm đau, bệnh tật hay tai nạn bất ngờ…

Cũng như mức cấp dưỡng đối với con, mức cấp dưỡng giữa vợ chồng không được LHNGĐ quy định cụ thể mà Luật này tôn trọng nguyên tắc thỏa thuận của hai bên.

Điều 116 quy định:

“Mức cấp dưỡng do người có nghĩa vụ cấp dưỡng và người được cấp dưỡng thỏa thuận căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết”.

Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

Việc cấp dưỡng có thể được thực hiện định kỳ hàng tháng, hàng quý, nửa năm, hàng năm hoặc một lần.

Những rủi ro về mặt pháp lý nếu không đăng ký kết hôn

Không đăng ký kết hôn mà chung sống với nhau như vợ chồng là một tình trạng diễn ra khá phổ biến. Tuy nhiên họ không hề biết rằng việc không đăng ký kết hôn sẽ để lại những hậu quả hoặc rủi ro như thế nào, bài viết này làm rõ 4 vấn đề có thể gặp phải.

1. Không được bảo vệ khi có “người thứ ba” xuất hiện

Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình 2014 (LHNGĐ) quy định: Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy với nhau. Nếu vi phạm nguyên tắc chung thủy trong hôn nhân, người vi phạm có thể sẽ bị xử lý vi phạm hành chính, thậm chí truy cứu trách nhiệm hình sự.

Tuy nhiên, do không được pháp luật công nhận nên trong trường hợp nam nữ chung sống như vợ chồng trái pháp luật sẽ không tồn tại những quyền và nghĩa vụ pháp lý như trên.

Điều này có tác động rất tiêu cực đến cuộc sống gia đình. Bởi vì nếu hai người sống chung với nhau mà không có quyền và nghĩa vụ pháp lý ràng buộc thì bên còn lại sẵn sàng vi phạm. Họ có thể “ngoại tình” mà người chung sống không ngăn cản được do không được đảm bảo về mặt pháp lý.

2. Khai sinh của con không có tên cha

Một trong những điều kiện cần thiết để làm giấy khai sinh cho con chính là giấy đăng ký kết hôn. Những cặp đôi sống chung với nhau khi không đăng ký kết hôn nếu muốn được cấp giấy khai sinh cho con sẽ buộc phải áp dụng quy định tại khoản 2 Điều 15 Nghị định 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015:

Trường hợp chưa xác định được cha thì khi đăng ký khai sinh họ, dân tộc, quê quán, quốc tịch của con được xác định theo họ, dân tộc, quê quán, quốc tịch của mẹ; phần ghi về cha trong Sổ hộ tịch và Giấy khai sinh của trẻ để trống”.

Do đó, trong trường hợp cặp đôi sống chung với nhau nhưng không đăng ký kết hôn, đứa trẻ sẽ mang họ mẹ. Nếu trong trường hợp người cha có chứng cứ chứng minh được quan hệ cha con và có nguyện vọng được nhận con sẽ được giải quyết.

4 thiệt thòi về pháp lý khi chán “sống thử”

3. Quan hệ tài sản

Điều 16 LHNGĐ quy định:

Quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn được giải quyết theo thỏa thuận giữa các bên; trong trường hợp không có thỏa thuận thì giải quyết theo quy định của Bộ luật Dân sự và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

Việc giải quyết quan hệ tài sản phải bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ và con; công việc nội trợ và công việc khác có liên quan để duy trì đời sống chung được coi như lao động có thu nhập”.

Khi chấm dứt chung sống với nhau như vợ chồng, tài sản chung hình thành trong thời kỳ sống chung rất khó phân chia. Bởi không có giấy đăng ký kết hôn nên mọi nghĩa vụ về tài sản phát sinh trong thời kỳ này sẽ trở nên khá rắc rối.

Có những tài sản đăng ký sở hữu chỉ mang tên 1 người. Vì vậy, nếu người còn lại muốn được phân chia những tài sản đó phải có căn cứ chứng minh công sức mình cùng tạo dựng, hình thành nên tài sản. Việc chứng minh này dường như rất khó khăn trên thực tế.  

4. Nghĩa vụ cấp dưỡng

Điều 110 LHNGĐ quy định cha, mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chưa thành niên trong trường hợp không sống chung với con. Tuy nhiên, trong trường hợp này, quy định này rất khó được áp dụng. Bởi trên giấy khai sinh của con chỉ có tên mẹ, do đó nếu như chia tay, người mẹ sẽ không có căn cứ pháp lý để yêu cầu người bố phải cấp dưỡng cho con, trừ khi dùng đến biện pháp xét nghiệm của y học để chứng minh quan hệ cha con.

