Đọc thư của người khác khi chưa được sự cho phép có bị phạt không?

Công nghệ khoa học ngày càng phát triển thì bên cạnh đó, nguy cơ bị xâm phạm quyền riêng tư, bí mật thư tín, điện thoại,… ngày càng gia tăng. Do đó, BLHS hiện hành đã quy định hình phạt đối với những hành vi phạm tội này.

1. Tội xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín hoặc hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của người khác

Tội xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín hoặc hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của người khác là hành vi tiếp tục vi phạm đến quyền bí mật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của người khác, mặc dù trước đó đã bị xử lý kỉ luật hoặc xử phạt vi phạm hành chính.

Điều 159 quy định về tội phạm như sau:

1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, đã bị xử lý kỷ luật hoặc xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm:

a) Chiếm đoạt thư tín, điện báo, telex, fax hoặc văn bản khác của người khác được truyền đưa bằng mạng bưu chính, viễn thông dưới bất kỳ hình thức nào;

b) Cố ý làm hư hỏng, thất lạc hoặc cố ý lấy các thông tin, nội dung của thư tín, điện báo, telex, fax hoặc văn bản khác của người khác được truyền đưa bằng mạng bưu chính, viễn thông;

c) Nghe, ghi âm cuộc đàm thoại trái pháp luật;

d) Khám xét, thu giữ thư tín, điện tín trái pháp luật;

đ) Hành vi khác xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín, telex, fax hoặc hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của người khác.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 03 năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

c) Phạm tội 02 lần trở lên;

d) Tiết lộ các thông tin đã chiếm đoạt, làm ảnh hưởng đến danh dự, uy tín, nhân phẩm của người khác;

đ) Làm nạn nhân tự sát.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm”.

2. Các dấu hiệu cấu thành tội phạm

2.1. Khách thể của tội phạm

Tội phạm xâm phạm đến quyền được bảo đảm bí mật về thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của người khác.

2.2. Mặt khách quan của tội phạm

Người phạm tội thực hiện một trong các hành vi:

  •  Chiếm đoạt thư tín, điện báo, telex, fax hoặc văn bản khác của người khác được truyền đưa bằng mạng bưu chính, viễn thông dưới bất kỳ hình thức nào;
  • Cố ý làm hư hỏng, thất lạc hoặc cố ý lấy các thông tin, nội dung thư tín, điện báo, telex, fax hoặc văn bản khác của người khác được truyền đưa bằng mạng bưu chính, viễn thông;
  • Nghe, ghi âm cuộc đàm thoại trái pháp luật;
  • Khám xét, thu giữ thư tín, điện tín trái pháp luật;
  • Hành vi khác xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện tín, điện thoại, điện tín, telex, fax hoặc hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác.

Người phạm tội trước đó đã bị xử lý kỷ luật hoặc xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này vẫn chưa hết thời hạn để được xóa kỷ luật hoặc để được coi là chưa bị xử lý hành chính.

2.3. Chủ thể của tội phạm

Bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ 16 tuổi trở lên đều có thể trở thành chủ thể của tội phạm này.

2.4. Mặt chủ quan của tội phạm

Tội phạm được thực hiện với lỗi cố ý.

3. Đọc thư khi chưa được sự cho phép của người khác có bị phạt không?

Từ những phân tích dấu hiệu, hành vi phạm tội trên, có thể thấy rằng, nếu một người có hành vi đọc thư của người khác khi chưa được sự cho phép, và người đó đã bị xử lý kỷ luật hoặc xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm thì người đó có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm quy định tại Điều 159 BLHS.

 

 

Tội chiếm đoạt người dưới 16 tuổi là gì?

Trên cơ sở tội danh mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em quy định tại Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi bổ sung năm 2011), đến Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 (gọi tắt là BLHS), tội phạm này được quy định thành 3 tội phạm khác nhau, trong đó có tội chiếm đoạt người dưới 16 tuổi.