Việc sống chung như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn từ trước đến nay vốn dĩ pháp luật không cấm. Thế nhưng, trên thực tế, những tranh chấp phát sinh xảy ra từ việc sống thử rất nhiều dẫn đến những hậu quả pháp lý vô cùng phức tạp. Trước khi tính đến chuyện sống thử, những cặp đôi cần phải suy nghĩ thật kỹ, tính đến những thiệt thòi kể trên để có được quyết định đúng đắn đối với cuộc sống bản thân mình.

Có được nhận con riêng của vợ hoặc chồng làm con nuôi?

Việc nhận con nuôi là một vấn đề quan trọng và phải tuân theo quy định của pháp luật về nuôi con nuôi. Vậy liệu vợ hoặc chồng có được nhận con riêng của nhau làm con nuôi hay không, bài viết dưới đây làm rõ quy định của luật con nuôi hiện hành về vấn đề này.

Theo quy định tại điều 3 Luật nuôi con nuôi 2010, nuôi con nuôi là việc xác lập quan hệ cha, mẹ và con giữa người nhận nuôi và con nuôi. Trong đó, mối quan hệ cha mẹ nuôi và con nuôi được tạo nên sau khi hai bên thực hiện thủ tục đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền.

Điều 39 Bộ luật dân sự 2015 cũng nêu rõ cá nhân có quyền được nhận con nuôi và được làm con nuôi. Và Điều 6 Luật Nuôi con nuôi 2010 cũng quy định, pháp luật bảo vệ quyền nhận con nuôi và quyền làm con nuôi của cá nhân.

Trong đó, thứ tự ưu tiên được lựa chọn gia đình nhận trẻ em làm con nuôi theo thứ tự sau đây:

– Cha dượng, mẹ kế;

– Cô, cậu, dì, chú, bác ruột của người được nhận làm con nuôi;

– Công dân Việt Nam thường trú ở trong nước;

– Người nước ngoài thường trú ở Việt Nam;

– Công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài;

– Người nước ngoài thường trú ở nước ngoài.

Nếu có nhiều người cùng hàng ưu tiên đều xin nhận một người làm con nuôi thì cơ quan có thẩm quyền sẽ xem xét đến điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ tốt nhất để chọn ra người nhận nuôi.

Theo đó, người nhận nuôi phải đáp ứng 05 điều kiện: Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; Hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên; Có điều kiện về sức khỏe, kinh tế, chỗ ở để bảo đảm cho việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nuôi tốt nhất; Có tư cách đạo đức tốt; Không thuộc các trường hợp bị cấm nhận con nuôi.

Tương tự, để được mẹ kế, cha dượng nhận nuôi thì người con nuôi phải dưới 18 tuổi.

Lúc này, mẹ kế hoặc cha dượng phải chuẩn bị các giấy tờ:

  • Đơn xin nhận nuôi con nuôi;
  • Bản sao Hộ chiếu hoặc chứng minh nhân dân hoặc giấy từ có giá trị thay thế;
  • Phiếu lý lịch tư pháp;
  • Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân;
  • Giấy khám sức khỏe do cơ quan y tế cấp huyện trở lên cấp;
  • Văn bản xác nhận hoàn cảnh gia đình, tình trạng chỗ ở, điều kiện kinh tế do Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người nhận con nuôi thường trú cấp.

Như vậy, pháp luật rõ ràng có quy định cha dượng, mẹ kế có quyền nhận nuôi con nuôi.

Có phải cấp dưỡng cho con riêng của vợ/chồng khi ly hôn hay không?

Cấp dưỡng là việc một người có nghĩa vụ đóng góp tiền hoặc tài sản khác để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người không sống chung với mình mà có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng trong trường hợp người đó là người chưa thành niên, người đã thành niên mà không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình hoặc người gặp khó khăn, túng thiếu theo quy định của Luật này. Vậy khi ly hôn đối với việc vợ/chồng có con riêng, nghĩa vụ này có phát sinh hay không, bài viết dưới đây sẽ làm rõ về vấn đề này.

Sau khi ly hôn, cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ đối với con của mình như sau:

  • Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.
  • Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.
  • Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
  • Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Ngoài ra, tại Điều 79 Luật hôn nhân và gia đình 2014, cha dượng, mẹ kế khi sống chung với con riêng của bên kia thì phải có quyền và nghĩa vụ trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục:

  •  Yêu thương, chăm lo việc học tập, giáo dục con;
  •  Trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con;
  •  Giáo dục con, chăm lo và tạo điều kiện cho con học tập…

Theo quy định nêu trên, cha dượng, mẹ kế chỉ có quyền và nghĩa vụ trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con riêng của bên kia khi con riêng cùng sống chung với mình.

Mà khi đã ly hôn, thì con riêng chắc chắn không còn sống chung với cha dượng hoặc mẹ kế nữa. Do đó, quyền và nghĩa vụ giữa cha dượng, mẹ kế với con riêng của bên kia không còn tồn tại.

Không chỉ vậy, pháp luật chỉ đặt ra quy định về cấp dưỡng sau khi ly hôn giữa cha mẹ và con mà không quy định về quyền và nghĩa vụ của cha dượng, mẹ kế với con riêng của bên kia.

Do đó, không phải cấp dưỡng cho con riêng của vợ/chồng khi ly hôn.

 

Con riêng của vợ và con riêng của chồng có được kết hôn với nhau?

Kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn. Vậy đối với trường hợp con riêng của vợ và con riêng của chồng có được kết hôn với nhau hay không, bài viết dưới đây sẽ làm rõ về vấn đề này. 

1. Các trường hợp quan hệ bị cấm kết hôn với nhau

Theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình 2014 (LHNGĐ); việc kết hôn phải đảm bảo các điều kiện tại Điều 8 và không thuộc các điều cấm cần phải tránh tại Điều 5: Không được yêu sách của cải, cưỡng ép, lừa dối, cản trở…

Ngoài ra, 06 mối quan hệ sau không được phép kết hôn hoặc chung sống với nhau như vợ chồng (căn cứ khoản 2 Điều 5 LHNGĐ):

– Giữa người đang có vợ hoặc có chồng với người khác;

– Giữa những người cùng dòng máu về trực hệ. Những người này có quan hệ huyết thống, trong đó người này sinh ra người kia kế tiếp nhau;

– Giữa những người có họ trong phạm vi ba đời. Trong đó, đời thứ nhất là cha mẹ; Đời thứ hai là anh, chị, em cùng cha mẹ, cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha; Đời thứ ba là anh, chị, em con chú, con bác, con cô, con cậu, con dì;

– Giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi;

– Giữa cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể;

– Giữa cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng;

Những mối quan hệ trên không chỉ vi phạm pháp luật mà còn vi phạm đạo đức. Không chỉ vậy, chúng còn ảnh hưởng đến sức khỏe, tâm sinh lý của thế hệ tiếp theo.

con riêng của vợ chồng có được kết hôn

2. Con riêng của vợ và con riêng của chồng được kết hôn với nhauCăn cứ phân tích ở trên, con riêng của vợ và con riêng của chồng không thuộc trường hợp bị cấm kết hôn. Do đó, hai người hoàn toàn được phép kết hôn với nhau nếu đáp ứng các điều kiện:

– Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên;

– Do nam nữ tự nguyện quyết định;

– Không bị mất năng lực hành vi dân sự;

– Không phải kết hôn giả tạo, không phải tảo hôn, không bị cưỡng ép, cản trở kết hôn…

Lúc này, hai người có thể đến Ủy ban nhân dân cấp xã của một trong hai để làm thủ tục đăng ký kết hôn. 

Trình tự thủ tục khi kết hôn lần hai

Sau khi đã có bản án hoặc quyết định công nhận thuận tình ly hôn của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật thì muốn kết hôn lần nữa cần những thủ tục như thế nào, bài viết dưới đây làm rõ những quy định này.

Theo đó, khi muốn kết hôn với người khác thì bắt buộc tại thời điểm kết hôn, hai người phải không có vợ hoặc chồng:

– Nếu chưa có vợ hoặc chồng thì bắt buộc phải có xác nhận tình trạng hôn nhân là từ khi đủ tuổi đăng ký kết hôn đến thời điểm đăng ký kết hôn còn độc thân;

– Nếu đã từng có vợ/chồng thì phải có bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án về việc ly hôn và giấy xác nhận tình trạng hôn nhân nêu rõ từ thời điểm ly hôn chưa đăng ký kết hôn với ai.

kết hôn lần 2

Vậy có thể thấy, nếu muốn đăng ký kết hôn với người khác sau khi ly hôn thì người này phải thỏa mãn các điều kiện nêu tại Điều 8 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014:

– Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên;

– Việc kết hôn hoàn toàn do hai bên nam và nữ tự nguyện;

– Cả hai bên nam nữ không bị mất năng lực hành vi dân sự;

– Không phải kết hôn giả tạo;

– Không tảo hôn, cưỡng ép, lừa dối, cản trở kết hôn;

– Không phải đang có vợ hoặc có chồng, cũng không kết hôn với người đang có vợ, đang có chồng;

– Không kết hôn với người cùng dòng máu trực hệ; có họ trong phạm vi ba đời; Giữa cha, mẹ nuôi hoặc từng là cha mẹ nuôi với con nuôi; Giữa cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng.