1. Quy định của BLHS về tội phạm

Tội phạm được quy định tại Điều 153 BLHS như sau:

“Điều 153. Tội chiếm đoạt người dưới 16 tuổi

1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc thủ đoạn khác chiếm giữ hoặc giao cho người khác chiếm giữ người dưới 16 tuổi, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn, nghề nghiệp;

c) Đối với người mà mình có trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng;

d) Đối với từ 02 người đến 05 người;

đ) Phạm tội 02 lần trở lên;

e) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31 % đến 60%.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 15 năm:

a) Có tính chất chuyên nghiệp;

b) Đối với 06 người trở lên;

c) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

d) Làm nạn nhân chết;

đ) Tái phạm nguy hiểm.

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”.

2. Các yếu tố cấu thành tội phạm 

2.1. Khách thể của tội phạm

Tội phạm xâm phạm đến quyền được sống cùng bố mẹ, quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng từ bố mẹ, xâm phạm sức khỏe, tính mạng, nhân phẩm của người dưới 16 tuổi.

2.2. Mặt khách quan của tội phạm

Người phạm tội có hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc thủ đoạn khác chiếm giữ hoặc giao cho người khác chiếm giữ người dưới 16 tuổi. Chiếm đoạt được hiểu là hành vi tách, chuyển, cách ly trái phép đứa trẻ khỏi sự quản lý của gia đình hoặc người quản lý hợp pháp và thiết lập sự quản lý đó cho mình hoặc người khác bằng các thủ đoạn.

2.3. Chủ thể của tội phạm

Chủ thể của tội phạm là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự.

2.4. Mặt chủ quan của tội phạm

Tội phạm được thực hiện với lỗi cố ý, cụ thể là lỗi cố ý trực tiếp. Người phạm tội nhận thức rõ hành vcủa mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra.

 

Các bên tham gia giao dịch về nhà ở cần những điều kiện gì?

Nhà ở là công trình xây dựng với mục đích để ở và phục vụ các nhu cầu sinh hoạt của hộ gia đình, cá nhân. Do đó, khi thực hiện các giao dịch về nhà ở, ngoài các điều kiện về nhà ở, các bên giao dịch về nhà ở cũng cần đảm bảo các điều kiện luật định. 

1. Đối với bên bán, cho thuê, cho thuê mua nhà ở

Khoản 1 Điều 119 Luật nhà ở 2014 quy định bên bán, cho thuê, cho thuê mua nhà ở, chuyển nhượng hợp đồng mua bán nhà ở thương mại, tặng cho, đổi, để thừa kế, thế chấp, góp vốn, cho mượn, cho ở nhờ, ủy quyền quản lý nhà ở phải có điều kiện sau đây:

  • Là chủ sở hữu nhà ở hoặc người được chủ sở hữu cho phép, ủy quyền để thực hiện giao dịch về nhà ở theo quy định của Luật này và pháp luật về dân sự; trường hợp chuyển nhượng hợp đồng mua bán nhà ở thương mại thì phải là người đã mua nhà ở của chủ đầu tư hoặc người đã nhận chuyển nhượng hợp đồng mua bán nhà ở;
  • Nếu là cá nhân thì phải có đầy đủ năng lực hành vi dân sự để thực hiện giao dịch về nhà ở theo quy định của pháp luật dân sự; nếu là tổ chức thì phải có tư cách pháp nhân, trừ trường hợp tổ chức tặng cho nhà tình nghĩa, nhà tình thương.

2. Đối với bên mua, thuê, thuê mua nhà ở

Khoản 2 khoản 3 điều 119 Luật nhà ở 2014 thì bên mua, thuê, thuê mua nhà ở, bên nhận chuyển nhượng hợp đồng mua bán nhà ở thương mại, nhận đổi, nhận tặng cho, nhận thừa kế, nhận góp vốn, nhận thế chấp, mượn, ở nhờ, được ủy quyền quản lý nhà ở là cá nhân thì phải có điều kiện sau đây:

  • Nếu là cá nhân trong nước thì phải có đủ năng lực hành vi dân sự để thực hiện các giao dịch về nhà ở theo quy định của pháp luật dân sự và không bắt buộc phải có đăng ký thường trú tại nơi có nhà ở được giao dịch;
  • Nếu là cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài thì phải có đủ năng lực hành vi dân sự để thực hiện giao dịch về nhà ở theo quy định của pháp luật Việt Nam, phải thuộc đối tượng được sở hữu nhà ở tại Việt Nam theo quy định của Luật nhà ở 2014 và không bắt buộc phải có đăng ký tạm trú hoặc đăng ký thường trú tại nơi có nhà ở được giao dịch.
  • Đồng thời, bên mua, thuê, thuê mua nhà ở, bên nhận chuyển nhượng hợp đồng mua bán nhà ở thương mại, nhận đổi, nhận tặng cho, nhận thừa kế, nhận thế chấp, nhận góp vốn, được ủy quyền quản lý nhà ở là tổ chức thì phải có tư cách pháp nhân và không phụ thuộc vào nơi đăng ký kinh doanh, nơi thành lập.

    Trường hợp là tổ chức nước ngoài thì phải thuộc đối tượng được sở hữu nhà ở tại Việt Nam theo quy định của Luật nhà ở 2014; nếu tổ chức được ủy quyền quản lý nhà ở thì phải có chức năng kinh doanh dịch vụ bất động sản và đang hoạt động tại Việt Nam theo quy định của pháp luật về kinh doanh bất động sản.

Điều kiện để nhà ở tham gia giao dịch mua bán, cho thuê

Nhà ở là một tài sản thường xuyên xuất hiện trong các giao dịch dân sự về mua bán, cho thuê mua, tặng cho, đổi, thế chấp, góp vốn. Tuy nhiên, nhà ở cần đáp ứng đủ các điều kiện của pháp luật mới có thể tham gia được vào các giao dịch này.

Theo quy định tại Điều 118 Luật nhà ở năm 2014 thì giao dịch về mua bán, cho thuê mua, tặng cho, đổi, thế chấp hoặc góp vốn bằng nhà ở thì nhà ở đó cần phải có đủ các điều kiện như sau:

  • Có Giấy chứng nhận theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp giao dịch nhà ở không bắt buộc phải có giấy chứng nhận;
  • Không thuộc diện đang có tranh chấp, khiếu nại, khiếu kiện về quyền sở hữu; đang trong thời hạn sở hữu nhà ở đối với trường hợp sở hữu nhà ở có thời hạn;
  • Không bị kê biên để thi hành án hoặc không bị kê biên để chấp hành quyết định hành chính đã có hiệu lực pháp luật của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;
  • Không thuộc diện đã có quyết định thu hồi đất, có thông báo giải tỏa, phá dỡ nhà ở của cơ quan có thẩm quyền. 
  • Các điều kiện như không thuộc diện tranh chấp, không bị kê biên để thi hành án không áp dụng đối với trường hợp mua bán, thuê mua nhà ở hình thành trong tương lai.

Trường hợp nhà ở cho thuê thì ngoài các điều kiện quy định trên (trừ việc có Giấy chứng nhận theo quy định), nhà ở còn phải bảo đảm chất lượng, an toàn cho bên thuê nhà ở, có đầy đủ hệ thống điện, cấp, thoát nước, bảo đảm vệ sinh môi trường.

Ngoài ra, khoản 2 Điều 118 Luật nhà ở 2014 cũng quy định về những trường hợp giao dịch nhà ở không bắt buộc phải có giấy chứng nhận, bao gồm:

  • Mua bán, thế chấp nhà ở hình thành trong tương lai.
  • Tổ chức thực hiện tặng cho nhà tình nghĩa, nhà tình thương.
  • Mua bán, thuê mua nhà ở thuộc sở hữu nhà nước; mua bán, thuê mua nhà ở xã hội, nhà ở để phục vụ tái định cư không thuộc sở hữu nhà nước; bán nhà ở quy định tại Khoản 4 Điều 62 của Luật nhà ở 2014.
  • Cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ, ủy quyền quản lý nhà ở.
  • Nhận thừa kế nhà ở.
  • Chuyển nhượng hợp đồng mua bán nhà ở thương mại được xây dựng trong dự án đầu tư xây dựng nhà ở bao gồm cả trường hợp đã nhận bàn giao nhà ở từ chủ đầu tư nhưng chưa nộp hồ sơ đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đối với nhà ở đó.