Thủ tục ly hôn khi một bên đang ở nước ngoài

Việc một bên sau khi kết hôn sinh sống và làm việc ở nước ngoài không còn là vấn đề xa lạ. Khi tiến hành ly hôn mà vợ hoặc chồng đang sinh sống ở nước ngoài thì trình tự thủ tục diễn ra như thế nào, bài viết dưới đây sẽ làm rõ về những vấn đề này cho người đọc hiểu rõ.

Do đó, xét trường hợp ly hôn theo pháp luật Việt Nam thì Điều 83 BLTTDS, khoản 2 Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình 2014 (LHNGĐ) thì việc ly hôn phải do hai bên tự thực hiện, không thể ủy quyền cho người khác tham gia tố tụng được ngoại trừ trường hợp cha, mẹ, người thân thích là đại diện theo quy định tại khoản 2 Điều 51 LHNGĐ.

1. Tòa án có thẩm quyền giải quyết ly hôn

Theo quy định tại khoản 3 Điều 35 BLTTDS, Tòa án nhân dân cấp huyện không có thẩm quyền giải quyết các vụ án ly hôn khi có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài. Mà lúc này, thẩm quyền thuộc về Tòa án nhân dân cấp tỉnh (Điều 37 BLTTDS).

Do đó, khi có một người đang ở nước ngoài thì người yêu cầu ly hôn phải nộp hồ sơ đến Tòa án nhân dân cấp tỉnh.

2. Hồ sơ yêu cầu ly hôn đơn phương

Để được ly hôn một cách nhanh chóng, người yêu cầu ly hôn phải chuẩn bị đầy đủ các loại hồ sơ, giấy tờ sau:

-Đơn xin đơn phương ly hôn (theo mẫu); 

– Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn. Nếu mất thì phải nộp bản sao đăng ký kết hôn;

– Chứng minh nhân dân hoặc căn cước công dân hoặc hộ chiếu; hộ khẩu; Hồ sơ tài liệu chứng minh việc một bên đang ở nước ngoài (nếu có);

– Giấy khai sinh của con (nếu có);

– Giấy tờ, tài liệu về tài sản chung của hai vợ chồng (nếu có)…

3. Khi không có địa chỉ của người đang ở nước ngoài

Qua thực tiễn xét xử, có rất nhiều trường hợp ly hôn nhưng nguyên đơn chỉ cung cấp được địa chỉ nơi cư trú cuối cùng ở Việt Nam mà không cung cấp được địa chỉ hiện người này đang ở nước ngoài. Do đó, Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Công văn 253/TANDTC-PC hướng dẫn về việc giải quyết vụ án ly hôn có bị đơn là người Việt Nam ở nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ cụ thể như sau: 

– Nếu thông qua thân nhân của họ mà vẫn không biết được địa chỉ, tin tức của bị đơn thì đây được coi là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp tài liệu cần thiết;

– Nếu Tòa án yêu cầu đến lần thứ hai mà thân nhân của họ vẫn không cung cấp cũng không thông báo cho bị đơn thì Tòa án sẽ đưa vụ án ra xét xử vắng mặt theo thủ tục chung;

– Sau khi xét xử, Tòa án sẽ gửi ngay bản sao bản án hoặc quyết định đến thân nhân của bị đơn để người này chuyển cho bị đời;

– Niêm yết công khai bản sao bản án, quyết định tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã nơi bị đơn cư trú cuối cùng là nơi thân nhân đang cư trú để đương sự có thể sử dụng quyền kháng cáo theo quy định.

 

 

Trình tự thủ tục ly hôn khi người vợ đang mang thai

Khi người vợ đang mang thai, người chồng không được quyền yêu cầu ly hôn mà chỉ được ly hôn khi hai bên cùng thuận tình ly hôn hoặc người vợ yêu cầu ly hôn đơn phương.