4 trường hợp Nhà nước thu hồi đất của người dân

Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước quyết định thu lại quyền sử dụng đất của người được Nhà nước trao quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất của người sử dụng đất vi phạm pháp luật về đất đai.

1. 04 trường hợp Nhà nước thu hồi đất 

Khoản 1 Điều 16 Luật đất đai 2013 quy định Nhà nước quyết định thu hồi đất trong 04 trường hợp sau đây:

  • Thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh. Ví dụ: Thu hồi đất để xây dựng căn cứ quân sự, làm nơi đóng quân, trụ sở làm việc;…
  • Thu hồi đất để phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng. Ví dụ: Thực hiện các dự án quan trọng quốc gia do Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư,…
  • Thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai. Ví dụ: Sử dụng đất không đúng mục đích được Nhà nước giao; người sử dụng đất cố tình sử dụng đất,…
  • Thu hồi đất do chấm dứt việc sử dụng đất, tự nguyện trả lại đất, có nguy cơ đe dọa tính mạng con người.

2. Cơ quan có thẩm quyền thu hồi đất

Căn cứ Điều 66 Luật Đất đai năm 2013, thẩm quyền ra quyết định thu hồi được quy định như sau:

2.1. Thẩm quyền của UBND cấp tỉnh

UBND cấp tỉnh quyết định thu hồi trong các trường hợp sau:

– Thu hồi đối với tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, trừ trường hợp thu hồi đất ở của người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam.

– Thu hồi đất nông nghiệp thuộc quỹ đất công ích của xã, phường, thị trấn.

2.2. Thẩm quyền của UBND cấp huyện

UBND cấp huyện quyết định thu hồi trong các trường hợp sau:

– Thu hồi đất đối với hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư;

– Thu hồi đất ở của người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam.

Chú ý: Trường hợp trong khu vực thu hồi đất có cả đối tượng thuộc thẩm quyền của UBND cấp tỉnh và UBND cấp huyện thì UBND cấp tỉnh quyết định thu hồi hoặc ủy quyền cho UBND cấp huyện quyết định thu hồi.

 

Phân biệt tội cướp và cướp giật tài sản

Cướp tài sản Cướp giật tài sản
Căn cứ Điều 168, Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 Điều 171, Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017
Hành vi – Dùng vũ lực: Người phạm tội tác động vào thân thể của người chủ sở hữu tài sản, người có trách nhiệm quản lý tài sản hoặc bất cứ người nào cản trở việc chiếm đoạt tài sản của người phạm tội, làm cho những người đó không thể kháng cự lại để người phạm tội thực hiện việc chiếm đoạt tài sản. 

– Đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc: Là hành vi cụ thể của người phạm tội nhằm biểu hiện cho người bị tấn công biết rằng người phạm tội có thể sử dụng vũ lực ngay tức khắc nếu người bị tấn công có hành vi cản trở việc chiếm đoạt tài sản của người phạm tội.

– Có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản.

– Cướp giật tài sản của người khác Người phạm tội thường thực hiện hành vi một cách nhanh chóng

Lợi dụng sơ hở của người quản lý tài sản hoặc có thể tự mình tạo ra những sơ hở để thực hiện hành vi công khai chiếm đoạt tài sản đang rồi nhanh chóng tẩu thoát

Điểm quan trọng ở đây là tính nhanh chóng của hành vi và không sử dụng vũ lực với nạn nhân

Khách thể – Xâm phạm quyền sở hữu đối với tài sản;

– Xâm phạm quyền nhân thân.

– Xâm phạm quyền sở hữu đối với tài sản.
Hình phạt cơ bản 03 năm đến 10 năm tù 01 năm đến 05 năm tù

Đi cướp nhưng chưa cướp được thì có tội không?

Trong những năm gần đây, tình trạng tội phạm ở nước ta đang ngày càng gia tăng đáng kể, trong đó có tội cướp tài sản. Có nhiều người cho rằng mặc dù đi cướp nhưng nếu chưa cướp được tài sản thì không phạm tội này. Bài viết dưới đây sẽ giải đáp cho câu hỏi trên.

1. Căn cứ pháp lý của tội cướp tài sản

Tội cướp tài sản được quy định tại Điều 168 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 (gọi tắt là BLHS) như sau:

1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30%;

d) Sử dụng vũ khí, phương tiện hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác;

đ) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

e) Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu hoặc người không có khả năng tự vệ;

g) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

h) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;

c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 18 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 31% trở lên;

c) Làm chết người;

d) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.

5. Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

6. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.

2. Các yếu tố cấu thành tội phạm

2.1. Khách thể của tội phạm

Tội phạm xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của tổ chức, cá nhân và quyền bất khả xâm phạm về tính mạng, sức khỏe của con người.

2.2. Mặt khách quan của tội phạm

Người phạm tội có hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác bằng các thủ đoạn dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc; hoặc các hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản:

  • Hành vi dùng vũ lực được hiểu là dùng sức mạnh vật chất (có vũ khí hoặc công cụ, phương tiện khác) để chủ động tấn công người quản lý tài sản hoặc người khác; hành động tấn công này có khả năng gây nguy hại đến tính mạng, sức khỏe của người bị tấn công và làm cho họ mất khả năng chống cự lại hoặc công khai để cho người bị tấn công biết… Đe dọa dùng ngay tức khắc vũ lực là đe dọa dùng ngay tức thì sức mạnh vật chất như nói trên nếu người bị tấn công không chịu khuất phục để buộc người bị tấn công phải sợ và tin rằng nếu không để cho họ lấy tài sản thì tính mạng, sức khỏe sẽ bị nguy hại.
  • Đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc thường được kết hợp giữa hành vi sử dụng vũ lực với những thái độ, cử chỉ, lời nói hung bạo, để tạo cảm giác cho người bị tấn công sợ và tin rằng người phạm tội sẽ dùng bạo lực ngay tức khắc nếu không giao tài sản.
  • Tội cướp tài sản là tội phạm có cấu thành tội phạm hình thức và được coi là hoàn thành từ thời điểm người phạm tội đã thực hiện một trong các hành vi dùng bạo lực, đe dọa dùng ngay tức khắc vũ lực hoặc hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được, không kể người phạm tội có chiếm đoạt được tài sản hay không.

2.3. Chủ thể của tội phạm

Người thực hiện hành vi phạm tội là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự.

2.4. Mặt chủ quan của tội phạm

Tội phạm được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp.

Mục đích chiếm đoạt tài sản của người khác là yếu tố bắt buộc của cấu thành tội cướp tài sản. Nếu thực hiện một trong các hành vi dùng bạo lực hoặc đe dọa dùng ngay tức khắc vũ lực hoặc hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được, nhưng không nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản thì không phạm tội cướp tài sản. 

Như vậy, từ sự phân tích cấu thành tội phạm của tội cướp tài sản, có thể khẳng định một người khi đi cướp tài sản, cho dù đã cướp được tài sản rồi hay chưa thì vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này. Nếu hành vi phạm tội còn đủ các yếu tố cấu thành tội phạm khác thì người phạm tội còn bị truy tố về tội đó nữa. 

Tội xâm phạm chỗ ở của người khác

Xâm phạm chỗ ở của người khác là xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân được Nhà nước bảo vệ. Không ai được tự ý vào chỗ ở của người khác nếu không được người đó đồng ý, trừ trường hợp được pháp luật cho phép. 