1. Vợ đang mang thai có quyền yêu cầu ly hôn

Theo khoản 14 Điều 3 Luật hôn nhân và gia đình 2014 (LHNGĐ), ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án (đơn phương ly hôn) hoặc quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án (thuận tình ly hôn).

Do đó, khi hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích của hôn nhân không đạt được, vợ hoặc chồng hoặc cả hai vợ chồng có thể thỏa thuận để yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn.

Theo đó, bên cạnh việc chấm dứt mối quan hệ vợ chồng, nếu ly hôn, hai người còn yêu cầu hoặc thỏa thuận các vấn đề khác như phân chia tài sản chung, giành quyền nuôi con, cấp dưỡng…

Dù vậy, để bảo vệ quyền lợi chính đáng của phụ nữ và trẻ em, Điều 51 LHNGĐ khẳng định:

“Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi”.

Nếu thuộc một trong ba trường hợp nêu trên, vợ đang có thai, vợ sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi thì chồng không được quyền yêu cầu ly hôn.

Điều này đồng nghĩa với việc, Luật chỉ cấm chồng không được ly hôn khi vợ đang có thai mà không cấm trường hợp ngược lại. Do đó, vợ hoàn toàn có quyền yêu cầu ly hôn khi đang mang thai.

Tuy nhiên, khi đơn phương yêu cầu ly hôn thì Tòa sẽ giải quyết ly hôn nếu có các căn cứ nêu tại Điều 56 LHNGĐ:

– Chồng có hành vi bạo lực gia đình;

– Chồng vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng khiến không thể tiếp tục duy trì mối quan hệ hôn nhân nữa.

Như vậy, khi vợ đang mang thai, chồng không được yêu cầu ly hôn nhưng trường hợp hai người ly hôn thuận tình hoặc vợ yêu cầu ly hôn đơn phương thì không bị pháp luật cấm.

 2. Thủ tục ly hôn khi người vợ đang mang thai

– Thuận tình ly hôn;

– Vợ đơn phương yêu cầu ly hôn.

Theo đó, thủ tục trong hai trường hợp nêu trên được thực hiện cụ thể như sau:

2.1. Thuận tình ly hôn

Bước 1: Chuẩn bị hồ sơ

–  Đơn xin ly hôn thuận tình;

– Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn (bản chính);

– Chứng minh nhân dân của vợ và chồng (bản sao có chứng thực);

– Giấy khai sinh của các con (nếu có con chung, bản sao có chứng thực);

– Sổ hộ khẩu gia đình (bản sao có chứng thực);

– Giấy tờ chứng minh quyền sở hữu đối với tài sản chung (nếu có tài sản chung, bản sao có chứng thực).

Bước 2: Nộp hồ sơ

Hồ sơ được gửi qua đường bưu điện hoặc nộp trực tiếp tại Tòa án nhân dân cấp huyện nơi cư trú của vợ hoặc của chồng (hai vợ chồng có thể thỏa thuận Tòa án nộp hồ sơ).

Bước 3: Nộp tạm ứng lệ phí và Tòa án sẽ xem xét việc thụ lý đơn xin thuận tình ly hôn.

Bước 4: Tòa án chuẩn bị xét đơn yêu cầu và mở phiên họp công khai để giải quyết việc yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn. Lúc này, Tòa án sẽ tiến hành hòa giải.

Bước 5: Ra quyết định

– Nếu hòa giải thành, vợ chồng đoàn tụ thì Tòa án đình chỉ giải quyết yêu cầu ly hôn;

– Nếu hòa giải không thành, Tòa án ra quyết định công nhận thuận tình ly hôn.

2.2. Vợ đơn phương yêu cầu ly hôn

Để được Tòa án giải quyết đơn phương ly hôn, ngoài những giấy tờ trong trường hợp thuận tình ly hôn, người vợ cần phải chuẩn bị:

– Đơn xin ly hôn (theo mẫu trong trường hợp đơn phương);

– Giấy tờ, tài liệu chứng minh cho yêu cầu ly hôn đơn phương: Chồng có hành vi bạo lực gia đình, không thực hiện nghĩa vụ của mình với gia đình…

Trong trường hợp ly hôn đơn phương, Tòa án vẫn tiến hành hòa giải. Nếu hòa giải thành thì Tòa án công nhận sự thỏa thuận của các bên. Nếu hòa giải không thành thì Tòa án sẽ đưa vụ án ra xét xử và kết quả được nêu tại bản án.

Chồng có được quyền ly hôn khi vợ đang mang thai con của người khác?