Điều 158 quy định về tội xâm phạm chỗ ở của người khác như sau:

Điều 158. Tội xâm phạm chỗ ở của người khác

1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây xâm phạm chỗ ở của người khác, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm:

a) Khám xét trái pháp luật chỗ ở của người khác;

b) Đui trái pháp luật người khác ra khỏi chỗ ở của họ;

c) Chiếm giữ chỗ ở hoặc cản trở trái pháp luật người đang ở hoặc người đang quản lý hợp pháp vào chỗ ở của họ;

d) Xâm nhập trái pháp luật chỗ ở của người khác.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

c) Phạm tội 02 lần trở lên;

d) Làm người bị xâm phạm chỗ ở tự sát;

đ) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm”.

1. Các yếu tố cấu thành tội phạm

1.1. Khách thể của tội phạm

Tội phạm xâm phạm đến quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở của người khác.

1.2. Mặt khách quan của tội phạm

Hành vi xâm phạm chỗ ở của người khác có thể bao gồm các hành vi sau:

-Khám xét trái pháp luật chỗ ở của người khác: Là hành vi của người không có thẩm quyền, nhiệm vụ nhưng vì động cơ riêng tư đã tự ý vào lục soát, khám xét khi chưa được sự cho phép của pháp luật hoặc hành vi của người có thẩm quyền.

-Đuổi trái pháp luật người khác ra khỏi chỗ ở của họ:  hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, gây sức ép về tinh thần hoặc thủ đoạn trái pháp luật khác buộc người khác phải rời khỏi chỗ ở hợp pháp mà trái với ý muốn của họ.

Chiếm giữ chỗ ở hoặc cản trở trái pháp luật người đang ở hoặc người đang quản lý hợp pháp vào chỗ ở của họ: Dùng mọi thủ đoạn trái pháp luật nhằm chiếm, giữ chỗ ở hoặc cản trở trái phép, không cho người đang ở hoặc quản lý hợp pháp chỗ ở được vào chỗ ở của họ.

– Xâm nhập trái pháp luật chỗ ở của người khác: Tự ý xâm nhập chỗ ở của người khác mà không được sự đồng ý của chủ nhà hoặc người quản lý hợp pháp.

1.3. Chủ thể của tội phạm

Chủ thể của tội phạm là bất kỳ người nào có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự.

1.4. Mặt chủ quan của tội phạm

Người phạm tội thực hiện hành vi với lỗi cố ý. 

 

Tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật

Quyền tự do đi lại là quyền quan trọng của công dân, do đó khi bắt, giữ hoặc giam người cần phải tuân thủ các quy định của pháp luật. Bài viết phân tích về các yếu tố cấu thành tội phạm và hình phạt đối với người phạm tội khi có hành vi bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật.

Tội phạm được quy định tại Điều 157 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 (gọi tắt là BLHS). Theo điều luật này thì có ba tội bao gồm tội bắt người trái pháp luật, tội bắt giữ người trái pháp luật và tội giam người trái pháp luật.

1. Các yếu tố cấu thành tội phạm

1.1.Khách thể của tội phạm

Hành vi phạm tội nêu trên xâm phạm đến quyền tự do thân thể của công dân được pháp luật bảo vệ.

1.2. Mặt khách quan của tội phạm

– Đối với tội bắt người trái pháp luật: Được thể hiện ở hành vi khống chế người khác để tạm giữ hoặc tạm giam họ;

Việc khống chế này có thể dùng vũ lực hoặc các biện pháp khác nhau như trói, còng tay… (sau đó thường là người bị hại bị dẫn về nơi nhất định để tạm giữ hoặc tạm giam);

– Đối với tội giữ (tạm giữ) người trái pháp luật: Được thể hiện ở hành vi không cho người bị bắt đi đâu vượt ra ngoài sự kiểm soát của người phạm tội (như bắt ở trong nhà, bắt ngồi tại chỗ…) trong một thời gian ngắn (thường là dưới 24 giờ).