Ly hôn là biện pháp cuối cùng khi hai vợ chồng không thể cùng chung sống với nhau nữa nhằm chấm dứt hôn nhân. Tuy nhiên trong một số trường hợp, Luật hôn nhân và gia đình (LHNGĐ) không cho phép người chồng ly hôn.

Khoản 3 Điều 51 LHNGĐ quy định:

“Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi”.

Kể cả trong trường hợp người vợ đang mang thai con không phải là của người chồng đang chung sống thì người chồng vẫn không được quyền yêu cầu ly hôn.

Theo khoản 1 Điều 88 LHNGĐ: 

“Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng.

Con được sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân được coi là con do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân.

Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận là con chung của vợ chồng”.

Đây là một quy định thể hiện tính nhân văn sâu sắc và tiến bộ trong tư tưởng trong  pháp luật về hôn nhân gia đình. Quy định này được đặt ra nhằm bảo vệ bà mẹ và trẻ em, cũng như bảo vệ phụ nữ có thai và thai nhi.

Quyền lợi của trẻ em và phụ nữ (những người yếu thế) được pháp luật tôn trọng, đề cao và bảo vệ chặt chẽ.

 

Giành quyền nuôi cả 2 con khi ly hôn

Quyền nuôi con là vấn đề quan trọng mà thường khi ly hôn cả cha và mẹ đều mong muốn. Trong trường hợp gia đình có 02 con thì làm sao để giành được quyền nuôi cả hai. Bài viết phân tích những quy định của pháp luật về nuôi con khi ly hôn để tạo cơ sở pháp lý cho các cặp vợ chồng khi ly hôn muốn nuôi cả hai con.

1. Nguyên tắc thỏa thuận của vợ chồng về nuôi con sau ly hôn

Theo quy định tại Điều 71 Luật hôn nhân và gia đình 2014 (LHNGĐ), cha, mẹ có quyền và nghĩa vụ ngang nhau, cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục… đối với con chưa thành niên; Con đã thành niên mà mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động, tài sản để tự nuôi mình.

Điều 81 LHNGĐ quy định như sau:

Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn với con”.

Như vậy, quyền nuôi con sau ly hôn trên thực tế tòa luôn tôn trọng sự thỏa thuận giữa các bên về người trực tiếp nuôi con.

2. Giành quyền nuôi cả 2 con khi vợ chồng ly hôn

Trên thực tế không phải lúc nào hai vợ chồng cũng có thể thỏa thuận được vấn đề nuôi con. Do đó, khi không thỏa thuận được, Tòa án sẽ quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi mọi mặt của con. Ngoài ra, còn căn cứ vào:

– Nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì xem xét nguyện vọng của con;

– Con dưới 36 tháng tuổi thì giao cho mẹ trực tiếp nuôi con trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác.

Riêng với trường hợp, gia đình có 02 con thì thực tế cho thấy, Tòa án thường sẽ giao cho mỗi bên nuôi một con sau khi cũng căn cứ vào điều kiện của cả hai bên.

Do đó, nếu một bên vợ hoặc chồng muốn giành được quyền nuôi cả 02 con thì bắt buộc phải chứng minh bản thân có đầy đủ điều kiện để cung cấp mọi quyền lợi tốt nhất cho con về mọi mặt.

Thứ nhất, về điều kiện kinh tế: 

Cha/mẹ cần phải chứng minh bản thân hoàn toàn có đủ điều kiện để tạo điều kiện tốt nhất cho con sinh hoạt, học tập thông qua thu nhập hàng tháng, tài sản, nhà cửa ổn định… Bên nào có điều kiện vượt trội hơn sẽ giành được ưu thế hơn;

Thứ hai, điều kiện tinh thần:

Cha/mẹ phải chứng minh bản thân có đủ thời gian chăm sóc, giáo dục, dạy dỗ con, ở bên cạnh con, tình cảm giành cho con. Đồng thời, trình độ học vấn, văn hóa, ứng xử… của cha/mẹ cũng ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển của con…

Bên cạnh đó, nếu có những chứng cứ, tài liệu về việc người còn lại không có thu nhập đủ để nuôi dạy 02 người con, không tạo cho con môi trường tốt nhất hoặc có hành vi bạo lực gia đình… thì cũng có thể gửi đến Tòa án để làm căn cứ giành quyền nuôi con.

Tòa án sẽ căn cứ vào điều kiện thực tế của hai bên vợ chồng nếu nuôi cả 02 con để giao con cho người nào.

0988873883