– Đối với tội giam (tạm giam) người trái pháp luật: Được thể hiện qua hành vi nhốt người bị bắt vào một nơi trong một thời gian nhất định (như nhốt ở trong buồng, trong trại giam..).

1.3. Mặt chủ quan của tội phạm

Người phạm tội thực hiện tội phạm này với lỗi cố ý.

1.4. Chủ thể của tội phạm

Người thực hiện tội phạm là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự theo khoản 3.

2. Về hình phạt

Tội phạm được chia thành 3 khung hình phạt như sau:

  • Khung một: phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
  • Khung hai: phạt tù từ 02 năm đến 07 năm nếu thuộc một trong các trường hợp sau: có tổ chức; lợi dụng chức vụ, quyền hạn; phạm tội đối với người đang thi hành công vụ; phạm tội 02 lần trở lên; đối với 02 người trở lên; Đối với người dưới 18 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu hoặc người không có khả năng tự vệ; Làm cho người bị bắt, giữ, giam hoặc gia đình họ lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn; Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của người bị bắt, giữ, giam mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%.
  • Khung ba: Phạt tù từ 05 năm đến 12 năm nếu thuộc một trong các trường hợp sau: Làm người bị bắt, giữ, giam chết hoặc tự sát; Tra tấn, đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục nhân phẩm của người bị bắt, giữ, giam; Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của người bị bắt, giữ, giam mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên.

Ngoài ra, người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Phân biệt tội làm nhục người khác và tội vu khống

Làm nhục người khác và vu khống đều có những dấu hiệu pháp lý khá giống nhau. Làm thế nào để phân biệt hai hành vi này. Luật STC tư vấn và giải đáp cho quý bạn đọc trong bài viết dưới đây.

Tiêu chí  Tội vu khống   Tội làm nhục người khác
Giống nhau Khách thể Hành vi phạm tội nêu trên xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm của người khác.
Chủ quan Người phạm tội thực hiện tội phạm này với lỗi cố ý. Ý thức chủ quan của người phạm tội là mong muốn cho người bị hại bị hạ thấp danh dự, nhân phẩm.
Chủ thể Chủ thể của tội phạm này là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự và từ đủ 16 tuổi trở lên.
Khác nhau

Hành vi

– Được thực hiện bằng hành vi bịa đặt hoặc loan truyền những điều biết rõ là sai sự thật nhằm xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác. Cụ thể bằng các hành vi:

– Tạo ra những thông tin không đúng sự thực và loan truyền các thông tin đó mặc dù biết đó là thông tin không đúng sự thực.

– Tuy không tự đưa ra các thông tin không đúng sự thực nhưng có hành vi lan truyền thông tin sai do người khác tạo ra mặc dù biết rõ đó là những thông tin sai sự thực.

– Được thực hiện bằng hành vi xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác.

– Hành vi có thể bằng lời nói hoặc hành động với lỗi cố ý trực tiếp xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác như: lăng mạ, chửi rủa, cắt tóc, lột quần áo giữa đám đông,… nhằm mục đích hạ thấp nhân cách, danh dự, nhân phẩm của người khác mà đặc trưng của hành vi thường diễn ra trực tiếp và công khai trước nhiều người.

– Ngoài ra, để làm nhục người khác, người phạm tội có thể có những hành vi vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực như bắt trói, tra khảo, vật lộn, đấm đá hoặc dùng phương tiện nguy hiểm khống chế, đe dọa, buộc người bị hại phải làm theo ý muốn của mình với mục đích hướng đến là xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác.

Hình phạt

– Khung 1: Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm.

– Khung 2: Phạt tù từ 01 năm đến 03 năm.

– Khung 3: Phạt tù từ 03 năm đến 07 năm.

– Hình phạt bổ sung: Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

– Khung 1: Phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

– Khung 2: Phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

– Khung 3: Phạt tù từ 02 năm đến 05 năm.

– Hình phạt bổ sung: Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Cơ sở pháp lý Điều 156 Bộ luật hình sự 2015 Điều 155 Bộ luật hình sự 2015.

0988873883